Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tổng đài - chuyển mạch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tổng đài - chuyển mạch. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

Trung kế (trunk)

Trung là trung gian, kế là nối tiếp. Trung kế là một nối tiếp trung gian, hay một kết nối trung gian.

Nghe trừu tượng nhỉ.

Trung kế theo thuật ngữ viễn thông là một link kết nối giữa hai tổng đài. Cái này cần quan tâm, nói chung thì trung kế là một cái đường để kết nối giữa các tổng đài và truyền dữ liệu trên đó.

Ví dụ 2 đài đấu nhau bằng 1 luồng E1 sử dụng báo hiệu số 7
+ Luồng E1 có tốc độ 2Mbps, chia thành 32 kênh 64Kbps
+ Kênh 0 dùng cho đồng bộ
+ 1 kênh nào đó - thường là kênh 1 - được dùng cho báo hiệu SS7
+ 30 kênh còn lại từ 2 đến 31 dùng cho thoại.
Vậy là 1 luồng E1 có thể truyền cùng lúc 30 cuộc điện thoại

Tổng đài bây giờ thì số cuộc điện thoại truyền qua trung kế thì chắc tính bằng đơn vị triệu cuộc điện thoại trở lên hoặc thậm chí lưu lượng thoại chả đáng là bao, không đáng để nhắc đến khi tính lưu lượng trung kế ấy chứ.

Thứ Năm, 15 tháng 3, 2012

Lịch sử phát triển của kỹ thuật chuyển mạch

  • Năm 1876 Alecxand Graham Bell đã sáng chế ra máy điện thoại. Sáng chế này mở ra kỷ nguyên phát triển mạnh mẽ của ngành viễn thông nói chung của kỹ thuật chuyển mạch nói riêng.
  • Năm 1877 máy điện thoại tại nhà riêng đầu tiên được đưa vào sử dụng.
  • Năm 1878 tổng đài nhân công được đưa vào sử dụng tại New Haven (Mỹ).ví dụ như P193M; P194M;P198M…
  • Năm 1881 Cuộc gọi điện thoại đường dài đầu tiên được thực hiện.
  • Năm 1889 Hai anh em nhà Strowger sáng chế ra Tổng đài tự động kiểu nhảy nấc. (Như YATC-49; XY; A52C…). Hệ thống EMD do công ty Siemens của Đức chế tạo cũng thuộc loại này.
  • Do đại chiến thế giới lần II bùng nổ sự cố gắng tạo ra các tổng đài kiểu mới bị tạm thời đình chỉ. Sau chiến tranh hãng Ericsson của Thuỵ Điển đã chế tạo ra các tổng đài tự động kiểu ngang dọc. Các loại tổng đài thuộc loại này như: ATZ65; ATCK100/2000…
  • Năm 1960 thử nghiệm trường chuyển mạch điện tử đầu tiên.
  • Năm 1963 Sáng chế máy điện thoại ấn phím và Tổng đài chuẩn điện tử.
  • Năm 1965 Tổng đài điện tử SPC (Stored Program Control) thương mại có dung lượng lớn ESS số 1 được thương mại hoá thành công ở Mỹ do vậy đã mở ra một kỷ nguyên mới cho các hệ tổng đài điện tử.
  • Năm 1970 Tổng đài điện tử số đầu tiên E10A (Pháp).
  • Năm 1976 Tổng đài điện tử số hoàn toàn đầu tiên DMS100 (Ca-na-đa).
  • Năm 1977 sáng chế Internet, cáp sợi quang và Thông tin di động.
  • Năm 1988 sáng chế ATM (Asynchronous Transfer Mode); B-ISDN (Broadband   Integrated Service Digital Network) mở đầu cho NGN (Next Generation Netwok).
  • Năm 1996 chuyển mạch IP (Internet Protocol).
  • Năm 1997  chuyển mạch mềm (Softswitch).
  • Năm 2001 các hãng bắt đầu ứng dụng VoIP.
  • Năm 2002 Bắt đầu ứng dụng các dịch vụ NGN.
  • Ngày nay IMS (IP Mutimedia Subsystem) đang được nghiên cứu ứng dụng
Nguồn : lấy từ slide môn chuyển mạch dạy trên lớp

Thứ Tư, 14 tháng 3, 2012

Chuyển mạch bản tin

Là chuyển mạch mà thông tin được đóng gói (đây có thể coi là chuyển mạch gói sơ khai) thành thành một gói tin (ngoài thông tin cần mang còn kèm theo địa chỉ nguồn, địa chỉ đích, check lỗi ... có thể đặt thông tin đó ở đầu, cuối hay giữa gói tin nhưng người ta thường gọi là header của gói tin). Gói tin đó được gửi qua các nút mạng, theo một cách nào đó để đến đích (có nhiều thuật toán và giải pháp tìm đường lắm).
Đơn giản là vậy, nhưng thực tế thì mình chưa thấy mạng nào dùng chuyển mạch này, trong sách chuyển mạch cũng nói là không có mạng chuyên dụng chuyển mạch bản tin.
Nguyên nhân là bản tin gửi đi thông tin có thể rất nhỏ (ví dụ 1 file text), có thể rất lớn (một file phim bluray vài chục gb chẳng hạn) và sẽ nảy sinh ra một loạt các vấn đề :
  • Bộ nhớ đệm các nút rất có khả năng là không đủ dung lượng.
  • Thời gian truyền tải bản tin giữa các nút có thể rất lớn, nếu giả sử nhiều máy giả sử kết nối từ A đến B buộc phải đi qua nút C mà trong lúc đó đang truyền tải file cực lớn của 1 máy từ A thì các máy khác đợi xong file đó rồi mới đến lượt mình (Nếu thời gian truyền file đó chỉ cỡ 1 tiếng thôi thì cũng đã sốt ruột lắm rồi). Nói chung là dễ gây tắc nghẽn
  • Lỗi 1 phát thì truyền lại từ đầu.
  • Nếu dữ liệu dạng stream ví dụ phát sóng trực tiếp truyền hình, chắc phải hết chương trình người ta mới đóng gói lại thành 1 file để gửi đi.
  • ....
Và người ta đã nghĩ ra là chia nhỏ gói tin đấy ra để truyền và giải quyết được tất cả các vấn đề ở trên:
  • Gói tin nhỏ nên không cần bộ đệm lớn quá
  • Các gói tin từ nhiều nguồn có thể xen kẽ, như trường hợp ở trên cùng đi qua nút C nhưng không nhất thiết phải chờ máy 1 truyền hết file rồi mới đến lượt mình mà chỉ cần hết gói tin là các máy khác có thể đến lượt rồi, tốc độ truyền được chia sẻ, công bằng hơn.
  • Lỗi thì truyền lại gói lỗi thôi
  • Dữ liệu dạng stream thì ví dụ 1 mili giây ghi vào 1 gói tin rồi truyền ngay, không cần đợi lâu.
  • ....
Xem thêm http://tongquanvienthong.blogspot.com/2012/03/ky-thuat-chuyen-mach.html

Thứ Hai, 12 tháng 3, 2012

Chuyển mạch gói

Nối chuyển gói, hay đơn giản hơn chuyển gói, (Anh ngữ: packet switching), có nơi còn gọi là nối chuyển khung hay chuyển khung, là một loại kĩ thuật gửi dữ liệu từ máy tính nguồn tới nơi nhận (máy tính đích) qua mạng dùng một loại giao thức thoả mãn 3 điều kiện sau:
  • Dữ liệu cần vận chuyển được chia nhỏ ra thành các gói (hay khung) có kích thước (size) và định dạng (format) xác định.
  • Mỗi gói như vậy sẽ được chuyển riêng rẽ và có thể đến nơi nhận bằng các đường truyền (route) khác nhau. Như vậy, chúng có thể dịch chuyển trong cùng thời điểm.
  • Khi toàn bộ các gói dữ liệu đã đến nơi nhận thì chúng sẽ được hợp lại thành dữ liệu ban đầu.
Mỗi gói dữ liệu có kích thước được định nghĩa từ trước (đối với giao thức TCP/IP thì kích thước tối đa của nó là 1500 bytes) và thường bao gồm 3 phần:
  • Phần tải dữ liệu (data hay payload): là một trong những đoạn dữ liệu gốc đã được cắt nhỏ.
  • Phần đuôi (trailer): bao gồm tín hiệu kết thúc gói và thông tin sửa lỗi dữ liệu (data correction).
Kĩ thuật này rất hiệu quả để vận chuyển dữ liệu trong các mạng phức tạp bao gồm rất nhiều hệ thống máy tính nối với nhau.

Các đặc điểm
  1. Không cần phải hoàn tất một mạch liên tục nối từ máy gửi đến máy nhận (xem thêm về kĩ thuật chuyển mạch kênh được dùng trong các đường dây điện thoại). Thay vào đó là các đường truyền dữ liệu giữa các bộ chuyển mạch (switcher) sẽ được thiết lập một cách tạm thời từng cặp một để làm trung gian vận chuyển (hay trung chuyển) các gói từ máy nguồn cho đến khi tới được địa chỉ máy nhận.
  2. Các đoạn mạch nối trung chuyển cũng không cần phải thiết lập từ trước mà chỉ cho đến khi có gói cần vận chuyển thì mới thành hình.
  3. Trong trường hợp tắt nghẽn hay sự cố, các gói dữ liệu có thể trung chuyển bằng con đường thông qua các máy tính trung gian khác.
  4. Dữ liệu vận chuyển bằng các gói sẽ tiết kiệm thời gian hơn là việc gửi trọn vẹn một dữ liệu cỡ lớn vì trong trường hợp dữ liệu thất lạc (hay hư hại) thì máy nguồn chỉ việc gửi lại đúng gói đã bị mất (hay bị hư) thay vì phải gửi lại toàn bộ dữ liệu gốc.
  5. Trong mạng phức tạp thì việc vận chuyển sẽ không cần (và cũng không thể) biết trước được các gói dữ liệu sẽ được chuyển theo ngõ nào.
  6. Kỹ thuật này cho phép nối gần như với số lượng bất kì các máy tính. Thực tế, nó chỉ bị giới hạn bởi khả năng cho phép của giao thức cũng như khả năng nối vào mạng của các bộ chuyển mạch với các máy.
  7. Vì có thể được gửi đi qua các đường trung chuyển khác nhau nên thời gian vận chuyển của mỗi gói từ máy nguồn đến máy đích có thể hoàn toàn khác nhau. Và thứ tự các gói đến được máy đích cũng có thể không theo thứ tự như khi gửi đi. 
Nguồn http://vi.wikipedia.org

Theo mình thì có thể xem chuyển mạch bản tin là tiền thân của chuyển mạch gói. Chuyển mạch gói tùy theo cách thức gửi gói tin mà người ta phân làm 2 loại là :
  • Hướng kết nối (Connection-oriented) : đường đi được định tuyến trước sẽ gửi qua những nút mạng nào trước khi gửi các gói tin, các gói tin truyền do đó sẽ đúng thứ tự khi về đích, trễ ít hơn nhưng tận dụng hiệu năng mạng kém hơn.
  • Phi kết nối (Connectionless) : truyền lung tung, tùy theo mạng chỗ nào dùng nhiều dùng ít mà lựa đường mà đi, tuy nhiên các gói đi quãng đường dài ngắn khác nhau, trễ giữa các nút (đi nhiều hay ít nút mạng khác nhau) khác nhau mà sẽ đến đích không đúng thứ tự, phải đợi và sắp xếp lại, nói chung thì sẽ trễ nhiều hơn.
Theo cách thức cắt gói tin :
  • Nếu cắt gói tin đều nhau thì gọi là chuyển mạch tế bào
  • Cắt không đều thì vẫn là chuyển mạch gói thôi
Nhìn chung thì chuyển mạch kênh trễ là thấp nhất, phù hợp với dữ liệu thời gian thực nhất nhưng chuyển mạch gói tận dụng được hiệu năng mạng, nút mạng lỗi có thể tìm được đường khác, uyển chuyển, truyền được dung lượng lớn chứ không bị bó buộc tốc độ chỉ 1 đường, cộng thêm công nghệ ngày càng tiến bộ giảm trễ, chuyển mạch gói đang dần thay thế chuyển mạch kênh.

Chuyển mạch kênh

Chuyển mạch kênh, hay ngắn gọn hơn chuyển mạch, là một kỹ thuật nối-chuyển truyền thống được dùng rộng rãi để kiến tạo các mạng điện thoại. Kỹ thuật này hoàn tất một đường liên lạc thông tin cố định từ nguồn đến đích. Kế đến, thông tin (thường là dạng tín hiệu âm thanh) sẽ được chuyển trong đường nối. Sau khi hoàn tất, hay khi có lệnh huỷ bỏ thì đường nối này sẽ bị cắt.
Các nút trong mạng kiểu này còn được gọi là trung tâm nối-chuyển hay trung tâm chuyển mạch (switching center).

Phương thức hoạt động cơ bản


Kỹ thuật nối-chuyển mạch
  • Mạng chuyển mạch có thể bao gồm nhiều nút (hay trạm nối dây). Mỗi nút và mỗi đầu cuối đều được địa chỉ hoá.
  • Nguồn gửi thông tin sẽ yêu cầu nối mạng tới một địa chỉ đích.
  • Các nút mạng sẽ tự động tìm ra các nút trung gian để nối thành một mạch dẫn từ nguồn tới đích một cách liên tục theo thuật toán đã định sẵn (quá trình này sẽ lâu hơn nếu hai máy nguồn và máy đích cách nhau qua nhiều nút trung gian hơn). Trường hợp một trong các nút trung gian không thể hoàn tất việc nối mạch thì tín hiệu bận (busy) có thể được chuyển về từ nút đó.
    Trong thực tế, mỗi nút đều có sẵn một bảng ghi nhận các địa chỉ và các nút tương ứng gọi là bảng chuyển tiếp (forwarding table). Bảng này được cập nhật mỗi khi có thêm nút mới hay địa chỉ mới. Do đó, các nút chỉ việc yêu cầu nối dây với đường ra thích hợp dựa vào bảng này mỗi khi có lệnh thiết lập đường nối từ ngõ vào tới một địa chỉ bất kì.
  • Nếu máy đích chấp thuận, và việc nối mạch với máy đích hoàn tất thì tín hiệu thông mạch (hay tính hiệu chấp thuận) sẽ được trả về. Ngược lại tín hiệu hết thời lượng (timeout) sẽ được gửi về máy chủ.
  • Máy chủ bắt đầu trao đổi thông tin hay huỷ bỏ việc trao đổi. Các nút mạng cũng sẽ tự huỷ bỏ đường nối, giải phóng các nút cho các yêu cầu nối-chuyển khác.

Đặc điểm

  • Độ tin cậy rất cao: một khi đường nối đã hoàn tất thì sự thất thoát tín hiệu gần như không đáng kể.
  • Băng thông cố định. Đối với kiểu nối này thì vận tốc chuyển thông tin là một hằng số và chỉ phụ thuộc vào đặc tính vật lý cũng như các thông số cài đặt của các thiết bị.
  • Có thể dùng kỹ thuật này vào những nơi cần vận tốc chuyển dữ liệu cao hoặc nơi nào cần truy nhập dữ liệu với thời gian thực (realtime data access).
  • Tuy nhiên, các vận chuyển này sẽ lấy nhiều tài nguyên và chúng được cấp cho một đường nối dây cho tới khi dùng xong hay có lệnh huỷ. Nói cách khác, các đường nối dữ liệu nếu trong thời gian mở đường nối mà gặp phải các nút đều đang bận dùng cho đường nối truớc đó thì buộc phải đợi cho tới khi các nút này được giải phóng.

Thí dụ

Các thí dụ điển hình của việc dùng kỹ thuật chuyển mạch là:
  • PSTN
  • CSPDN
  • Một số kiểu ISDN

Lược sử của kỹ thuật nối-chuyển mạch

Trong những ngày đầu, thì con người (hay đúng hơn các operator) ở các trạm giao thông điện đàm đóng vai nối các mạch điện thoại viễn thông với nhau bằng cách "hỏi" người muốn nối dây và "nghe" địa chỉ điện thoại người nhận, tìm kiếm và cắm và nối các đầu dây này trên các bảng chuyển mạch (switch board) nhằm tạo ra một đường dây điện thoại nối từ đầu gọi đến đầu nhận. Nếu như phải qua nhiều trạm trung gian thì việc nối-chuyển sẽ mất nhiều thì giờ và dể gây sai lạc.
Trang thiết bị chuyển mạch tự động đã được phát minh vào thế kỉ 19 bởi Almon B. Strowger.

Các kiểu kiến trúc của thiết bị chuyển mạch

Crossbar


Mạng phân bố với 8 ngõ vào
Còn có các tên gọi là bộ chuyển mạch thanh chéo, bộ chuyển mạch điểm chéo (crosspoint switch) hay mạng phân bố. Đây là bộ chuyển mạch có n đường vào và n đường ra (như vậy nó có n^2 điểm chéo). Với một mạng phân bố như vậy thì các ngõ vào đều có thể nối đồng thời với một ngõ ra riêng biệt nếu hai ngõ vào bất kì không đòi hỏi cùng một ngõ ra xác định.
Một điểm yếu của kiểu thiết kế này là số điểm chéo sẽ tăng nhanh theo số đầu vào. Nếu không kể các điểm tự nối mạch (trên đường chéo của hình) thì cần ít nhất đến n(n-1)/2 điểm chéo. Điều này không thực tế cho việc chế tạo các mạch tích hợp trong trường hợp có quá nhiều ngõ vào và ngõ ra (ứng với con chíp có số chân vào và chân ra cũng nhiều như vậy!).
Do đó, các thiết bị kiểu này chỉ hợp để dùng trong các văn phòng nhỏ.

Space division

Hay còn gọi là bộ chuyển mạch phân khoảng. Đây là một kết hợp của nhiều bộ chuyển mạch điểm chéo để hình thành một thiết bị nối-chuyển có nhiều tầng.
Về tổng quát thiết bị này cũng có N ngõ vào và N ngõ ra, và nó bao gồm nhiều bộ chuyển mạch điểm chéo. Mỗi chuyển mạch điểm chéo có n ngõ vào và m ngõ ra hoặc N/n ngõ vào và N/n ngõ ra. Với cách thiết kế này thì số lượng điểm chéo cần thiết sẽ ít hơn. Tuy nhiên, nó cũng có chỗ yếu là có thể xảy ra tình trạng tắt nghẽn.

Time division

Còn gọi là bộ chuyển mạch phân thời. Khác với các thiết kế trên, n ngõ vào được đọc quét theo một dãy thứ tự và xếp thành một khung với n chỗ trống bằng cách dùng kĩ thuật đa hợp (multiplexer). Mỗi chỗ trống có k bit. Bộ phận quan trọng nhất của bộ chuyển mạch này là bộ hoán đổi khe thời gian có nhiệm vụ nhận vào các khung và chuyển thành các khung ra đã được xếp lại thứ tự. Sau cùng chúng được gửi tới các ngõ ra theo thứ tự mới đó bằng kỹ thuật phân đa kênh (demultiplexer).

Chủ Nhật, 11 tháng 3, 2012

Kỹ thuật chuyển mạch

Định nghĩa chuyển mạch

Là một quá trình thực hiện đấu nối và chuyển thông tin cho người sử dụng qua hạ tầng mạng viễn thông. Nói cách khác CM trong mạng viễn thông bao gồm chức năng định tuyến cho thông tin và chức năng chuyển tiếp thông tin.
Như vậy theo khía cạnh thông thường nó gắn liền với lớp mạng (lớp 3) và lớp liên kết dữ liệu (lớp 2) trong mô hình OSI (Open System Interconnection).

Quá trình chuyển mạch được thực hiện ở các nút mạng, trong mạng chuyển mạch kênh các nút mạng thường gọi là các HTCM (Tổng đài), trong mạng chuyển mạch gói thường gọi là Thiết bị định tuyến (Bộ định tuyến).
Trong một số mạng đặc biệt phần tử thực hiện nhiệm vụ chuyển mạch có thể vừa đóng vai trò TBĐC (thiết bị đầu cuối) vừa đóng vai trò CM và chuyển tiếp thông tin.
Tại sao phải chuyển mạch ?
Nếu chỉ có 2 thiết bị kết nối với nhau thì chúng ta không cần chuyển mạch, điều này có thể thấy trong "điện thoại đồ chơi" (chỉ có 2 thiết bị nối với nhau bằng 1 dây dẫn) hay theo kiểu nguyên thủy thì dùng "điện thoại ống bơ" (thiết bị đầu cuối là các ống bơ hoặc tương đương, nối nhau bằng dây chỉ ^^). Đấy là với các trường hợp nối nhau chỉ có một đường kết nối và 2 thuê bao mà không có chung đụng gì.

Trong môi trường làm việc thực tế, nếu không muốn dùng chuyển mạch thì có được không ?
Cũng được luôn, ta có thể thấy được cách thức làm qua các ví dụ sau :

a, Đấu trực tiếp các thuê bao

Nếu ta gọi số điểm cần liên lạc trong mạng là: N.
Thì số thuê bao tại 01 điểm là: (N-1).
Số thuê bao trong toàn mạng là: Nx (N-1).
Số đôi dây thuê bao trong mạng là: Nx(N-1)/2.

Mới chỉ có 4 điểm mà số lượng thuê bao và dây nối đã thế kia rồi, nếu là 100 điểm liên lạc thì con số đã là rất lớn, với thuê bao hàng triệu người thì chẳng ai chịu được để trong nhà hàng triệu điện thoại cùng đống dây tương đương, chưa kể chi phí mua nữa.
Nếu là mạng vô tuyến, máy nào cũng dò, bắt tần số hàng triệu kênh thì chắc phải dùng pin năng lượng nguyên tử cho điện thoại, he he.

b, Đấu qua các chuyển mạch đơn lẻ
Ở đây đã có sự xuất hiện của chuyển mạch
Vẫn là một đống dây nối, nhưng là nối đến chuyển mạch, khi có tín hiệu đi đến thì chuông sẽ rung, trong hình nhìn không hiểu là người ta làm thế nào để chuông luôn thường trực báo các thuê bao gọi đến, chắc ngầm hiểu là cái bảng mạch treo chuông có thể tự xử lý, nhận biết dây nào có tín hiệu để người dùng kết nối.

Nếu ta gọi số điểm cần liên lạc trong mạng là: N.
Thì số thuê bao tại 01 điểm là: 01.
Số thuê bao trong toàn mạng là: N.
Số đôi dây thuê bao trong mạng là: Nx(N-1)/2

Kết quả là số thiết bị giảm đi rất nhiều, chỉ cần 1 thiết bị ở 1 điểm liên lạc.

 c, Tổng đài chuyển mạch
Và tổng đài chuyển mạch ra đời để giảm cả số lượng đôi dây tín hiệu lẫn thiết bị đầu cuối, người ta cần đến tổng đài.

Nếu ta gọi số điểm cần liên lạc trong mạng là: N.
Thì số thuê bao tại 01 điểm là: 01.
Số thuê bao trong toàn mạng là: N.
Số đôi dây thuê bao trong mạng là: N.


d, Đấu theo các cấu hình mạng cơ bản
Một tổng đài cũng chỉ phục vụ được một số lượng thuê bao nhất định thôi, để phục vụ nhiều hơn, ở nhiều nơi hơn thì người ta phải dùng nhiều tổng đài và các tổng đài liên kết thành một mạng, ở trong slide thày chuyển mạch thì giới thiệu 2 loại cấu hình là mesh (mắt lưới) và hình sao, xem thêm
http://tongquanvienthong.blogspot.com/2012/03/topo-mang-cau-truc-hinh-hoc-khong-gian.html


e, Phân cấp mạng
Khi một mạng có quy mô nhỏ thì nó có thể không phân cấp được cấu hình theo mạng hình sao. Nhưng khi mạng này lớn lên thì việc sử dụng mạng mắt lưới (không phân cấp) là rất phức tạp và không hiệu quả về mặt kinh tế. Do đó, việc phân cấp mạng được áp dụng cho các mạng có kích thước lớn để đảm bảo thuận tiện cho khai thác và quản lý mạng.
Mạng quốc gia có từ 3 đến 5 cấp tổng đài trước khi đến cấp quốc tế


Phân loại
Có 2 loại mạng chuyển mạch cơ bản: Mạng CM kênh và Mạng CM gói.
Tuy nhiên dưới góc độ truyền và xử lý thông tin, CM còn có thể phân thành 4 kiểu: CM kênh; CM bản tin; CM gói và CM tế bào (xem trong chuyển mạch gói) trong đó chuyển mạch bản tin, gói và tế bào đều thuộc loại chuyển mạch gói nếu phân làm 2 loại cơ bản
Nguồn : trích slide môn chuyển mạch trên lớp

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes