Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Thứ Năm, 23 tháng 2, 2012

Tìm hiểu lớp vật lý trong HSDPA

Không giống như các đồ án khác có thể down hoặc mua trên mạng, bài này đăng dàn ý làm đồ án (sẽ sửa đổi vì đang trong quá trình làm) và link đến các bài viết chứa nội dung liên quan. Hiện có nhiều phần trong đồ án chưa có bài đăng lên blog, mình sẽ bổ xung dần dần.
Nội dung blog này chỉ là các kiến thức cơ bản, tổng quan nên đồ án này cũng không thể copy, paste và bốc ra word đem in rồi nộp cho thày được, tuy nhiên với một sự trình bày ngắn gọn, lược bỏ các công thức, biến đổi phức tạp (và sau này chắc ít người nhớ được) thì đọc đồ án này sẽ dễ hiểu và dễ tiếp cận hơn nhiều so với các đồ án khác trên mạng

Chương 1: Sự phát triển của các hệ thống thông tin di động

- Giới thiệu chung
- Hệ thống thông tin di động thế hệ I
- Hệ thống thông tin di động thế hệ II
- Hệ thống thông tin di động thế hệ III

Chương 2: Nền tảng 3G WCDMA (UMTS)

- Các tham số chính của WCDMA UMTS
- Cấu trúc WCDMA
- Các kênh cơ bản của WCDMA

Chương 3: HSDPA
- Tổng quan về HSDPA
- Những cải tiến quan trọng của HSDPA so với WCDMA

- Cấu trúc HSDPA
- Nguyên lý hoạt động của HSDPA
    - Trình bày lớp vật lý dựa trên code matlab (theo các khối trong mã nguồn mô phỏng)

    Chương 4: Lớp vật lý trong HSDPA
    - Cấu trúc lớp vật lý HSDPA
    - Trình tự hoạt động lớp vật lý HSDPA
    - Mô phỏng kênh HSDPA


    Các phần không có link trong blog thì các bạn có thể down tài liệu ở dưới

    Đồ án + Slide + nội dung thuyết trình xem ở đây: http://www.mediafire.com/download.php?enh4tbf945mmx8l

    Thứ Tư, 22 tháng 2, 2012

    Kỹ thuật ghép kênh

    Trong viễn thông, ghép kênh là quá trình ghép nhiều tín hiệu (hoặc chuỗi dữ liệu) thành một tín hiệu (hoặc chuỗi dữ liệu) để truyền đi xa nhằm tiết kiệm tài nguyên. Thiết bị thực hiện việc này gọi là bộ ghép kênh, ở đầu thu bộ tách kênh thực hiện việc tách các kênh này ra và phân đến đúng đầu nhận.
    Ví dụ: trong mỗi 125 µs, 30 mẫu thoại của 30 cuộc gọi điện thoại khác nhau được ghép theo một trật tự thành một khung và truyền đi, ở đầu nhận, các mẫu thoại sẽ tách được ra và đưa đến đúng người nghe.
    Hai dạng ghép kênh cơ bản là ghép kênh phân chia thời gian (TDM) và ghép kênh phân chia tần số (FDM). Trong thông tin quang, ghép kênh phân chia bước sóng (WDM) cũng chính là ghép kênh phân chia tần số.


    Nói chung là nếu không ghép kênh thì 30 cuộc gọi kia sẽ phải dẫn bằng 30 dây độc lập.


    Ghép kênh và giải mã

    Kỹ thuật ghép kênh chỉ được sử dụng khi băng thông của môi trường truyền cao hơn băng thông mà tín hiệu của các nguồn dữ liệu cá nhân yêu cầu. Xem xét ví dụ về một hệ thống truyền thông, trong đó có ba nguồn dữ liệu. Như trong hình 7.1 , các tín hiệu từ ba nguồn có thể được kết hợp với nhau (ghép kênh) và gửi qua một kênh truyền đơn. Ở đầu tiếp nhận, các tín hiệu được tách ra (giải mã kênh). 
    Hình 7.1: ghép kênh và giải mã kênh.
    Tại trạm truyền thì thiết bị được biết như bộ phận ghép kênh (viết tắt là MUX) là bắt buộc. Ở trạm tiếp nhận, thiết bị được biết đến như là bộ phận giải mã kênh (viết tắt là demux) là bắt buộc. Về mặt khái niệm, ghép kênh là một hoạt động rất đơn giản, tạo điều kiện sử dụng tốt nhất băng thông của kênh truyền. Các kỹ thuật ghép kênh khác nhau được mô tả trong các phần sau. Một thiết bị ghép kênh (MUX) phối hợp dữ liệu từ các nguồn khác nhau và gửi nó đi qua kênh truyền. Tại đầu tiếp nhận, thiết bị giải mã kênh (demux) chia tách dữ liệu của các nguồn khác nhau. Ghép kênh chỉ được sử dụng khi băng thông của môi trường truyền cao hơn băng thông mà tín hiệu của các nguồn dữ liệu cá nhân yêu cầu.

    Ghép kênh phân chia theo tần số
    Trong phương pháp ghép kênh theo tần số (FDM), các tín hiệu được dịch sang dải tần số khác nhau và gửi qua phương tiện truyền thông. Các kênh truyền thông được chia thành các băng tần khác nhau, và mỗi băng tần truyền tín hiệu tương ứng với một nguồn. Hãy xem xét ba nguồn dữ liệu, sản xuất thành ba tín hiệu như trong hình 7.2. Tín hiệu thứ nhất được chuyển sang dải tần số thứ nhất, tín hiệu thứ 2 được dịch sang băng tần thứ 2, và như vậy đối với tín hiệu thứ 3. Ở đầu tiếp nhận, các tín hiệu có thể được giải mã kênh bằng cách sử dụng các bộ lọc. Tín hiệu thứ nhất có thể thu được bằng cách truyền các tín hiệu ghép thông qua một bộ lọc mà chỉ băng tần số thứ nhất được thông qua.

    Hình 7.2: Ghép kênh theo tần số
    FDM được sử dụng trong truyền dẫn truyền hình cáp, nơi mà tín hiệu tương ứng với các kênh truyền hình khác nhau được ghép và gửi qua cáp. Tại máy thu của truyền hình, bằng cách áp dụng bộ lọc, các kênh đặc biệt của tín hiệu có thể được xem. Đài phát thanh và truyền hình cũng được thực hiện bằng cách sử dụng FDM, trong đó mỗi trạm phát sóng được cho một nhóm nhỏ trong dãy quang phổ tần số.  Các tần số trung tâm của băng tần này được gọi là tần số sóng mang. Hình 7.3 cho thấy nhiều kênh điện thoại có thể kết hợp sử dụng FDM.
    Hình 7.3: FDM của kênh điện thoại. 
    Mỗi kênh thoại chiếm một băng thông 3.4kHz. Tuy nhiên, mỗi kênh được chỉ định một băng thông 4kHz. Kênh thoại thứ hai được phiên dịch sang tần số nằm trong dãi băng tần từ 4 tới 8kHz. Tương tự, các kênh thoại thứ ba được phiên dịch sang dãy băng tần từ 8 đến 12 kHz và tiếp tục như vậy. Những băng thông hơi cao hơn được chỉ định(4kHz thay vì 3.4kHz) chủ yếu là bởi rất khó khăn để thiết kế các bộ lọc có độ chính xác cao. Do đó một băng thông bổ sung, được gọi là băng thông bảo vệ, chia tách hai kênh liên tiếp.
    Trong FDM, các tín hiệu từ các nguồn khác nhau được dịch sang dải tần số khác nhau ở phía bên truyền và được gửi đi qua các phương tiện truyền dẫn. Trong truyền hình cáp, FDM được sử dụng để phân phối các chương trình của các kênh khác nhau trên dải tần số khác nhau.FDM cũng được dùng trong phát sóng âm thanh, truyền hình.Hệ thống FDM được sử dụng rộng rãi trong các hệ thống truyền thông tín hiệu tương tự. Các hệ thống viễn thông được sử dụng trong các mạng điện thoại, hệ thống phát thanh truyền hình, v.v… dựa trên FDM.

    Ghép kênh phân chia theo thời gian

    Trong thời gian phân chia ghép kênh đồng bộ (TDM), các tín hiệu số hóa được kết hợp và gửi thông qua các kênh truyền thông. Hãy xem xét trường hợp của một hệ thống truyền thông thể hiện trong hình 7.4. Ba nguồn dữ liệu sản xuất dữ liệu ở mức 64kbps sử dụng điều chế mã xung (PCM). 
    Mỗi mẫu sẽ có 8 bit, và khoảng cách thời gian giữa hai mẫu kế tiếp là 125 micro giây. Công việc của thiết bị ghép kênh là lấy các mẫu 8 bit của kênh đầu tiên và 8 bit của kênh thứ hai và sau đó là 8 bit của kênh thứ ba.

    Một lần nữa, trở lại với kênh đầu tiên. Từ lúc không có mẫu nào bị mất, nhiệm vụ của thiết bị ghép kênh là hoàn thành chức năng quét tất cả các kênh và lấy giá trị mẫu 8-bit trong khoảng thời gian 125 micro giây. Dòng này kết hợp các bit và được gửi qua các phương tiện truyền thông. Thiết bị ghép kênh thực hiện quét để thu thập các dữ liệu từ mỗi nguồn dữ liệu và cũng đảm bảo rằng không có dữ liệu bị mất.
    Điều này được gọi là ghép kênh phân chia thời gian.Các đầu ra của thiết bị ghép kênh là một dòng bit liên tục, 8 bit đầu tiên tương ứng với kênh 1, 8 bit tiếp theo tương ứng với kênh 2, và tiếp tục như vậy.
    Hình 7.4: Ghép kênh phân chia theo thời gian
    Trong ghép kênh phân chia theo thời gian, dữ liệu số tương ứng với các nguồn khác nhau được kết hợp và truyền qua các phương tiện. Thiết bị ghép kênh thu thập dữ liệu từ mỗi nguồn, và các dòng bit kết hợp được gửi qua phương tiện truyền dẫn. Thiết bị giải mã chia tách các dữ liệu tương ứng với mỗi nguồn riêng biệt.
    Trong một mạng điện thoại, thiết bị chuyển mạch (hoặc trao đổi) được kết nối với nhau thông qua các đường trung chuyển. Những đường trung chuyển sử dụng TDM để ghép 32 kênh. Điều này được thể hiện trong hình 7,4. Với 32 kênh, theo quy ước, được đánh số là 0-31. Mỗi kênh cung cấp dữ liệu ở tốc độ 64kbps. Thiệt bị ghép kênh mất 8 bit trên mỗi kênh tạo ra một dòng bit với tốc độ 2048kbps (64kbps×32). Ở đầu tiếp nhận, thiết bị giải mã phân tách các dữ liệu tương ứng với mỗi kênh. Khung TDM cũng thể hiện trong Hình 7.5. Khung TDM mô tả số lượng bit trong mỗi kênh. Trong số 32 khe, 30 khe được sử dụng để mang kênh thoại và hai khe cắm (slot 0 và khe cắm 16) được sử dụng để thực hiện đồng bộ và thông tin tín hiệu.

    Hình 7.5: Phân chia kênh thoại theo thời gian
    Mặc dù TDM có vẻ rất đơn giản, nhưng phải được đảm bảo rằng các thiết bị ghép kênh không bị mất bất kỳ dữ liệu, và do đó nó phải được duy trì trong các định thời tốt nhất. Tại thiệ́t bị giải mã kênh cũng vậy, các dữ liệu tương ứng với mỗi kênh đã được tách ra dựa trên thời gian của các dòng bit. Do đó, đồng bộ hóa dữ liệu là rất quan trọng. Đồng bộ hóa giúp cho việc tách các bit tương ứng với mỗi kênh.Kỹ thuật TDM này còn được gọi là TDM đồng bộ. Trong mạng điện thoại chuyển mạch công cộng (PSTN), các thiết bị chuyển mạch được kết nối với nhau thông qua các đường trung chuyển có sử dụng TDM. Những đường trung chuyển trong đó có 30 kênh thoại ghép lại với nhau ,gọi là đường trung chuyển E1.
    Các đường trung chuyển được sử dụng trong các mạng điện thoại bằng cách sử dụng cơ chế TDM được gọi là đường trung chuyển T1 hoặc sóng mang T1. Việc ghép 24 kênh được gọi là ghép kênh cấp độ 1. Bốn sóng mang T1 như vậy được ghép để tạo thành sóng mang T2.Bảy sóng mang T2 được ghép để tạo thành sóng mang T3 và sáu sóng mang T3 được ghép kênh để tạo thành sóng mang T4. Các cấp ghép kênh, số lượng kênh thoại và tốc độ dữ liệu được đưa ra trong Bảng 7.1. Lưu ý rằng ở mỗi cấp, các bit được bổ sung thêm cho khung và đồng bộ hóa. Bảng 7.1: kỹ thuật số cấp bậc của băng thông mang T1.

    Lưu ý: Trong một băng thông mang T1, tổng số kênh thoại là 24 – có 24 khe thoại trong khung TDM. Tại châu Âu, một số hệ thống số với các cấp bậc khác nhau được chỉ định như sau.  Ở cấp thấp nhất, 30 kênh thoại được ghép và đường trung chuyển được gọi là đường trung chuyển E1.

    Ghép kênh thống kê phân chia theo thời gian

    Trong phần TDM thảo luận ở trên, mỗi nguồn dữ liệu được ước tính trong một rãnh thời gian xác định,trong rãnh thời gian đã cho, các dữ liệu tương ứng với nguồn đó sẽ được mang đi.
    Nếu nguồn dữ liệu không có dữ liệu để truyền, khe đó sẽ trống.Để tận dụng tốt nhất của các khoảng thời gian, nguồn dữ liệu có thể được chỉ định một rãnh thời gian chỉ khi khe có dữ liệu để truyền tải. Một trạm tập trung có thể gán các rãnh thời gian dựa trên nhu cầu.
    Cơ chế này được gọi là ghép kênh theo phân chia thống kê thời gian (STDM).Trong STDM, nguồn dữ liệu được chỉ định một rãnh thời gian chỉ khi nó có dữ liệu để truyền tải.
    So với TDM đồng bộ, đây là một kỹ thuật hiệu quả hơn bởi vì các rãnh thời gian không bị lãng phí.

    Ghép kênh theo bước sóng

    Wave Division Multiplexing (WDM) – phương thức ghép kênh quang theo bước sóng được sử dụng trong sợi quang học. Trong truyền thông cáp quang, tín hiệu tương ứng với một kênh được phiên dịch sang một tần số quang học (thường được biểu diễn ở bước sóng) và được truyền đi. Điều này được thể hiện bằng tần số quang học của bước sóng tương đương của nó và ký hiệu là λ (lambda). Thay vì chỉ truyền đi một tín hiệu trong cáp quang, nếu có hai (hoặc nhiều hơn) tín hiệu được gửi đi trong cùng một sợi ở các tần số khác nhau (hoặc bước sóng), nó được gọi là WDM. Năm 1994, điều này đã được chứng minh – tần số tín hiệu đã được tách rộng rãi, thường 1310 nm và 1550nm. 
    Vì vậy, chỉ cần sử dụng hai bước sóng có thể tăng gấp đôi công suất cáp quang. Như trong hình 7,6 , WDM lấy tín hiệu từ các kênh khác nhau, chuyển chúng thành các bước sóng khác nhau, và gửi chúng qua các sợi quang học.Về mặt khái niệm, nó cũng giống như FDM. 

    Hình 7.6: Phân chia sóng ghép kênh.
    Wave Division Multiplexing được sử dụng trong sợi quang học. Dữ liệu của các nguồn khác nhau được gửi thông qua các dây cáp quang bằng cách sử dụng các bước sóng khác nhau. Lợi thế của WDM là có thể phát huy tối ưu công suất của một sợi quang học. Lưu ý rằng trong WDM, cáp quang đơn mang dữ liệu của các kênh khác nhau trong các bước sóng khác nhau. Lợi thế của WDM là có thể phát huy công suất tối ưu của một sợi quang học ,tăng thêm từ 16 đến 32 lần bằng cách gửi các kênh khác nhau ở các bước sóng khác nhau. Bởi vì mỗi bước sóng tương ứng với một màu sắc khác nhau, sử dụng WDM rất hiệu quả trong việc truyền dữ liệu tương ứng với các kênh khác nhau trong các màu sắc khác nhau.

    Ghép kênh theo bước sóng với mật độ cao

    Như tên gọi của nó, ghép kênh theo bước sóng với mật độ cao (DWDM) cũng giống như WDM, ngoại trừ số lượng bước sóng hoặc bước sóng có thể cao hơn nhiều so với 32. Nhiều tín hiệu quang học được kết hợp trên cùng một sợi để tăng công suất của các cáp. 128 và 256 bước sóng có thể được sử dụng để truyền tải các kênh khác nhau ở mức khác nhau. DWDM là mở đường cho việc sử dụng băng thông cao có sẵn mà không cần lắp đặt cáp sợi bổ sung. Tốc độ truyền dữ liệu lên đến terabit / giây có thể đạt được chỉ trên một sợi cáp quang. DWDM là mở rộng của WDM – một số lượng lớn các bước sóng được sử dụng để truyền dữ liệu của các nguồn dữ liệu khác nhau. Tốc độ truyền lên đến cấp độ terabit / giây có thể đạt được bằng cách sử dụng DWDM.

    Tóm tắt

    Kỹ thuật ghép kênh khác nhau đã được thảo luận trong chương này. Trong ghép kênh phân chia tần số (FDM), các kênh khác nhau được dịch sang dải tần số khác nhau và được các phương tiện truyền đi.Trong thời gian phân chia (TDM), các dữ liệu tương ứng với các kênh khác nhau được cho các rãnh thời gian riêng biệt. DM hay DWDM tạo điều kiện truyền dẫn các bước sóng khác nhau trong cùng một sợi. Tất cả các kỹ thuật ghép kênh được sử dụng để kết hợp dữ liệu từ các nguồn khác nhau và gửi nó thông qua các phương tiện truyền dẫn. Ở đầu tiếp nhận, giải mã kênh phân tách các dữ liệu của các nguồn khác nhau

    Thứ Ba, 21 tháng 2, 2012

    ANTEN THÔNG MINH (SMART ANTENNAS)

    Các khối vô tuyến thế hệ mới không chỉ có tính năng điều khiển công suất, điều khiển sửa lỗi, thích nghi bộ mã theo tỷ số tín hiệu trên nhiễu,… như các khối thu phát vô tuyến hiện nay mà còn có khả năng cảm biến và thích nghi với đặc tính của môi trường vô tuyến, trong đó có yếu tố tần số và không gian. 

    Anten thông minh là một trong những định hướng tối ưu các khối thu phát vô tuyến thế hệ mới dựa trên yếu tố đặc tính không gian. Anten thông minh đang được nghiên cứu và sẽ ứng dụng trong các khối thu phát vô tuyến thế hệ mới 3G, WiMAX, LTE, WLAN... Bài viết này trình bày  một số đặc điểm của môi trường đô thị và biện pháp tăng hiệu quả phủ sóng sử dụng anten thông minh.

    1. Công nghệ anten thông minh
    Anten thông minh là một hệ thống gồm hai hay nhiều anten (phần tử của dãy) được bố trí phù hợp về mặt hình học và kết nối liên thông về điện để tạo ra một giản đồ phát xạ định hướng mong muốn. Đối với dãy anten điều khiển pha, pha của các dòng điện ở mỗi phần tử anten sẽ được điều khiển để thu được giản đồ phủ sóng của dãy, thường là tập trung búp sóng lớn nhất hoặc nhỏ nhất theo các hướng mong muốn. Điều khiển pha dòng điện của các phần tử trong dãy là phương thức để điều chỉnh hướng búp sóng.

    Một hệ thống anten thông minh bao gồm một dãy anten, với phần cứng vô tuyến và khối điều khiển để thay đổi giản đồ phủ sóng theo điều kiện môi trường vô tuyến nhằm tăng cường hiệu năng của một hệ thống thông tin.

    Mở rộng vùng phủ sóng
    Ở các vùng mật độ thuê bao thấp, tối ưu phủ sóng là hướng tới mục tiêu là tăng độ rộng vùng phủ và tăng khoảng cách phủ sóng. Khi sử dụng anten thông minh ở các khu vực này cho phép tăng bán kính phủ sóng của trạm nhiều lần so với anten đẳng hướng hay anten sector như mô tả trong Hình 1.

    Hình 1. Mở rộng vùng phủ sóng sử dụng anten thông minh

    Giảm nhiễu đường truyền
    Ở nơi có mật độ thuê bao cao, mục tiêu tối ưu phủ sóng là tăng dung lượng. Hai kỹ thuật chính được sử dụng để tăng dung lượng là giảm nhiễu xuyên kênh trên đường xuống và khử nhiễu ở đường lên. Trong hệ thống sử dụng anten thông minh, các búp sóng của anten hướng chính xác thuê bao, do vậy công suất phát chỉ phát đúng đến hướng cần thiết và tránh phát tín hiệu về phía nguồn can nhiễu. Nhiễu xuyên kênh kiểu đồng kênh chỉ xảy ra nếu các thuê bao này cùng nằm trong một búp sóng khá hẹp (5o đến 10o). Do đó, nhiễu đồng kênh sẽ giảm được rất nhiều so với trường hợp dùng anten đẳng hướng (3600) hay anten sector (600, 900, 1200) ở kênh đường xuống.

    Nhiễu xuyên kênh đường lên có thể loại trừ bằng cách hướng búp sóng về đúng hướng thuê bao và bằng không tại các hướng có các thuê bao đồng kênh.
    Như vậy, giảm nhiễu đồng kênh được thực hiện bằng cách lái búp sóng hoặc chuyển mạch búp sóng. Nhờ việc sử dụng các búp sóng định hướng, nhiễu giữa các trạm phủ sóng dùng cùng tập kênh tần số cũng giảm đáng kể so với trường hợp anten đẳng hướng như mô tả trong Hình 2. Trong trường hợp lý tưởng, số lượng trạm phủ sóng cần có thể giảm xuống, tăng hiệu quả sử dụng băng tần và dung lượng.


    Hình 2. Giảm nhiễu đường xuống và loại trừ nhiễu đường lên dùng anten thông minh

    Đa truy nhập phân chia theo không gian
    Hệ thống anten thông minh cũng cho phép một trạm phủ sóng có thể liên lạc với 2 hay nhiều thuê bao sử dụng cùng một tần số khi sử dụng công nghệ đa truy nhập phân chia theo không gian (SDMA – Space Division Multiple Access), do đó cho phép hệ thống sử dụng các tài nguyên mạng hiệu quả hơn.

    Hình 3. Đa truy nhập phân chia theo không gian

    2. Một số biện pháp giảm ảnh hưởng của môi trường đô thị khi triển khai mạng thông tin vô tuyến băng rộng dùng công nghệ anten thông minh

    Môi trường đô thị có đặc điểm là mật độ nhà cao, đường phố hẹp, nhiều khu nhà cao tầng. Hơn nữa kiến trúc, cấu trúc và vật liệu xây dựng phức tạp như đa dạng về hình học, dùng nhiều loại vật liệu từ bê tông, gỗ, kính, thép, vật liệu tổng hợp… Hơn nữa, mật độ thuê bao cao và có phân bố tương đối đồng đều theo các hướng. Những yếu tố trên ảnh hưởng tới kênh truyền vô tuyến cũng như hiệu quả phủ sóng của anten thông minh.

    Hiệu ứng “canyon”
    Hiệu ứng “canyon” do phản xạ sóng vô tuyến ở các đường hẹp. Sóng vô tuyến từ khối phát trên các đường hẹp sẽ phản xạ nhiều lần vào các tòa nhà hai bên đường trước khi tới khối thu. Đường phố đóng vai trò như ống dẫn sóng từ khối phát tới khối thu. Điều này làm ảnh hưởng tới độ chính xác khi xác định vị trí thuê bao, và vì vậy dẫn tới lệch định hướng búp sóng của anten thông minh. Hiệu quả của anten thông minh bị suy giảm. So với trường hợp dùng một anten, sử dụng dãy anten gồm 8 chấn tử có thể làm tăng độ tăng ích lên 4-6 dBi hoặc thấp hơn một chút. Trường hợp hoàn toàn lệch định hướng, tăng ích của dãy anten có thể thấp hơn sử dụng một anten duy nhất.



    Hình 4. Hiệu ứng “canyon” trong khu đô thị có đường hẹp, mật độ nhà cao

    Để tăng hiệu quả anten thông minh cần phải sử dụng các mô hình dự đoán và thuật toán điều khiển có tính toán đến hiệu ứng “canyon”. Ví dụ như khi phát hiện tín hiệu có thăng giáng lớn và chậm thì cần mở rộng búp sóng để tăng độ chính xác của búp sóng định hướng hoặc sử dụng anten thu phát nhiều đường (MIMO - Multiple Input, Multiple Output) thay vì dùng công nghệ định hướng búp sóng thích nghi (BF – Beamforming)

    Hiệu ứng tán xạ
    Khi anten đặt ở khu vực có nhiều nhà cao tầng và ở vị trí thấp so với một số tòa nhà xung quanh, xảy ra hiện tượng tán xạ sóng. Các tia sóng bị tán xạ ở các rìa nhọn của tòa nhà và bị biến đổi pha khi tới khối thu. Nếu tia tán xạ có tỷ trọng lớn trong tín hiệu thu được, sẽ gây ra lệch định hướng hoàn toàn và dẫn tới giảm nghiêm trọng tăng ích anten theo hướng đó.


    Hình 5. Hiệu ứng tán xạ ở rìa nhọn các nhà cao tầng

    Hiện tượng tán xạ có thể giảm bớt hoặc loại trừ bằng cách đặt anten của trạm phủ sóng ở vị trí cao hơn so với các tòa nhà xung quanh, ví dụ cần đặt anten cao hơn 8-10 m so với các tòa nhà trong vòng bán kính 300m đến 500m. Khi đặt anten ở vị trí cao cũng sẽ giảm được ảnh hưởng tia phản xạ và giảm được thăng giáng tín hiệu sâu.

    Hiệu ứng đường hầm (tunnel)
    Ở một số thành phố như Hà Nội hay các thành phố Đài Loan, Hồng Kông, các nhà trong khu thương mại thường được thiết kế hẹp và dài, liền kề với nhau. Khi thuê bao ở trong nhà, tia truyền thẳng bị suy giảm lớn do phải truyền xuyên qua nhiều lớp tường. Các tia phản xạ từ các nhà xung quanh cũng bị suy giảm do phải đi xuyên qua nhiều lớp tường tính từ lớp tường thứ nhất. Phủ sóng trong nhà ở khu vực này rất khó khăn và suy hao tín hiệu sâu trong nhà rất lớn và biên độ biến đổi tùy thuộc từng nhà. Cường độ trường trong nhà có thể thấp hơn ngoài đường từ 20-40 dBi.



    Hình 6. Hiệu ứng đường hầm và phủ sóng nhiều lớp

    Để tăng cường khả năng phủ sóng trong nhà, một phương pháp hiệu quả là dùng các trạm nhỏ (micro/pico-cell) với anten có búp sóng định hướng phù hợp với truyền sóng dọc theo “đường hầm” hình hộp. Các trạm nhỏ sẽ tạo thành lớp phủ sóng thứ hai nằm dưới các trạm lớn (macro cell) và chuyển tiếp sóng của các trạm lớn. Tuy nhiên, cần tối ưu thuật toán chuyển giao giữa hai lớp cũng như phối hợp các khối điều khiển thu phát sao cho vừa tăng cường phủ sóng lại giảm thiểu được nhiễu xuyên kênh.

    Hiệu ứng nhà cao tầng
    Các nhà cao tầng có hai đặc điểm ảnh hưởng tới phủ sóng. Thứ nhất, ở các phòng gần cửa sổ, sóng từ các trạm hướng tới đều lớn do đó cường độ trường lớn nhưng tỷ số tín hiệu trên nhiễu thấp. Thứ hai, ở các khu vực thang máy và hành lang cường độ trường thấp, đặc biệt là các tầng thấp.

    Để giảm nhiễu trong trường hợp thứ nhất, cần thuật toán phối hợp giữa các trạm phủ sóng sao cho các búp sóng định hướng không bị chồng lấn lên nhau. Điều này có thể thực hiện thông qua kênh phản hồi ở đường lên từ phía thuê bao. Ngoài ra, cần phải đặt các trạm nhỏ (inbuilding) để nâng cao chất lượng phủ sóng trong nhà. Các trạm này dùng anten đẳng hướng hoặc định hướng tùy theo yêu cầu vùng phủ. Vấn đề phối hợp các trạm nhỏ với trạm lớn đặt ra tương tự trong trường hợp hiệu ứng đường hầm.

    3. Kết luận
    Tối ưu phủ sóng đô thị dùng anten thông minh cần quan tâm tới các đặc điểm chính của địa hình đô thị. Trong nhiều trường hợp, dùng anten thông minh (BF) có hiệu quả thấp hơn anten thu phát nhiều đường (MIMO). Việc phân vùng sử dụng kiểu anten nào sẽ tùy thuộc vào yếu tố địa hình, đặc điểm chuyển động của thuê bao trong khu vực đó và yếu tố kinh tế. Để tăng hiệu quả và chất lượng phủ sóng khu vực đô thị cần phải đặt anten ở độ cao cao hơn so với địa hình xung quanh nhằm giảm ảnh hưởng tia tán xạ và phản xạ. Đối với phủ sóng trong nhà ở khu đô thị mật độ cao, cần triển khai giải pháp phủ sóng nhiều lớp để đảm bảo chất lượng tín hiệu cũng như nâng cao dung lượng. Ngoài ra, vấn đề phối hợp tối ưu môi trường vô tuyến các trạm phủ sóng dùng anten thông minh cũng là yếu tố quan trọng quyết định tới chất lượng và hiệu quả phủ sóng đô thị trong các hệ thống thông tin vô tuyến thế hệ mới.

     Vì sao Anten thông minh có thể đạt được tính “thông minh” như vậy?
    Thực ra, trong hệ thống Anten thông minh, bản thân các phần tử Anten không thông minh, mà sự thông minh được tạo ra do quá trình xử lý số tín hiệu các tín hiệu đến các phần tử Anten. Quá trình kết hợp tín hiệu và sau đó tập trung bức xạ theo một hướng đặc biệt được gọi là Beamforming.

    Biến đổi tín hiệu Analog & Digital

    Theo mạch bài viết của thày Bình môn kỹ thuật truyền dẫn số thì quá trình biến đổi tín hiệu tương tự ra tín hiệu số (trình bày về mã hóa PCM) gồm 4 quá trình:
    1. Lọc hạn băng : do tần số lấy mẫu có phổ rộng vô hạn, theo định lý lấy mẫu Nyquist - Shannon thì cần lấy mẫu tối thiểu gấp đôi tần số tín hiệu để khôi phục được ở đầu thu, nếu để phổ tần vô hạn thì biết bao nhiêu cho nó vừa. Trong thông tin di động, phổ thường hạn chế 0.3-3.4 kHz, nhưng do lọc không lý tưởng nên sẽ gây ra méo gập phổ, nên người ta lấy dư ra là 4kHz và tần số lấy mẫu là 8kHz, tuy nhiên file âm thanh thì khác, để hay (chứ không chỉ để nghe được) thì cần lấy mẫu nhiều hơn, bài viết dưới đây sẽ nói trên cơ sở thực tế của người làm về mảng âm thanh.
    2. Lấy mẫu (tín hiệu thành các xung PAM - Pulse amplitude modulation, nó là một chuỗi xung mảnh)
    3. Lượng tử hóa : vì tín hiệu số khác tín hiệu tương tự, chỉ có hữu hạn mức. Xem thêm.
      Tín hiệu sau khi lượng tử thành xung PAM số.
      Trong tín hiệu thoại thì có 2 luật lượng tử của châu Âu và của Mĩ, các bạn có thể xem thêm trong các giáo trình, blog này cố gắng trình bày ở mức dễ hiểu nhất cho người đọc nên không đi sâu và lý thuyết.
    4. Từ các mức của xung mảnh (PAM) người ta biểu diễn các giá trị thành một tổ hợp mã nhị phân.
    Các bạn cũng có thể xem thêm bài này để biết nhiều hơn về mã hóa các loại tín hiệu khác :
    http://tongquanvienthong.blogspot.com/2012/02/ma-hoa-am-thanh-tieng-noi.html

    Biến đổi tín hiệu Analog & Digital

    Tín hiệu tương tự và tín hiệu số

    Trong thực tế ta gặp rất nhiều trường hợp chuyển qua lại giữa tín hiệu tượng tự (Analog) và tín hiệu số (Digital)
    Trong phần này tôi sẽ giới thiệu quá trình chuểyn đổi giữa 2 lạo tín hiệu này dưới dạng lý thuyết đơn giản
    Phần này cũng sẽ giúp các bạn hiểu được các bit rate được tạo ra như thế nào và nó ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng tín hiệu thu được .



    Phần trên là tín hiệu Analog (có dạng sóng hình sin), là 1 miền liên tục, có rất rất nhiều giá trị (trục thẳng đứng là biên độ tín hiệu, vì là liên tục nên có vô số giá trị - các bác học vi phân trong lớp 12 chắc biết rồi chứ ạ)

    Phần dưới là tín hiệu Digital (có dạng các xung vuông) chỉ có 2 giá trị : 0 và 1

    Mức 1 không nhất thiết phải điện áp dương hoặc lớn hơn mức 0 . Điện sao cũng được, miễn là có 2 mức khác nhau.
    Ví dụ: 15V là mức 0 còn -5 là mức 1, tùy thuộc vào hệ thống. Có thể đặt mức theo khoảng điện áp, như từ 0V->3V là mức 0 ; từ 3V->6V là mức 1.Trên hình, có chỗ điện áp là 4V nhưng vẫn là mức 1. Nhiễu chỉ có thể tăng/giảm biên độ tín hiệu nhưng trong hệ thống số, tín hiệu chỉ có 2 mức nên 4V vẫn là mức 1. Rõ ràng, tín hiệu số có khả năng hạn chế nhiễu.

    Nếu tín hiệu là 3V thì sao nhỉ ? Lúc đó, nó không xử lý -> treo máy , hihihi. Nói chung, người ta luôn chọn khoảng cách giữa mức 1 và mức 0 sao cho hệ thống vẫn hoạt động tốt với mức ảnh hưởng lớn nhất của nhiễu. Nhiễu thường bé lắm ! Cỡ mili vôn thôi !

    Nhiễu nhỏ như vậy, cỡ mili vôn hoặc micrô vôn mà nghe cát-xét thì vẫn nghe tiếng xì ? Bởi vì tín hiệu đọc được bởi đầu từ thì cỡ vài mili vôn thôi! Mà nhiễu thì chỗ nào cũng ảnh hưởng, cũng xâm nhập được, tức là đầu từ cũng bị nhiễu. Do vậy, ở lúc đó, chỉ vài mili vôn nhưng ảnh hưởng rất ghê! Mới đọc từ băng lên chỉ có 10mV mà nhiễu tới 3mV rồi! Suy nghĩ 1 chút, ta thấy để đánh giá mức ảnh hưởng của nhiễu thì không thể dựa vào điện áp nhiễu. Tín hiệu 5V còn nhiễu vài 5mV thì không sao nhưng tín hiệu 200mV mà nhiễu cỡ vài mV là ghê ! Để đánh giá điều này, người ta sử dụng thông số S/N ( signal/noise ) , tức là tỷ số tín hiệu/nhiễu

    Ví dụ 1 : S/N = 5V / 5mV = 1000
    Ví dụ 2 : S/N= 200mV/ 5mV = 40
    Rõ ràng, ví dụ 1 cho chất lượng tốt hơn vì mức tín hiệu gấp 1000 lần nhiễu (nhiễu quá nhỏ), ví dụ 2 tín hiệu gấp có 40 lần nhiễu (nhiễu tương đối là lớn)

    Các bạn hay chơi Ampli, cát-xét, Equalizer chắc cũng hay nhìn thấy cái chữ “dB”, vậy nó là cái gì?
    Ngoài cách đánh giá mức tín hiệu so với nhiễu như ở trên, còn có đại lượng PSNR
    PSNR = 20lg S/N (peak signal to noise ratio )
    Ví dụ 1 : PSNR = 20log 5V/5mV  = 20log 1000 = 20x3 = 60dB
    Tại sao phải lấy log ? Vì tai người, mắt người thường không tuyến tính, tức không tăng theo hàm bậc nhất .
    Ví dụ : bạn nghe 1 âm thanh 2W và 8W thì chưa chắc gì có cảm giác lớn gấp 4 lần . Gía trị dB có thể âm vì sử dụng log mà, ví dụ lg (0/1000) = -2 . Khi đó thì nghe nhỏ hơn .Hàm lg là phép toán ngược với phép lũy thừa
    102 = 100 =>lg 100= 2

    Chắc nhiều người đang thắc mắc, vậy quá trình ghi và đọc đĩa CD nó diễn ra như thế nào ? Xin thưa là đại khái như sau :

    Trong quá trình ghi đĩa CD, luồng tín hiệu dạng số được đưa vào đầu vào của tia lazer (chuỗi các bít 1 và 0, , ví dụ như là 100110111010 ….),gặp bít 0 thì tia lazer bắn 1 lỗ vào bề mặt của đĩa, còn bít 1 thì không bắn.
    Khi đọc đĩa CD thì quá trình ngược lại, mắt thần (len) của đầu đọc đĩa sẽ phát ra tia lazer chiều vào mặt đĩa CD. Khi gặp lỗ trên mặt CD, tia lazer không bị phản xạ lại, đầu đọc hiểu đó là bít 0. Chỗ nào còn nguyên (không bị lỗ), tia lazer bị phản xạ ngược lại, mắt thần nhận được tia phản xạ đó, đầu đọc đĩa hiểu đó là bít 1.
    Rõ ràng, với hệ thống tương tự, các máy móc phải được thiết kế để phân biệt rất nhiều mức tín hiệu. Trong khi đó, với hệ thống số, máy móc chỉ cần phân biệt 2 mức. Với 2 mức là rất dễ chế tạo. Ví dụ như, công tắc=đóng hoặc mở, đèn=sáng hoặc tắt, dây điện=dẫn hoặc ngưng, tụ điện= phóng điện hoặc nạp điện
    Tóm lại, với đĩa CD thì cứ vô tư sao chép, miễn đĩa tốt thì không bao giờ xì xì do sao chép nhiều.
    Chính vì thế nên nếu sao chép các file nhạc (không có convert) từ đĩa này sang đĩa kia, từ PC sang USB…. Thì không baio giờ mất chất lượng .

    Chúng ta bắt đầu tìm hiểu cách biến 1 tín hiệu tương tự sang tín hiệu số và ngược lại .

    Lấy mẫu: (SAMPLING)

    Có 1 đóng bài hát của Tuấn Vũ, lấy ngẫu nhiên 1 bài ra nghe rồi kết luận : đại ca hát hay quá => Cái đó là gọi là lấy mẫu đấy. 



    T1, T2... là các lần lấy mẫu. T1 là lần lấy mẫu thứ nhất, T2 là lần thứ 2 ….
    t1, t2... là khoảng thời gian đẻ tiếp tục lấy mẫu tiếp theo, theo hình trên lần lấy mẫu thứ nhất T1 cách lần lấy mẫu thứ hai T2 một khoảng thời gian là t2.
    Lấy mẫu là giai đoạn đầu của quá trình chuyển tín hiệu tương tự thành tín hiệu số (tức điện áp ở micro thành điện áp số để lưu vô đĩa CD). Cứ sau 1 khoảng thời gian cố định, người ta đo mức tín hiệu tương tự - tất nhiên là thiết bị điẹn tử đ chứ có cha nào ngồi để đo được. Từ t1 đến t2, có vô số giá trị nhưng ta chỉ lấy “9V” làm giá trị đại diện. Tương tự cho các thời điểm khác. Vì sao không lấy hết các giá trị mà chỉ lấy ở thời điểm T1 ? Dễ hiểu thôi ! Vì sao không kiểm tra nguyên bao gạo mà chỉ lấy 1 nhúm ra coi rồi kết luận gạo ngon hay dở? Vì nhiều quá ! Nếu ta lấy mẫu hết thì rõ ràng ta cần nhiều đĩa để lưu trữ. Bởi vậy mà từ t1->t2, ta lấy 1 giá trị thôi !
    Số lần lấy mẫu trong 1 giây gọi là tần số lấy mẫu (Sampling rate)
    Ví dụ : Sampling rate f= 8KHz => T=1/f = 1/8000Hz = 0,125ms
    Nghĩa là : cứ 0,125 giây thì người ta lại đo lấy mẫu một lần , tương đương 1 giây lấy mẫu 8000 lần . Kinh khủng .

    Lượng tử hóa (Quantize)

    Người ta chia điện áp đo được thành các mức Một mức đại diện cho 1 khoảng giá trị.
    Ví dụ 16 mức
    0 - 1V : mức 0
    1V - 2V: mức 1
    ........
    15V - 16V : mức 15

    giả sử điện áp đo được là :
    0.5V ---> mức 0 ,
    1V ---> mức 1 ,
    1.2V ---> mức 1 ,
    3V ---> mức 3 ,
    5.4V ---> mức 5 ,

    Sau bước lượng tử hóa, miền giá trị của các điện áp đọc được là rất rộng sẽ trở thành 1 số giá-trị hữu hạn nhất định. Như ta thấy, 1V và 1.2V đều là mức 1 . Vậy ở bước này, 1 lần nữa ta lại làm sơ lược hơn tín hiệu.
    -----Số lần lấy mẫu là vô hạn --> trong 1 khoảng thời gian thì chỉ lấy 1 số mẫu nhất định
    ----- giá trị của các mẫu lấy được là vô hạn ----> chia thành các mức và 1 khoảng giá trị sẽ được đại diện bởi 1 mức
    Bước này, nói cho toán học 1 chút là " Ta rời rạc hóa tín hiệu". Đang là 1 đường liền tục thì biến thành 101010

    MÃ HOÁ

    Bước này đơn giản là ta đổi hệ 10 thành nhị phân. Sau đó, dĩ nhiên là truyền đi hoặc là lưu vô đĩa CD, đĩa cứng (nếu đang thu âm... )
    Vd: lấy ví dụ trên, giả sử dùng 4 bit để mã hoá các mức .
    0.5V ---> mức 0 (0000)
    1V ---> mức 1 (0001)
    1.2V ---> mức 1 (0001)
    3V ---> mức 3 (0011)
    5.4V ---> mức 5 (0101)
    Luồng tín hiều thu được sẽ là 00000001000100110101
    Thiết bị thu sẽ đọc lần lượt, dựa vào số bít dùng để mã hoá tín hiệu đã thống nhất từ trước, nó tách từng nhóm 4 bit trong dãy số trên ra, ví dụ 0000 nó hiểu là 0, 0001 là mức 1 …

    Số các mức gọi là độ rộng của mẫu (Resolution, ), ví dụ trên độ rộng là 16 mức => dùng 4 bit nhị phân để lưu trữ.
    Dùng 1 số nhị phân có 4 bit thì có tất cả 16 số nhị phân : 0001, 0010,....... 1111 . Bởi vì : 2 mũ 4 =16 . Muốn lưu trữ 256 số thì số bit cần dùng để mã hoá 8 (vì 2 mũ 8 = 256 )

    Tốc độ lấy mẫu = (tần số lấy mẫu) x (độ rộng mẫu) . Tiếng Anh gọi là sampling rate
    vd: 16khz x 8 bit = 16000 x 8 = 128000b/s = 128kb/s

    He he, đến đây chắc mọi người biết bit rate bài hát được hình thành và tính toán ra sao rồi chứ .

    Ở trên là quá trình tạo tín hiệu PCM. Khi bạn thu âm bằng micro vào PC, CD thì thực sự ta đang thực hiện quá trình trên. Bây giờ nhìn vào thông số như "PCM 44khz 16bits " thì chắc là bạn đã hiểu được ý nghĩa của chúng rồi chứ
    Không biết có hiểu thật không, tôi cứ giải thích lại 1 lần nữa cho chắc, đó là
    + Tần số lấy mẫu (sampling rate) = 44KHz
    + Số bít dùng để mã hoá các mức tín hiệu = 16bít
    => Tốc độ (bit rate) = 44Khz x 16 bit = 44000Hz x 16 bit = 704000b/s = 704kb/s



    Đó là quá trình biến đổi từ Analog sang Digital
    Vậy có được file dạng Digital rồi, để đọc được nó ta phải làm sao
    Qúa trình đi ngược lại so với quá trinhg trên mà thôi .

    Giải mã :



    Các bạn thấy sau khi giải mã thì ta thu được 1 đường gấp khúc trong khi đường gốc là 1 đường cong. Chuyện này dễ hiểu đúng không ?

    Các bạn có thấy hình trên đường gấp khúc nhìn rõ lắm không ?
    Cũng dễ thấy, nếu ta càng tăng tần số lấy mẫu, tăng độ rộng mẫu thì đường giải mã được sẽ càng mịn (trên hình : các đường nối giữa các lần lấy mẫu sẽ nhỏ lại, càng nhỏ ta càng thấy nó mịn hơn đúng không) và càng giống đường gốc. Điều này giải thích tại sao bitrate càng cao thì nghe càng hay, càng giống thực, vì kết quả tái tạo lại sẽ chính xác hơn.
    Một ông tên là Nyquyst đã nghiên cứu và nói là tần số lấy mẫu lớn hơn 2 lần băng thông thì kết quả thu được là gần trung thực .

    Ví dụ: tai người nghe 0Hz->20Khz,suy ra băng thông = 20khz-0hz = 20khz, vậy thì tần số lấy mẫu ít nhất phải là 2x 20khz =40khz. Thời nay, với đĩa DVD, người ta đã dùng tới 96kHz
    Dù tần số lấy mẫu có tăng lên thì rõ ràng ta cũng mất thông tin. Ta đã không lưu trữ tất cả. Cái gì mà chuyển sang Digital thì đã cắt thành từng khúc hết rồi ! Khi đó chỉ có mất đi chứ không thể thêm ra. Bởi vậy đừng dùng phần mềm convert để tăng bitrate hay tần số lấy mẫu nhé các bác. Ảnh số cũng tương tự. Khi phóng to ảnh trên máy vi tính thì quá ghê ! Càng phóng càng ghê ! Quá trình scan hình cũng như trên đó! Người ta chia tấm hình thành những ô nhỏ, gọi là pixel. Trong 1 ô như vậy chắc cú là có nhiều điểm với màu khác nhau nhưng người ta chỉ lấy 1 màu làm đại diện. Dễ thấy, nếu số pixel cao và độ sâu màu cao thì ảnh sẽ đẹp và sắc nét. Với máy ảnh số thì màn hình bao gồm những cảm biến. Mỗi cảm biến là 1 pixel, màu của 1 cảm biến là màu của 1 điểm ảnh. Cảm biến là từ chỉ thiết bị cảm nhận được sự biến đổi. Nói chung, cái nào mà biến ánh sáng, nhiệt độ,.. thành điện thì là cảm biến (sensor). Ánh sáng, nhiệt độ,.. thay đổi thì điện cũng thay đổi theo là được. Và đều được gọi là thiết bị mặc dù nó nhỏ xíu

    Tới đây, có thể mọi người thắc mắc là " Tại sao tín hiệu mất đi mà không cảm thấy như vậy" . Đó là vù nhanh quá nên mình khó nhận ra đấy!, tai người mà chứ có phải tai …. Đâu , hihihihi .

    Kết luận:

    - Bitrate, tần số lấy mẫu càng cao thì nghe càng hay
    - Convert lại để tăng bit rate :
     nếu dùng 1 file MP3 64kbs Convert lên MP3 128kbs hoàn toàn không hay thêm tí nào.
     Nếu dùng 1 file MP3 64kbs 32kHz Convert lên MP3 128kbs 44kHz hoàn toàn không hay thêm tí nào.
    - Hạn chế sự có mặt của thiết bị Analog trong quá trình xử lý/biên tập âm thanh/hình ảnh.

    Các file WMA, MP3 , AAC, đều là dạng lossy(mất thông tin). Các encoder Mp3,... sẽ cắt bớt những phần mà tai người rất ít nhận ra, ví dụ như khoảng tần số cao từ 16khz-20khz, hoặc là trong lúc có rất nhiều âm to, nhỏ thì những âm nhỏ sẽ được bỏ đi .

    Nói chuyện vui chút, các bạn chắc cũng đã mua đĩa ngoài chợ trời rồi đúng không ?Các bạn để ý 1 điều : đĩa VCD mua ở chợ thường là ca nhạc lồng thêm người mẫu ThaiLand hoặc phim đám đá hự hự. đó là do họ lồng vào bán cho chạy. Nguồn của mấy ông làm đĩa là trên mạng mà thôi ! Trên mạng thì là mp3, wma,.. đều là những dạng lossy . Sau đó, mấy ổng đó phải chuyển thành MPEG để ghi ra đĩa VCD. Mà MPEG lại là 1 dạng lossy . Hai lần lossy nên chất lượng kém là phải. Hehe, đúng nhỉ .

    Chắc đến đây các bạn đã có chút ít hiểu biết thêm về lĩnh vục điện tử số, đặc biệt là liên qua trực tiếp đến các file MP3 Tuấn Vũ – tài sản vô giá của mình . Hy vọng nó giúp ích nhiều hơn nữa trong cuộc sống số muôn màu của chúng ta.

    Thứ Hai, 20 tháng 2, 2012

    Công thức Shannon

    C=B*log2(1+S/N)
    Trong đó:
    C: capacity (bits/second)
    B: bandwidth (Hertz)
    S: signal power (Watt)
    N: noise power (Watt)
    Theo công thức C=B*log2(1+S/N) thì C phụ thuộc vào B và S/N ratio

    log2 là log cơ số 2.

    Đây là công thức rất quan trọng trong viễn thông, ý nghĩa của C là : tốc độ bit lớn nhất có thể truyền qua hệ thống với độ chính xác đã cho.
    Để tăng tốc độ kênh truyền thì người ta có thể tác động vào B như trải phổ, internet băng thông rộng, xin thêm phổ tần ... hay tác động vào S/N như phân tập, MIMO ... hay đơn giản chỉ là tăng công suất phát (tăng S) hoặc tăng cường các biện pháp lọc thật chặn, chống nhiễu giữa các kênh gần nhau (giảm N) ... Nhiều lắm
    Nói chung là dính đến dung lượng hệ thống (hiểu là tốc độ cũng được nhưng đây là tốc độ max mà hệ thống có thể cung cấp cho tất cả người dùng - tức là càng nhiều người dùng thì tốc độ riêng càng ít) thì công thức này rất hay được nhắc tới

    Định lý lấy mẫu Nyquist–Shannon

    Định lý lấy mẫu Nyquist–Shannon là một định lý được sử dụng trong lĩnh vực lý thuyết thông tin, đặc biệt là trong viễn thông và xử lý tín hiệu do Harry Nyquist và Claude Shannon phát minh. Lấy mẫu là quá trình chuyển đổi một tín hiệu (ví dụ, là một hàm liên tục theo không thời gian) thành một chuỗi số (một hàm rời rạc theo không thời gian). Định lý lấy mẫu được phát biểu như sau:
    Một hàm số tín hiệu x(t) không chứa bất kỳ thành phần tần số nào lớn hơn hoặc bằng một giá trị fm có thể biểu diễn chính xác bằng tập các giá trị của nó với chu kỳ lấy mẫu T = 1/(2fm).
    Như vậy, tần số lấy mẫu phải thoả mãn điều kiện fs ≥ 2fm. Tần số giới hạn fs/2 này được gọi là tần số Nyquist và khoảng (-fs/2 ; fs/2) gọi là khoảng Nyquist. Thực tế, tín hiệu trước khi lấy mẫu sẽ bị giới hạn bằng một bộ lọc để tần số tín hiệu nằm trong khoảng Nyquist.
    Định lý này thường được gọi là định lý lấy mẫu Nyquist, nhưng kể từ khi nó được phát hiện một cách độc lập bởi E.T. Whittaker, bởi Vladimir Kotelnikov, và bởi những người khác, thì nó còn được gọi là Nyquist-Shannon-Kotelnikov, Whittaker-Shannon-Kotelnikov, Whittaker-Nyquist-KotelnikovShannon, WKS, hay định lý cơ bản của lý thuyết nội suy. Nhưng nó thường được gọi đơn giản là định lý lấy mẫu.
    Về bản chất, định lý cho thấy một tín hiệu tương tự (analog) có tần số giới hạn đã được lấy mẫu có thể được tái tạo hoàn toàn từ một chuỗi vô số các mẫu nếu tỷ lệ lấy mẫu lớn hơn 2fm mẫu trong 1 giây, fm là các tần số lớn nhất của tín hiệu ban đầu. Shannon cho rằng nếu tín hiệu có chứa một thành phần có tần số chính xác bằng fm Hz, thì các mẫu sẽ cách nhau đúng 1/(2fm) giây sẽ không thể khôi phục hoàn toàn chính xác tín hiệu. Điều kiện đủ này có thể không chính xác như trong phần thảo luận tại lấy mẫu tín hiệu non-baseband dưới đây.
    Các phát biểu của định lý gần đây đôi khi cẩn thận loại trừ giá trị bằng, có nghĩa là điều kiện nếu x(t) không có tần số nào cao hơn hoặc bằng fm; điều này là tương tự phát biểu của Shannon trừ khi hàm số bao gồm một dạng sóng sin ổn định có chứa thành phần tại tần số chính xác fm.

    Nguồn http://vi.wikipedia.org

    Định lý này thấy chủ yếu để xét tần số lấy mẫu cho tín hiệu, tín hiệu analog biết được tần số cao nhất là bao nhiêu thì người ta lấy tần số lấy mẫu > gấp đôi để chuyển sang tín hiệu số

    Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

    Hệ thống không dây (SISO, SIMO, MISO, MIMO)

    Các hệ thống thông tin không dây có thể được phân loại thành 4 hệ thống cơ bản là SISO, SIMO, MISO và MIMO




    Hệ thống SISO
    Hệ thống SISO là hệ thống thông tin không dây truyền thống chỉ sử dụng một anten phát và một anten  thu. Máy phát và máy thu chỉ có một bộ cao tần và một bộ điều chế/giải điều chế. Hệ thống SISO thường được dùng trong phát thanh và phát hình, và các kỹ thuật truyền dẫn vô tuyến cá nhân như Wifi hay Bluetooth. Dung lượng hệ thống phụ thuộc vào tỷ số tín hiệu trên nhiễu được xác định bởi công thức Shanon

        C=log2 (1+SNR) bit/s/Hz 


    Hệ thống SIMO
    Nhằm cải thiện chất lượng hệ thống, một phía sử dụng một anten, phía còn lại sử dụng đa anten. Hệ thống sử dụng một anten phát và nhiều anten thu được gọi là hệ thống SIMO. Trong hệ thống này máy thu có thể lựa chọn hoặc kết hợp tín hiệu từ các anten thu nhằm tối đa tỷ số tín hiệu trên nhiễu thông qua các giải thuật beamforming hoặc MMRC (Maximal-Ratio Receive Combining). Khi máy thu biết thông tin kênh truyền, dung lượng hệ thống tăng theo hàm logarit của số anten thu, có thể xấp xỉ theo biểu thức sau

        C=log2 (1+N.SNR) bit/s/Hz


    Hệ thống MISO
    Hệ thống sử dụng nhiều anten phát và một anten thu được gọi là hệ thống MISO. Hệ thống này có thể cung cấp phân tập phát thông qua kỹ thuật Alamouti từ đó cải thiện chất lượng tín  hiệu hoặc sử dụng Beamforming để tăng hiệu suất phát và vùng bao phủ. Khi máy phát biết được thông tin kênh truyền, dung lượng hệ thống tăng theo hàm Log của số anten phát và có thể được xác định gần đúng theo biểu thức sau

        C=log2 (1+N.SNR) bit/s/Hz


    Hệ thống MIMO
    Hệ thống MIMO là hệ thống sử dụng đa anten tại cả nơi phát và nơi thu. Hệ thống có thể cung cấp phân tập phát nhờ vào đa anten phát, cung cấp phân tập thu nhờ vào đa anten thu nhằm tăng chất lượng hệ thống hoặc thực hiện Beamforming tại nơi phát và nơi thu để tăng hiệu suất sử dụng công suất, triệt can nhiễu. Ngoài ra dung lượng hệ thống có thể được cải thiện đáng kể nhờ vào độ lợi ghép kênh cung cấp bởi kỹ mã hoá thuật không gian-thời gian như V-BLAST. Khi thông tin kênh truyền được biết tại cả nơi phát và thu, hệ thống có thể cung cấp độ phân tập cực đại và độ lợi ghép kênh cực đại, dung lượng hệ thống trong trường hợp đạt được phân tập cực đại có thể xác định theo biểu thức sau

        C= log2 (1+NT.NR.SNR) bit/s/Hz

    Dung lượng hệ thống trong trường hợp đạt được độ lợi ghép kênh cực đại có thể xác định theo biểu thức sau

        C=min(NT,NR).log2(1+SNR) bit/s/Hz

    Chú thích: log2 (X)  là log cơ số 2 của X.

    Reference
    Ta-Sung Lee, Department of Communication Engineering National Chiao Tung University, bài giảng “MIMO Techniques for Wireless Communications”, 2006



    Nhìn trên cũng có thể thấy luôn vì sao mimo anten thường là 2x2 4x4 đơn giản vì :

    C=min(NT,NR).log2(1+SNR) bit/s/Hz

    dù 2x4 2x8 thì khi chọn min (2,4) =2 (giá trị nhỏ nhất trong 2 số) ; min(2,8) =2 , tác dụng không hơn gì 2x2, nên để tối ưu nhất thì để 2 bên bằng nhau.

    Hệ thống truyền dẫn số

    Sau khái niệm hệ thống thông tin số
    thì thày Bình dạy tiếp bài Hệ thống truyền dẫn số

    Định nghĩa : Đây là một hệ thống mà chỉ truyền tín hiệu, tập hợp các tín hiệu môi trường truyền nhằm truyền tín hiệu số từ nơi này đến nơi khác.

    Sơ đồ khối :
    Từ đầu ra format phát đến đầu vào format thu.

    Chỉ tiêu kỹ thuật cơ bản :
    - Tính nhanh chóng : C [b/s], Rmax ~ W
    còn thường so sánh các hệ thống khác nhau theo BL (b/s - km).
    Cáp đồng trục ~ 100 Mbps.km
    viba  ~ vài trăm Mbps.km
    Sợi quang ~ 100.000 Gbps.km
    - Tính chính xác :
    về mức BER
    về thời gian : jitter nhớ không nhầm là độ trôi thời gian (nếu không trôi thì đã không cần hệ thống đồng bộ).

    Dịch vụ             BER               jitter
    voice              <= 10^-6          không ngặt  ( <= tức là nhỏ hơn hoặc bằng, học lập trình c thì biết)
    telex               <= 10^-3          không ngặt
    video              <= 10^-6          rất ngặt nghèo
    data                <= 10^-9 - 10^-11    rất ngặt nghèo

    Theo mình thì cái quan trọng nhất trong bài này lại là mấy dẫn chứng về tốc độ và tỉ lệ lỗi, jitter.
    tốc độ cho biết khả năng truyền của các kênh truyền khác nhau còn bảng cuối thì cho chúng ta biết rằng không có kênh truyền nào không lỗi.
    Trước đây mình, và chắc là cũng nhiều người nghĩ rằng kênh truyền thì truyền tin đến đích, nghiễm nhiên nghĩ rằng tin đó không bao giờ có lỗi thế mà lúc giảng viễn thông các thày giảng về lỗi đầy ra, nếu 10^-3 thế kia thì truyền tin 100kb (10^5 byte - 8.10^5 bit) thì trung bình lỗi 8.100 bit à, thế thì truyền file tí ti cũng lỗi à. Về sau thì mình hiểu là với kênh truyền dạng text (ký tự) thì việc 100 ký tự sai 1 cũng không ảnh hưởng mấy, như sai lỗi chính tả thôi, với kênh truyền data (internet hiện nay) thì yêu cầu lớn hơn rất nhiều, cũng có thể là lớn hơn cả cái 10^-11 kia (với yêu cầu hiện nay). Ngoài ra nếu ai đã từng cắm máy down phim, down soft thì cũng hiểu là thỉnh thoảng file bị lỗi cũng là chuyện bình thường, nên file cỡ vài gb người ta hay cắt file, check md5, chèn repair 5% cho file rar (tự khôi phục lỗi) hoặc down bằng torrent (cắt file ra nhiều phần,auto check và tự động download phần lỗi lại).
    Trên thực tế theo thày Trần Xuân Nam (dạy mình mạng không dây và mạng viễn thông) thì tỉ lệ lỗi trong truyền không dây là 10^-2 đến 10^-4 (thế này mà down file,lướt web thì chết), tuy nhiên nên nhớ là các gói tin còn có chèn thông tin kiểm tra lỗi, tự động truyền lại và nhiều giải pháp khác để đẩy mức BER về mức cho phép, việc dùng torrent như là 1 kiểu check thêm lần nữa và đẩy mức lỗi đến mức mười mũ trừ mấy chục hoặc mấy trăm.
    Lưu ý là dù check lỗi nhưng tỉ lệ check không bao giờ là 100%, trước tớ từng đọc được 1 bài viết về 2 file dos hiển thị 2 nội dung khác nhau nhưng mã kiểm tra md5 lại so trùng nhau. Nói chung là dù can thiệp thế nào, kênh truyền cũng không bao giờ là hoàn hảo, check lại nhiều lần với các kiểu check khác nhau hay giải pháp phức tạp hơn thì sẽ đẩy tỉ lệ lỗi đến siêu nhỏ nhưng tốn tài nguyên, trễ ... Người ta cần cân đối và đặt ra 1 ngưỡng, kênh truyền thỏa mãn thì cho vào sử dụng.

    Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

    Để có một cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc

    Chúng ta hay được xem trên báo chí về nhiều câu truyện, nhiều cuộc đời khác nhau, có cái thật, có cái bịa (hư cấu)  về kết thúc có hậu, có nhiều trường phái thể loại khác nhau :
    - Theo cách chính thống của gia đình, ông bà mong muốn thì con cái phải học giỏi, chăm ngoan, vâng lời gia đình và thày cô, lớn lên có một sự nghiệp ổn định, cưới vợ, không bị vô sinh để có người nối nghiệp tổ tông (ưu tiên đẻ con trai) ...
    - Theo cách của các bạn trẻ thì đối với các bạn nào năng động thì muốn một cuộc sống nhiều thử thách, nhiều niềm vui, chinh phục nhiều đỉnh cao... nói chung là sôi động và nổi trội ; còn với các bạn từ tốn hơn thì muốn sự ổn định, an toàn, có thời gian để thực hiện những sở thích, giấc mơ riêng ...
    - Đối với học sinh thì thích học giỏi này, được các bạn khác ngưỡng mộ này, còn với các bạn không thích học lắm thì thích đi tắt đón đầu, muốn trở thành ông nọ, bà kia luôn, chạy theo mốt, sắm đồ hi tech để sành điệu này ...

    Mấy cái này xưa rồi, với cả là lối viết của dân bên khoa học xã hội, là dân kỹ thuật, khoa học thì mình sẽ giải thích theo cách khác.
    Tình hình là ở nhà làm đồ án nên rỗi (không thể lúc nào cũng cắm đầu vào học được), có con nook color (máy đọc sách) mà để lâu không để ý nó cạn pin rồi sạc nó đếch lên nữa thì buồn nên có down 1 số sách, tài liệu về nhận thức, tâm lý về đọc và tìm thấy 1 cái mà có thể giải thích rất nhiều sự việc mà trước đến giờ mình vẫn thắc mắc. Với kiến thức vừa mới đọc ở mức vỡ lòng và cũng chưa có nhiều thời gian để suy ngẫm nên có thể sai, sau này level cao hơn thì sẽ bổ xung, sửa đổi sau. Sai thì thôi, không chịu trách nhiệm.


    Theo như văn phong của những cuốn sách best-seller, giật tít quảng cáo hay của các diễn giả thì cần 1 câu mở đầu thật hay để bắt đầu nội dung, bắt chước phát :
    Để đạt được hạnh phúc, nhiều người nghĩ cần gia đình hạnh phúc, nhiều người muốn được thể hiện, nhiều người muốn nhiều tiền, sai hết đó đều là những nhận thức không đầy đủ, cần nhiều hơn thế để hạnh phúc thực sự, không thái quá cái nào, tuy nhiên có phân cấp ưu tiên cho từng nhu cầu, đọc đi nhé :

    Tháp nhu cầu của Maslow

    Tháp nhu cầu của Maslow (tiếng Anh: Maslow's hierarchy of needs) được nhà tâm lý học Abraham Maslow đưa ra vào năm 1943 trong bài viết A Theory of Human Motivation và là một trong những lý thuyết quan trọng nhất của quản trị kinh doanh; đặc biệt là các ứng dụng cụ thể trong quản trị nhân sự và quản trị marketing.

    Căn bản của lý thuyết

    Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs)
    Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ... Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày.
    Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao. Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân v.v.
    Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này. Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống... họ sẽ không quan tâm đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng...

    Chi tiết nội dung tháp nhu cầu

    Tháp nhu cầu
    Cấu trúc của Tháp nhu cầu có 5 tầng, trong đó, những nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp.
    Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn. Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thoả mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ.
    5 tầng trong Tháp nhu cầu của Maslow:
    • Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý" (physiological) - thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi.
    • Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo.
    • Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc (love/belonging) - muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy.
    • Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) - cần có cảm giác được tôn trọng, kinh mến, được tin tưởng.
    • Tẩng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization) - muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt.

    Mở rộng tháp

    Sau Maslow, có nhiều người đã phát triển thêm tháp này như thêm các tầng khác nhau, thí dụ:
    • Tầng Cognitive: Nhu cầu về nhận thức, hiểu biết: - Học để hiểu biết, góp phần vào kiến thức chung.
    • Tầng Aesthetic: Nhu cầu về thẩm mỹ - có sự yên bình, ham muốn hiểu biết về những gì thuộc nội tại.
    • Tầng Self-transcendence: Nhu cầu về tự tôn bản ngã - một trạng thái siêu vị kỷ hướng đến trực giác siêu nhiên, lòng vị tha, hòa hợp bác ái.
    Tuy nhiên, mô hình căn bản được chấp nhận rộng rãi vẫn chỉ có 5 tầng như ở trên.



    Trước đây mình luôn không hiểu vì sao cuộc sống lại khắc nghiệt đến vậy, con người lại đấu đá lẫn nhau,sao bố mẹ luôn quá đòi hỏi, sao mình dù có thành superman đi chăng nữa vẫn có quá nhiều vấn đề trong cuộc sống mà mình luôn cảm thấy đuối, trong xã hội sao có người xấu, một số lại còn bệnh hoạn, suy nghĩ lệch lạc, cán bộ quan liêu, vì sao người ta dạy trẻ "Việt Nam rừng vàng biển bạc" thì trẻ lại không muốn phấn đấu ... (chắc do xem phim và đọc manga nhiều nên có suy nghĩ ở mức - lo thân chưa xong mà cứ nghĩ trên giời dưới biển), ngày xưa thì suy nghĩ lung tung lắm nên thuộc loại người viển vông, nhưng lớn lên cũng đỡ hơn rồi he he, giờ khá thực tế là đằng khác.
    Theo suy nghĩ cá nhân thì con người luôn tìm cách để đạt được các nhu cầu trên, mình chỉ xét đến 5 tầng cho đơn giản và thấy đủ để giải thích những băn khoăn của bản thân rồi. Con người thỏa mãn được các nhu cầu trên thì sẽ có được sự phát triển đầy đủ tâm trí, thể chất và có cuộc sống tốt đẹp.
    Con người đấu tranh vì đồng tiền và xã hội ngày nay thì cuộc cạnh tranh đó rất khốc liệt vì nhu cầu này ở tầng thứ nhất, cần thiết nhất. Nếu không đủ giỏi hoặc giỏi nhưng vẫn muốn hơn nữa để thỏa mãn nhu cầu thứ nhất tốt hơn và nhiều tiền cũng có nghĩa làm việc gì cũng dễ dàng hơn, trước các biến động (lạm phát, tăng giá, thuốc men, nhà cửa, con cái ... ) thì có thể vung tiền ra xoay sở (nhu cầu an toàn), khi việc này trở thành một hệ thống thì nó càng "an toàn" hơn, chạy trọt làm sếp ngoài tiền còn để được kính trọng hơn (có thể người dưới thì không nhưng ông sếp thì nghĩ thế) và có thể xử bất cứ thằng nào phía dưới (cảm thấy mình là người quan trọng)...
    Trò chơi điện tử một phần là để giải trí (nhu cầu tầng thứ nhất) thư giãn, cũng có thể để giao lưu, và dễ dàng để trở thành người quan trọng (dễ hơn rất nhiều so với đời sống thực), thử tưởng tượng một trò chơi như kim cương mà bỏ đi điểm số, bỏ đi việc qua bài, chỉ có hiệu ứng để giải trí giết thời gian thì để bỏ thời gian chơi tương đương người cày bao nhiêu triệu điểm liệu còn được bao nhiêu người nữa (trừ thừa thời gian quá không biết làm gì thôi)
    Một lý giải hợp lý cho 1 trường hợp trở thành tội phạm :
    Chắc bạn còn nhớ một thời báo chí đăng tin ầm ĩ về trường hợp sinh viên Cho Seung-Hui ở trường US Virginia Tech (Mỹ) đã bắn chết 32 sinh viên vào ngày 16 tháng 4 năm 2007. Cái gì đã xô đẩy một sinh viên có học làm chuyện điên rồ mất hết nhân tính như vậy? Có giả thuyết cho rằng hắn làm việc đó đơn giản là vì nhu cầu được nhìn nhận và trở nên quan trọng của hắn quá bức bách. Trong cuộc sống yếm thế ở nhà và ở trường, hắn cảm thấy mình chẳng có “kilôgram” nào đối với những người chung quanh. Nhu cầu này ngày một lớn lên đẩy hắn đến chỗ bất chấp tiếng nói của nhân tính mà xả súng giết người hàng loạt và cuối cùng cướp đi mạng sống của chính mình. Có lẽ trong tâm trí của Cho Seung-Hui lúc ấy chỉ có một điều: thà chết với tội ác ngàn năm không rửa được còn hơn sống mà không được ai biết tới. Xem thêm
    Quyển sách mà mình trích dẫn trên cũng là một kiểu phân loại nhu cầu tâm lý và có nhiều điểm tương đồng với tháp nhu cầu này. Trong đó có cả lý do vì sao ở Việt Nam lại hay có kiểu học sinh giỏi không dám giơ tay, thể hiện kiến thức, khả năng trước lớp (vì bị các bạn coi khinh, lườm nguýt - nhu cầu 3 và 4, hay bị đánh hội đồng vì nhìn ngứa mắt - nhu cầu 2: cần được an toàn).
    Khi chúng ta dạy "rừng vàng biển bạc" hay được gia đình lo cho từng ly từng tí, trong đầu học sinh sẽ nghĩ nhu cầu 1 đáp ứng được rồi , không cần làm cũng không lo chết đói (nhu cầu 2), và nhảy lên các tầng nhu cầu cao hơn với một suy nghĩ chưa chín chắn thì nó thành thế này : ăn chơi sành điệu (Nhu cầu 5), yêu sớm (Nhu cầu 3 và để cả không thua kém bạn bè - nhu cầu 5), phá phách (để được chú ý) ...
    Và cũng có thể đây là lý do khi teen hiện giờ đời sống cao, gia đình đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu bậc thấp và lại thiếu kiến thức, thiếu kiên nhẫn để giải quyết các nhu cầu bậc cao nên dư luận hiện nay mới tốn giấy mực báo chí đến vậy.

    Thậm chí người lớn cũng mắc sai lầm đầy ra : xem thêm (nhu cầu vật chất, cũng có thể là muốn thể hiện, được thừa nhận khả năng), hàng ngày đọc tin dantri, vietnamnet, vnexpress thì sẽ thấy cả đống.

    Và đương nhiên chẳng ai muốn đi đường vòng, muốn càng nhanh càng tốt, nhưng đường thẳng lại lắm cạm bẫy (đường vòng biết bao nhiêu đường, đặt bẫy bao nhiêu cho nó vừa ^^), kẻ gian, trục lợi trong xã hội cũng đánh vào tâm lý ham tiền, hám của lạ (nhu cầu 1), đầu tư cái này đảm bảo trúng (nhu cầu 2), bỏ vợ theo gái (nhu cầu 3 - ở đây là trường hợp xét về việc đáp ứng nhu cầu tình cảm tinh thần), vung tiền thác loạn, thể hiện bản lĩnh (nhu cầu 4) hay sếp bị nhân viên nịnh nọt lừa phỉnh (nhu cầu 5- sếp là nhất, kiến thức tài năng sếp thật siêu việt ...), vân vân và vân vân. Và các kiểu này đều có chung 1 điểm : mỳ ăn liền

    Nói chung thì mấy cái mặt xấu nói ra không phải để bàn chuyện xã hội (vấn đề này là của cơ quan chuyên ngành nào đó), ở đây chỉ để giải thích theo quan điểm cá nhân là dù xấu dù tốt, con người đều chỉ làm theo những cách khác nhau để thỏa mãn nhu cầu tâm lý bản thân và dẫn đến những kết quả khác nhau (đây là nhu cầu chính đáng).

    Viết bài này tớ cũng chỉ muốn chia sẻ với độc giả, không có 1 con đường cụ thể vì mỗi người 1 tính, 1 hoàn cảnh nhưng mình cần phấn đấu để thỏa mãn các nhu cầu trên theo cách nó trong sáng 1 chút. Với những bạn không có điều kiện thì càng phải phấn đấu hơn rồi, và nên chú ý kiếm tiền nuôi sống bản thân, gia đình đầu tiên, hơn là đua đòi đú đởn trước, tuy nhiên nếu ăn mặc rách rưới, đi xe vớ vẩn mà gặp đối tác làm ăn hay là bộ mặt công ty mà thế thì chết, gặp bạn bè cũng cần phải thế nào đó tránh cảm thấy mình thấp kém, tự ti. Theo mình thì phải thỏa mãn tất cả nhưng cần phải biết cái nào cần hơn cái nào. Với các bạn gia đình trung bình hoặc có điều kiện thì cũng cần phấn đấu hơn là để bọn xung quanh nó khinh, kém cỏi thì ngay người trong gia đình anh chị em họ hàng cũng nhiều người chán, còn nếu gia đình yêu cần quá thể đáng thì phấn đấu ở mức tự lo được cho bản thân và có tích lũy, sau này bố mẹ về hưu rồi thì đừng hòng áp đặt được (thoát khỏi cảnh ngửa tay xin tiền càng nhanh càng tốt).Và nhớ là đừng nóng vội, đừng tìm giải pháp không làm mà vẫn muốn ăn hay dễ dàng đến mức phi lí, chỉ dựa vào vận may, vì tỉ lệ không thành công và bị lừa rất cao.

    Tín hiệu số và đặc điểm so với tín hiệu tương tự

    -- Trong kỹ thuật điện, tín hiệu là quan hệ giữa thời gian (hoặc cũng có thể là không gian, hoặc cả hai nhưng ít gặp) với một đặc trưng điện nào đó (điện áp, dòng điện, điện tích, mật độ dòng điện, ...). Lấy thí dụ, chúng ta thường gặp các tín hiệu như điện áp giữa hai cực của một mạng v(t) [volt] với t là thời gian - đây là trường hợp tín hiệu là hàm của thời gian (thường gặp). Chúng ta cũng có thể gặp phân bố điện tích của một vật tích tĩnh điện q(x,y,z) [coulomb] với x, y, z là tọa độ Descartes - đây là trường hợp tín hiệu là hàm của không gian (ít gặp hơn).

    -- Định nghĩa bản tin và thông tin thì mang tính triết học quá, nhưng có thể hiểu đơn giản: bản tin là tập hợp các thông tin có quan hệ chặt chẽ để tạo nên một ý nghĩa tương đối hoàn chỉnh. Thí dụ, bạn có một số điện thoại +84915****** thì từng chữ số một là thông tin, nhưng bản tin phải là toàn bộ chuỗi ký hiệu này.

    1) Tín hiệu liên tục theo biên độ và liên tục theo thời gian

    Đây là dạng tín hiệu thường gặp, thí dụ như tín hiệu từ một cảm biến.

    2) Tín hiệu liên tục theo biên độ và rời rạc theo thời gian

    Thí dụ như tín hiệu xung PAM.

    3) Tín hiệu rời rạc theo biên độ và liên tục theo thời gian

    Trong thí dụ này, tín hiệu chỉ nhận các giá trị {-2, -1, 0, 1, 2, 3}. Bạn có thể thấy các tín hiệu thuộc loại này trong điều chế băng gốc (base band modulation). Thí dụ như tín hiệu nhị phân (2 mức) trong NRZ, trong đó tín hiệu chỉ nhận hai giá trị {-1, 1}; hay tam phân (3 mức) trong RZ, HDB3, ..., trong đó tín hiệu chỉ nhận ba giá trị {-1, 0, 1}. Tổng quát lên là các tín hiệu M-phân (M mức).

    4) Tín hiệu rời rạc theo biên độ và rời rạc theo thời gian

    Thí dụ như tín hiệu PCM.

    -- Tiêu chí phân loại tín hiệu tương tự - số: thì (1) và (2) là tín hiệu tương tự; còn (3) và (4) là tín hiệu số.

    -- Tiêu chí phân loại tín hiệu liên tục - rời rạc: ở đây hiểu ngầm rằng liên tục theo thời gian và rời rạc theo thời gian, do vậy (1) và (3) là tín hiệu liên tục; còn (2) và (4) là tín hiệu rời rạc.

    -- Về so sánh xử lý tương tự và xử lý số, chắc có lẽ chỉ nói sơ sơ được thôi. Đặc trưng của xử lý số là thao tác trên linh kiện có chức năng nhớ, cụ thể là trên thanh ghi (register); dẫn đến cho phép thời gian xử lý có thể kéo rất dài, quá trình xử lý có thể rất phức tạp, chức năng xử lý rất phong phú nhưng bù lại là hệ thống có thể không có tính chất thời gian thực (real time - đáp ứng của hệ thống có rất nhanh, khi có tín hiệu ngõ vào thì gần như có liền tín hiệu ngõ ra). Trong khi đó, xử lý tương tự lại không có linh kiện nhớ (chỉ có thể làm delay trong thời gian ngắn) dẫn đến quá trình xử lý phải thật nhanh, đơn giản và do đó chức năng xử lý cũng đơn giản hơn so với xử lý số nhưng bù lại hệ thống có tính chất real time.

    -- Thiết kế vi mạch có thể chia thành 2 mảng: thiết kế vi mạch tương tự (các vi mạch tương tự phổ biến như opamp, ADC/DAC, ổn áp) và thiết kế vi mạch số (vi xử lý chẳng hạn).

    -- Công nghệ 22 nm (90 nm, 65 nm, 45 nm, 32 nm, ...): theo tôi hiểu chỉ là tên gọi của một công nghệ, con số 22 nm (và các con số khác) không có ý nghĩa rõ ràng và không ám chỉ một kích thước vật lý cụ thể nào. Tuy nhiên, nó có thể gợi ý về kích thước của một chi tiết nhỏ nhất (xấp xỉ) của transistor mà công nghệ này có thể thực hiện, đó thường là bề rộng của cực cổng (gate) của một transistor CMOS. Đây là quảng đường mà dòng điện phải chảy qua trong một transistor và do đó quyết định đến tốc độ đóng-ngắt của transistor; và ngoài ra nó cũng ảnh hưởng đến diện tích của một transistor. Con số này càng nhỏ thì tốc độ và mật độ tích hợp càng lớn. Mặc dù vậy, nó không phải là độ phân giải của công nghệ vì quá trình quang khắc sử dụng bước sóng ánh sáng 193 nm vốn lớn hơn 22 nm nhiều và người chế tạo phải sử dụng những "mẹo" đặc biệt để tạo được chi tiết 22 nm; dẫn đến là chúng ta có thể tạo được chi tiết 22 nm nhưng lại không thể tạo được chi tiết có kích thước y hệt vậy kế bên cạnh, tức là 22 nm không phải là độ phân giải.


    Ở trên trình bày mang tính chất điện tử nhiều, dưới đây trình bày mang tính chất viễn thông hơn.
    Đặc điểm của thông tin số (theo vở thày Bình) :
    + Tín hiệu số khỏe hơn tín hiệu tương tự đối với tạp nhiễu
    • Do t/h số được thu theo ngưỡng và có khả năng tái sinh -> không tích lũy tạp âm (tín hiệu số thu theo ngưỡng/mức, khi truyền thì nó sẽ bị nhiễu, tuy nhiên nếu ngưỡng tín hiệu vẫn ở gần ngưỡng ban đầu mà không nhầm sang ngưỡng khác thì ở cuối đầu thu có thể khôi phục lại).
    • Có thể mã hóa chống nhiễu, có thể chịu được tạp âm đến mức gây lỗi (cái này phải nghiên cứu các loại mã hóa mới rõ được).
    + Hệ thống thông tin số truyền được mọi loại thông tin số -> cho phép hình thành mạng số đa dịch vụ (ISDN - Integrated Services Digital Network) -> tính kinh tế nhờ quy mô (economy of scale)
    + Tín hiệu số phù hợp với máy tính do đó cho phép OA&M tự động (Operation, Administration, and Maintenance)
    - Phổ chiếm của tín hiệu rộng hơn phổ chiếm của tín hiệu tương tự cùng loại

    Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

     
    Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes