Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2012

Truy nhập gói đường lên tốc độ cao HSUPA

1. GIỚI THIỆU

Ngay sau khi giải pháp HSDPA được giới thiệu vào cuối năm 2005, và được các công ty cung cấp giải pháp mạng truyền thông hàng đầu lựa chọn cho các thiết bị mạng của mình thì số lượng các thuê bao UMTS trên toàn thế giới không ngừng gia tăng mạnh mẽ. Các thuê bao thế hệ mới có thể sử dụng card dữ liệu tích hợp trong thiết bị notebook để truy nhập dữ liệu khi đang di chuyển, hoặc có thể sử dụng điện thoại di dộng của mình để truy nhập vào những ứng dụng mới, như xem truyền hình di dộng hoặc tải các file âm thanh hình ảnh… Hệ thống UMTS cung cấp các dịch vụ dữ liệu chất lượng cao, tốc độ dữ liệu đạt được khoảng 384 kbit/s. Tuy nhiên người sử dụng trong nhiều trường hợp vẫn yêu cầu chất lượng truyền tải dữ liệu cao hơn. Chẳng hạn một thương gia khi di chuyển do nhu cầu mở rộng thị trường của mình và họ cần phải đính kèm rất nhiều file tài liệu vào e-mail rồi gửi chúng tới máy tính xách tay, hay trường hợp một người dùng bình thường khác yêu cầu được thực hiện truyền thông trực tiếp với nhau (person-to-person), gửi các video clip và bài hát cho nhau, tải lên các tệp âm thanh lên trang web nhật ký điện tử (Blogs)… Để đáp ứng được những yêu cầu của khách hàng, các nhà cung cấp dịch vụ mạng truyền thông phải:

- Cải thiện năng lực hệ thống tải lên
- Tăng thông lượng đường lên của người dùng
- Giảm trễ

Vì những lý do nêu trên, giải pháp truy nhập gói dữ liệu tốc độ cao ở đường lên HSUPA (High Speed Uplink Packet Access) được phát triển ngay sau khi giải pháp truy nhập gói dữ liệu tốc độ cao ở đường xuống HSDPA ( High Speed Downlink Packet Access) ra đời nhằm tăng cường kỹ thuật cho hệ thống UMTS trong truyền tải dữ liệu.

HSDPA đã được giới thiệu trong ấn bản R.5 của 3GPP và bước đầu được phát triển trong mạng di dộng 3G toàn cầu. HSDPA tăng tốc độ tải dữ liệu đường xuống tới 14 Mbit/s (về mặt lý thuyết) và gia tăng đáng kể dung lượng của mạng di dộng.

HSUPA là bước phát triển mới cho các mạng UMTS. Giải pháp công nghệ này còn có tên là E-DCH (Enhanced Uplink DCH) được giới thiệu trong ấn bản R.6 của 3GPP. Mục tiêu của HSUPA là tăng tốc độ truyền dẫn gói dữ liệu ở đường lên tới 5,76 Mbps. Hơn nữa HSUPA cũng sẽ gia tăng dung lượng đường xuống và giảm trễ. Một sự kết hợp giữa HSDPA và HSUPA sẽ giúp tối ưu hóa quá trình truyền tải gói dữ liệu trên cả hai đường: lên và xuống.

2. TỔNG QUAN VỀ HSUPA

HSUPA khi vận hành cùng với HSDPA sẽ tạo ra sự thay đổi quan trọng trong toàn bộ hệ thống truyền thông di động. HSUPA hỗ trợ ngay cả khi người dùng di chuyển ở vận tốc cao (xấp xỉ 120 km/h). Tuy nhiên, cũng như các hệ thống khác, hệ thống ứng dụng giải pháp HSUPA có thể hỗ trợ ở mức thấp hơn mức tính toán về mặt lý thuyết. Nếu so sánh với hệ thống ứng dụng kỹ thuật theo ấn bản Rel’99 thì hệ thống 3GPP có những ưu điểm vượt trội hơn hẳn như sau:

- Tăng dung lượng hệ thống lên 70 %
- Giảm trễ truyền dẫn gói tại điểm cuối người dùng xuống 55 %

- Tăng thông lượng người dùng lên 50 %

Tổng quát, giải pháp HSUPA gồm các khái niệm chính sau đây:

2.1 SẮP XẾP ĐƯỜNG LÊN (UPLINK SCHEDULING)

Cơ chế sắp xếp đường lên là đặc điểm quan trọng của HSUPA. Thiết bị sắp xếp đường lên được đặt tại Node B gần với giao diện vô tuyến (giống với giải pháp HSDPA, thiết bị sắp xếp đường xuống cũng được đặt tại Node B).

Thiết bị sắp xếp đường lên có chức năng điều khiển các tài nguyên đường lên được các thiết bị người dùng UE sử dụng trong cell. Do đó, nó cho phép cấp phát tối đa tỷ lệ công suất nguồn phát tới mỗi UE, thực tế giới hạn kích thước khối vận tải giúp UE có thể lựa chọn tốc độ dữ liệu đường lên.

Cơ chế sắp xếp dựa trên nguyên lý cấp phát tương đối và tuyệt đối (absolute and relative grants). Cấp phát tuyệt đối (absolute grant) được sử dụng để khởi tạo quá trình xử lý sắp xếp và cung cấp các tốc độ truyền dẫn tuyệt đối tới các thiết bị người dùng UE, ngược lại nguyên lý cấp phát tương đối (relative  grant) được sử dụng nhằm tăng / giảm công suất phát cho phép.

     Cần chú ý rằng mỗi UE đều có các lệnh sắp xếp từ các tuyến liên kết vô tuyến khác nhau, là do HSUPA sử dụng một mật độ lớn các đường lên khác nhau.

2.2 SẮP XẾP NHANH TẠI NODE B

Node B có chức năng điều khiển tốc độ truyền dẫn và quá trình chỉ định UE (sắp xếp). Qúa trình sắp xếp được thực hiện tại Node B nhằm giảm nhiễu cho mức được yêu cầu (Tín hiệu gửi tới nguồn gây nhiễu – Signal to Noise Power). Tín hiệu mức L1 của Node B giới hạn tỷ lệ cực đại của nhiễu (Bù công suất kênh DPCCH). Tại thời điểm trễ điều khiển ngắn hơn trễ tại Bộ điều khiển mạng vô tuyến RNC, quá trình điều khiển thích ứng được thực hiện tương đương với quá trình thăng giáng tỷ lệ nhiễu. Khi một quá trình gia tăng tạp âm ở vùng biên (Noise Raise Margin) có giá trị thấp hơn được thiết lập, dung lượng của đường lên Uplink sẽ được gia tăng.

Thiết bị người dùng UE gửi tín hiệu điều khiển yêu cầu tốc độ (Rate Request) cho đường lên Uplink tới Node B. Node B gửi trở lại tín hiệu cấp phát tốc độ  Rate Grant) L1 cho UE. Tín hiệu mức 1 (L1) được gửi đi từ UE chính là yêu cầu tăng tốc độ dựa trên kích thước của bộ đệm. UE gửi tín hiệu yêu cầu tốc độ (Rate Request) mức 2 (L2) chứa thông tin về kích thước bộ đệm của luồng dữ liệu ưu tiên cao nhất. Tín hiệu điều khiển gửi xuống từ Node B chính là tín hiệu cấp phát tuyệt đối (absolute grant – AG) và cấp phát tương đối (Relative Grant – RG). AG là giá trị tuyệt đối của công suất bù cho phép được sử dụng. Lúc này Node B điều khiển một cell phục vụ có thể gửi tín hiệu AG. Không có bất kỳ tín hiệu AG nào được truyền đi từ Node B đang điều khiển các cell ở trạng thái không phục vụ (Non-serving cells). Tín hiệu RG được sử dụng nhằm điều khiển quá trình thăng giáng công suất bù và tín hiệu này được gửi đi từ tất cả các cell trong nhóm cell lân cận HSUPA.


Hình 1. Quá trình sắp xếp tại Node B

2.3 HARQ

Giao thức yêu cầu lặp tự động hỗn hợp HARQ là dạng giao thức tái truyền dẫn, được ứng dụng để cải thiện tính chất chống chịu các lỗi tương thích liên kết. Node B có thể yêu cầu tái truyền dẫn các gói dữ liệu đã nhận bị lỗi, đồng thời gửi cho mỗi gói một báo nhận (ACK) hoặc hồi âm báo nhận các gói dữ liệu không nguyên vẹn (NACK) tới UE. Hơn nữa, Node B có thể thực hiện phối hợp mềm (soft combine), chẳng hạn phối hợp các quá trình tái truyền dẫn với quá trình truyền dẫn gốc trong bộ thu dữ liệu. Trong đó Node B thực hiện gửi lặp các gói giống nhau, ngoài ra Node B còn thực hiện mã hóa bằng cách gửi đi các bit chẵn lẻ (parity bits).

Giao thức HARQ trong HSUPA thuộc dạng giao thức Dừng lại và đợi (Stop and Wait) giữa Node B và UE. Điều này làm giảm thời gian trễ tái truyền dẫn xuống mức thấp nhất so với RLC tại RNC trong các hệ thống Rel’99. Kết quả của việc khởi tạo tỷ lệ lỗi truyền dẫn trong lớp vật lý có thể thiết lập ở mức tương đối: từ 10 tới 20 %. Giảm trễ truyền dẫn sẽ cải thiện được thông lượng. Tuy nhiên vẫn có một số khác biệt trong giao thức HARQ của HSUPA và HSDPA. HARQ trong HSUPA dựa trên quá trình tái truyền dẫn đồng bộ tại đường lên. Không tồn tại giới hạn mã hóa tài nguyên đường lên giống như ở đường xuống. Biểu đồ sau đây cho chúng ta thấy quá trình xử lý HARQ
                   
Hình 2. Quá trình xử lý HARQ

2.4 CHUYỂN GIAO MỀM

Bộ điều khiển mạng vô tuyến phục vụ SRNC thực hiện chuyển giao mềm giữa hai Node B. Thiết bị người dùng UE nhận tín hiệu ACK/NACK từ cả hai Node B. Khi UE thu được bất kỳ một tín hiệu báo nhận ACK nào từ Node B, UE sẽ nhận biết được ý nghĩa của tín hiệu đó và lập tức dừng quá trình xử lý tái truyền dẫn. Trong trường hợp truyền dẫn dữ liệu mới, UE sẽ đăng ký một chuỗi số tuần tự tái truyền dẫn RSN và gửi đi thông báo về việc đã nhận được dữ liệu mới này. Sau khi nhận được dữ liệu mới, Node B sẽ xóa hết dữ liệu cũ lưu trong bộ đệm. Bộ điều khiển mạng vô tuyến phục vụ SRNC quyết định cell nào sẽ phục vụ giữa một loạt các cell đang ở trạng thái tích cực và chỉ định cell này cho Node B và UE. Node B cùng với cell phục vụ đã được xác định thực hiện gửi tín hiệu AG hoặc RG tới UE, trong khi đó Node B khác sẽ gửi tín hiệu RG tới UE như là một chỉ thị báo quá tải nhằm tránh gây nhiễu cho UE.

     
     Hình 3. Quá trình xử lý chuyển giao mềm giữa hai Node B

2.5 THỜI GIAN TRUYỀN DẪN TTI

Nhằm gia tăng quá trình sắp xếp gói và giảm trễ, HSUPA cho phép chia thời gian truyền dẫn TTI từ 2 ms tương ứng thành 3 khe thời gian. Một khung vô tuyến WCDMA dài 5 ms, do đó sẽ chứa 5 khung con.

Tuy nhiên khác với HSDPA, hỗ trợ thời gian truyền dẫn TTI 2 ms tại UE không có tính bắt buộc, nhằm thay thế cho khả năng của UE. Điều này được cấu hình tại thời điểm thiết lập cuộc gọi nhằm lựa chọn thời gian truyền dẫn TTI 2 ms hay TTI 10 ms để thực hiện truyền dẫn HSUPA.

2.6 TÁC ĐỘNG CỦA HSDPA LÊN KIẾN TRÚC MẠNG TRUY NHẬP VÔ TUYẾN

Như đã phân tích ở trên, quá trình sắp xếp đường lên và giao thức HARQ được đặt tại Node B, nhằm dịch chuyển quá trình xử lý tiến gần hơn tới giao diện vô tuyến và có thể tái phản ứng một cách nhanh nhạy hơn với các tình huống trong truyền dẫn vô tuyến.

Giải pháp HSUPA cung cấp tính đa dạng cho quá trình truyền dẫn dữ liệu, chẳng hạn các gói dữ liệu đường lên có thể được nhận bởi nhiều hơn 1 cell. Luôn luôn tồn tại một cell phục vụ (Serving Cell) điều khiển tuyến liên kết vô tuyến phục vụ dành cho UE. Cell phục vụ điều khiển toàn bộ quá trình xử lý sắp xếp và gửi tín hiệu cấp phát tuyệt đối AG tới UE. Thiết lập tuyến liên kết vô tuyến phục vụ là quá trình hình thành tổ hợp cell trong đó tồn tại ít nhất một cell phục vụ và có thể có thêm các liên kết vô tuyến thêm vào trong cùng một Node B. Thiết bị người dùng UE có thể thu và kết hợp tín hiệu cấp phát tương đối RG từ quá trình thiết lập tuyến liên kết vô tuyến phục vụ này.

Ngoài ra còn có thể thêm vào các tuyến liên kết vô tuyến phi phục vụ (non-serving radio links) tại Node B còn lại. UE có thể không sở hữu, hoặc sở hữu một hay nhiều tuyến liên kết vô tuyến phi phục vụ và nhận một tín hiệu cấp phát tương đối RG từ mỗi tuyến liên kết ấy.

Các Node B khác nhau sẽ phân phát chính xác các gói dữ liệu nhận được tới bộ điều khiển mạng vô tuyến RNC. Do đó sẽ cần thêm một số chức năng kết hợp tùy chọn được trang bị trong RNC.

Các chức năng liên quan đến HSUPA trong Node B và RNC được phản ánh trong kiến trúc giao thức (Hình 4) (Đi cùng với RNC điều khiển và phục vụ).


Hình 4. Cấu trúc giao thức HSUPA

Node B bao gồm thực thể điều khiển truy nhập trung bình MAC mới có tên là MAC-e, và khối điều khiển mạng vô tuyến RNC chứa thực thể điều khiển truy nhập trung bình MAC-es. Cả MAC-E và MAC-es đều kết cuối tại lớp điều khiển truy nhập trung bình của UE.

Như vậy, có thể nhận thấy có sự thay đổi trong kiến trúc giao thức để hỗ trợ HSUPA như sau:

Tại UE:
- MAC-es / MAC-e nên được thêm vào dưới MAC-d. Các chức năng như tái truyền dẫn HARQ, sắp xếp và ghép kênh MAC-d PDU… được nhận biết trong MAC-es / MAC-e

Tại Node B:
- Thêm vào MAC-e. Tái truyền dẫn HARQ, sắp xếp và ghép kênh MAC-e PDU được thực hiện tại đây.
    
Tại RNC:
- Thêm vào MAC-e. Thực hiện chức năng tái yêu cầu (Re-Ordering) và kết hợp dữ liệu từ một Node B khác.

3. CÁC KÊNH CHUYỂN TẢI VÀ VẬT LÝ MỚI TRONG HSUPA

Trong HSUPA, kênh dành riêng tăng cường E-DCH được giới thiệu như một kênh vận tải mới có chức năng truyền tải dữ liệu người dùng trên đường lên. Tại lớp vật lý, nó được biên dịch thành hai kênh đường lên mới sau đây:

- Kênh dữ liệu vật lý dành riêng E-DCH (E-DPDCH), và
- Kênh điều khiển vật lý dành riêng E-DCH (E-DPCCH).

Kênh E-DPCCH mang thông tin điều khiển liên kết với E-DPDCH. Trên đường xuống, 3 kênh mới giới thiệu sau đây có chức năng điều khiển:

- E-AGCH : Kênh cấp phát tuyệt đối E-DCH mang các tín hiệu cấp phát tuyệt đối.
- E-RGCH :  Kênh cấp phát tương đối E-DCH mang các tín hiệu cấp phát tương đối.
- E-HICH: Kênh chỉ thị HARQ mang các tín hiệu ACK/NACK.

Kênh E-AGCH chỉ được truyền đi từ cell phục vụ. E-RGCH và E-HICH được truyền đi từ các tuyến liên kết vô tuyến chính là một phần của quá trình thiết lập tuyến liên kết vô tuyến phục vụ và từ các tuyến liên kết vô tuyến phi phục vụ.

Hình 5 cho thấy tổng quan  các kênh HSUPA.

Hình 5- Tổng quan các kênh HSUPA

Cần ghi nhớ rằng các kênh HSUPA được sắp xếp tại trên cùng của các kênh dành riêng đường lên/đường xuống, do đó mỗi UE có thêm một kênh vật lý dành riêng đường lên và đường xuống (DPCH). Tại đường lên, một phân kênh dành riêng (Factional Dedicated Channel F-DPCH) có thể tùy chọn sử dụng. Kênh F-DPCH được giới thiệu trong ấn bản R.6 của 3GPP nhằm tối ưu quá trình ứng dụng mã hóa kênh đường xuống. Theo đó, một số UE có thể chia sẻ cùng một mã kênh đường xuồng với thông số dãn SF 256. Để đạt được điều này, kênh F-DPCH sử dụng một cấu trúc khe mới chỉ chứa các bit điều khiển công suất truyền dẫn TPC mà không chứa các trường tiêu đề hay trường dữ liệu như cấu trúc khe DPCH đường xuống thông thường. Bằng cách gán cho mỗi UE một khoảng bù thời gian (Timing offset), có thể cho phép ghép tối đa 10 UE trên một mã kênh dành cho F-DPCH.

5. PHÂN LOẠI UE HSUPA

Cũng giống như HSDPA, có nhiều loại UE được thiết kế dành cho HSUPA. Phân loại các UE dựa trên số lượng cực đại mã E-DCH được sử dụng, thông số dãn cực tiểu, TTI, và kích thước block vận tải cực đại. Dưới đây là bảng phân loại các UE được thiết kế cho HSUPA:

Phân loại HSUPA
Số lượng cực đại mã HSUPA truyền đi
Thông số dãn cực tiểu
Hỗ trợ HSUPA TTI 10 ms và 2 ms
Số lượng bit cực đại được truyền đi cùng với HSUPA TTI 10 ms
Số lượng bit cực đại được truyền đi cùng với HSUPA TTI 2 ms
Tố độ bit
cực đại
Loại 1
1
SF4
TTI 10 ms
7296
-
0.73 Mbit/s
Loại 2
2
SF4
TTI 10 ms và TTI 2 ms
14592
2919
1.46 Mbit/s
Loại 3
2
SF4
TTI 10 ms
14592
-
1.46 Mbit/s
Loại 5
2
SF2
TTI 10 ms
20000
-
2.00 Mbit/s
Loại 6
4
SF2
TTI 10 ms và TTI 2 ms
20000
11520
5.76 Mbit/s
   
     Chú ý: Khi truyền đồng thời 4 mã song song, hai mã sẽ được truyền với SF 2, hai mã truyền với SF 4

Như vậy, sau khi được đề xuất, giải pháp HSUPA được chọn là giải pháp tối ưu không những cho hệ thống UMTS/WCDMA mà có thể cả mạng truyền thông di động thế hệ 3,75G hoặc xa hơn, là 4G. Kế hoạch phát triển ứng dụng HSUPA cho mạng thế hệ 3,75G và 4G sẽ được công ty T-Mobile của Áo giới thiệu vào khoảng cuối 2007 hoặc đầu 2008. Ngoài ra, UbiNetics, một công ty của Mỹ chuyên sản xuất đầu cuối WCDMA và HSDPA cũng đã ứng dụng HSUPA vào thế hệ sản phẩm TM500 Mobile của mình. 

Công nghệ truy nhập gói đường xuống tốc độ cao HSDPA

Các bạn nên xem trước bài này http://tongquanvienthong.blogspot.com/2012/02/hspa.html


Tốc độ dữ liệu tối đa hiện tại ở mạng WCDMA đạt được trong điều kiện lý tưởng bị giới hạn ở mức 2Mbit/s. Nhu cầu to lớn về dữ liệu tốc độ cao của người sử dụng đã thúc đẩy tìm ra một con đường mới để đạt được tốc độ vượt qua ngưỡng 2 Mbit/s. Công nghệ truy nhập gói đường xuống HSDPA (High Speed Downlink Packet Access) là bước đi đầu tiên trong quá trình phát triển mạng WCDMA (UMTS), kế tiếp sẽ là nâng cao tốc độ dữ liệu trên đường lên (uplink).

Nguyễn Thanh Tùng
Tốc độ dữ liệu tối đa hiện tại ở mạng WCDMA đạt được trong điều kiện lý tưởng bị giới hạn ở mức 2Mbit/s. Nhu cầu to lớn về dữ liệu tốc độ cao của người sử dụng đã thúc đẩy tìm ra một con đường mới để đạt được tốc độ vượt qua ngưỡng 2 Mbit/s. Công nghệ truy nhập gói đường xuống HSDPA (High Speed Downlink Packet Access) là bước đi đầu tiên trong quá trình phát triển mạng WCDMA (UMTS), kế tiếp sẽ là nâng cao tốc độ dữ liệu trên đường lên (uplink). Công nghệ HSDPA sẽ có khả năng cung cấp tốc độ lên đến 10Mbit/s trong khi vẫn tương thích với các thiết bị người sử dụng đang tồn tại.. Bài báo này trình bày một số khía cạnh kỹ thuật trong HSDPA.
GIỚI THIỆU
HSDPA là một chuẩn công nghệ trong Phiên bản 5 của Đề án các đối tác thế hệ 3 WCDMA băng rộng WCDMA 3GP. HSDPA sẽ tăng tốc độ dữ liệu truyền tối đa và nâng cao chất lượng dịch vụ QoS, và nói chung là cải tiến hiệu quả phổ tần đường xuống không đối xứng và đáp ứng nhu cầu bùng nổ các dịch vụ dữ liệu gói. Khi HSDPA được thực hiện, nó có thể cùng tồn tại trên cùng hệ thống truyền dẫn như Phiên bản 99 WCDMA hiện tại. Điều này cho phép đưa HSDPA vào mạng WCDMA hiện tại một cách dễ dàng và hiệu quả về chi phí. HSDPA được thiết kế cho những ứng dụng dịch vụ dữ liệu như: dịch vụ cơ bản : tải tệp, phân phối email; dịch vụ tương tác : trình duyệt web, truy nhập server, truy tìm và phục hồi cơ sở dữ liệu; dịch vụ Streaming : dịch vụ audio/video…
Hình 1: Hiệu quả phổ HSDPA
Hình 2: Độ trễ tín hiệu trên đường truyền đối với các công nghệ khác nhau
Các khía cạnh kỹ thuật nằm sau khái niệm HSDPA bao gồm :
- Truyền dẫn kênh chia sẻ
- Mã hoá và điều chế thích nghi AMC (Adaptive Modulation and Coding).
- Yêu cầu lặp lại tự động hỗn hợp nhanh H-ARQ (Fast Hybrid Automatic Repeat Request)
- Trình tự nhanh và hợp lý tại Node B.
- Lựa chọn vị trí ô tế bào nhanh FCSS (Fast Cell Site Selection).
- Khoảng thời gian truyền dẫn ngắn TTI (Short Transmission Time Interval).
CÁC KHÍA CẠNH KỸ THUẬT HSDPA
Truyền dẫn kênh chia sẻ
Tài nguyên chung của người sử dụng trong ô tế bào bao gồm các bộ mã kênh và công suất phát. Khái niệm HSDPA được giới thiệu bao gồm một số kênh vật lý thêm vào: Kênh vật lý chia sẻ đường xuống tốc độ cao HS-PDSCH (High Speed Physical Downlink Shared Channel) và Kênh điều khiển vật lý HS-DPCCH (HS-Physical Control Channel).
HS-PDSCH
Trong kênh này thời gian và mã hoá được chia sẽ giữa những người sử dụng gắn liền với Node-B. Đây là cơ cấu truyền tải cho các kênh logic được thêm vào: Kênh chia sẻ đường xuống tốc độ cao HS-DSCH (HS-Downlink Shared Channel) và Kênh điều khiển chia sẻ tốc độ cao HS-SCCH (HS-Shared Control Channel.
Những tài nguyên mã hoá HS-DSCH gồm có một hoặc nhiều bộ mã định hướng với hệ số phân bố cố định SF 16. Phần lớn 15 bộ mã này có thể phân bổ cho những yêu cầu về truyền dẫn dữ liệu và điều khiển. Các tài nguyên mã hoá sẵn sàng được chia sẻ chủ yếu trong miền thời gian nhưng nó có thể chia sẻ tài nguyên mã hoá bằng cách dùng mã hoá đa thành phần. Khi cả thời gian và bộ mã được chia sẽ, từ hai đến bốn người sử dụng có thể chia sẽ tài nguyên mã hoá trong cùng một TTI.
Hình 3: Thời gian và bộ mã được chia sẻ trong HS-DSCH
HS-DPCCH:
Đây là kênh đường lên, được sử dụng mang tín hiệu báo nhận (ACK) đến Node-B trên mỗi khối (block). Nó cũng được dùng để chỉ thị Chất lượng kênh CQI (Channel Quality), là yếu tố được sử dụng trong AMC.
Hình 4 : Cơ cấu truyền dẫn HS-DSCH
Mã hoá và điều chế thích nghi AMC
Hiện tại việc điều khiển công suất nhanh trong mạng WCDMA được sử dụng để thích ứng với các kết nối vô tuyến. Điều khiển công suất được thực hiện trong mỗi khe (slot) ở mạng WCDMA. Về cơ bản sự thích ứng với kết nối vô tuyến được yêu cầu bởi vì, trong hệ thống truyền thông tế bào, tỉ số tín hiệu trên tạp âm SNR của tín hiệu thu tại thiết bị người sử dụng UE (User Equipment) thay đổi theo thời gian từ 30-40 dB vì do và các vùng địa lý. Để có thể loại bỏ ảnh hưởng của fading và cải thiện khả năng hệ thống và tốc độ dữ liệu tối đa, tín hiệu truyền dẫn đến UE riêng biệt được thay đổi phù hợp với sự biến đổi tín hiệu xuyên suốt qua quá trình xử lý, gọi là thích ứng kết nối.
Trong HSDPA công suất phát được giữ không đổi trên TTI và sử dụng cơ chế mã hoá và điều chế thích ứng AMC như một phương pháp điều khiển để cải thiện hiệu quả phổ. HSDPA sử dụng cơ cấu điều chế bậc cao như điều chế biên độ trực giao 16QAM bên cạnh QPSK. Sự điều chế này được thích ứng theo các điều kiện kênh vô tuyến. QPSK có thể hỗ trợ 2 bit/symbol trong khi đó 16QAM có thể hỗ trợ 4 bit/symbol, do đó tốc độ tối đa sẽ gấp đôi khi so sánh với QPSK, sử dụng băng thông sẽ hiệu quả hơn. Tỷ lệ mã khác nhau được dùng là 1/4,1/2, 5/8, 3/4. Node-B (Trạm gốc) nhận báo cáo chỉ thị chất lượng CQI (Channel Quality Indicator ) và kết quả các phép đo công suất trên kênh kết hợp. Dựa trên những thông tin này nó quyết định tốc độ truyền dữ liệu sẽ là bao nhiêu (Bảng 1). Trong HSDPA, những người sử dụng ở gần Node-B thông thường được gán mức điều chế cao hơn với tỷ lệ mã cao hơn (như là 16QAM và tỷ lệ mã #) , và cả hai đều giảm khi khoảng cách giữa UE và Node-B tăng lên.
Bảng 1 Thông lượng ứng với các phương thức điều chế khác nhau





Điều chế Tỉ lệ mã Thông lượng với 5 mã Thông lượng với 10 mã Thông lượng với 15 mã
QPSK 1/4 600 kbit/s 1,2 Mbit/s 1,8 Mbit/s
2/4 1,2 Mbit/s 2,4 Mbit/s 3,6 Mbit/s
3/4 1,8 Mbit/s 3,6 Mbit/s 5,4 Mbit/s
16 QAM 2/4 2,4 Mbit/s 4.8 Mbit/s 7,2 Mbit/s
3/4 3,6 Mbit/s 7,2 Mbit/s 10,7 Mbit/s
Yêu cầu lặp lại tự động hỗn hợp nhanh H-ARQ
Giao thức H-ARQ dùng cho HSDPA là dừng và chờ SAW (Stop And Wait). Trong SAW bên phát gửi đi một khối TTI (3 slot) và đợi cho đến khi UE nhận được xác nhận ACK hoặc không nhận được N-ACK. Để có thể tận dụng thời gian khi phải chờ thông báo xác nhận ACK, quá trình xử lý song song N SAW-ARQ có thể được thiết lập cho UE, như thế các quá trình khác nhau phát đi trong các TTI độc lập. Giá trị N được báo hiệu rõ ràng dùng 3 bit, vì thế tối đa N là 8.
UE yêu cầu bên phát phát lại dữ liệu nhận được bị lỗi sớm nhất. Khi UE nhận được dữ liệu lần thứ hai, nó kết hợp với thông tin phát đi đầu tiên với thông tin phát lần thứ hai trước khi cố gắng giải mã các thông báo.
Trình tự nhanh và hợp lý tại Node B
Trong mạng WCDMA tiêu chuẩn trình tự các gói được thực hiện tại Kết nối mạng vo tuyến RNC (Radio Network Connection), nhưng trong HSDPA trình tự gói (medium access layer-hs) được di chuyển đến Node-B. Điều đó làm cho các quyết định về trình tự gói hầu như xảy ra ngay lập tức. Vì độ dài TTI ngắn hơn 2 ms, do đó trình tự này được thực hiện rất nhanh với mỗi TTI.
Để có một trình tự hợp lý có thể sử dụng phương pháp lược đồ quay vòng (Round-Robin), nơi mỗi người sử dụng được phục vụ theo kiểu liên tục, để tất cả người sử dụng nhận được thời gian sử dụng như nhau. Tuy nhiên, với yêu cầu tốc độ sắp xếp trình tự gói cùng với khả năng của AMC, nơi kênh truyền dẫn được bố trí theo các điều kiện kênh ngay lập tức, một trình tự gói phổ biến khác là trình tự gói hợp lý cân đối. ở đây, thứ tự của dịch vụ được xác định bởi mức độ đáp ứng ngay lập tức cao nhất chất lượng kênh liên quan. Từ đó sự lựa chọn được dựa trên các điều kiện liên quan, mỗi người sử dụng nhận được xấp xỉ số lượng thời gian phân phối giống nhau phụ thuộc vào điều kiện kênh truyền dẫn.
Hình 5: Trình tự nhanh và hợp lý
Lựa chọn vị trí tế bào nhanh FCSS
Trung bình 20-30% của trạm di động MS thực hiện chuyển giao mềm hoặc khá mềm. Chuyển giao mềm là chuyển giao giữa hai Node-B, chuyển giao mềm dẻo hơn là giữa các sector của Node-B. FCSS cho phép một UE chọn Node-B với đặc tính truyền dẫn hiện tại tốt nhất. Lợi thế của hệ thống này là tốc độ dữ liệu cao hơn có thể đạt được trong phần lớn thời gian.
Khoảng thời gian truyền dẫn ngắn TTI
Trong HSDPA, HS-DSCH được thêm vào sử dụng TTI ít hơn 2ms so với TTI kênh truyền dẫn Phiên bản ’99. Dođó làm giảm thời gian đi vòng, tăng tốc độ xử lý và khả năng hiệu chỉnh bám theo thời gian tốt hơn với những kênh vô tuyến thay đổi. Trên thực tế độ dài của khung thay đổi và được chọn dựa trên lưu lượng được hổ trợ và số người sử dụng được hổ trợ. Giá trị tiêu biểu là 2 ms.
Yêu cầu lặp lại tự động hỗn hợp nhanh H-ARQ
AMC sử dụng kỹ thuật điều chế thích hợp và cơ cấu mã hoá theo các điều kiện của kênh truyền dẫn. Thậm chí sau AMC, có thể bắt được các lỗi trong các gói thu vì trong thực tế các kênh có thể thay đổi trong suốt quá trình các gói di chuyển trong không gian. Tỷ lệ lỗi khối BLER (Block Error Rate) sau lần truyền dẫn đầu tiên là 10%-20%. Một cơ cấu yêu cầu lặp lại tự động có thể được sử dụng để khôi phục lại các lỗi trong đường truyền thích ứng. Khi gói phát đi bị thu lỗi thì bên nhận yêu cầu bên phát phát lại các gói bị lỗi. Kỹ thuật cơ bản là sử dụng tín hiệu phát đi trước đó cùng với tín hiệu được phát lại sau này để giải mã các block. Có hai cơ cấu chính trong H-ARQ, đó là Kết hợp theo đuổi CC (Chase Combining) và Gia tăng độ dư IR (Incremental Redundancy).
- Kết hợp theo đuổi
Cơ cấu này bao gồm việc phát lại các gói dữ liệu mà bên thu đã nhận được bị lỗi. Một khi các gói phát lại nhân được, bên thu kết hợp các giá trị mềm của tín hiệu gốc và tín hiệu phát lại có SNR ưu tiên để giải mã gói dữ liệu.
Ưu điểm: Việc truyền và truyền lại được giải mã riêng lẻ (tự giải mã), tăng tính đa dạng thời gian, có thể tăng tính đa dạng đường truyền.
Nhược điểm: Việc phát lại toàn bộ các gói sẽ lãng phí về băng thông.
- Tăng độ dư
Tăng độ dư được sử dụng để nhận được tính năng tối đa trong băng thông sẵn sàng. Lúc này block được phát lại chỉ bao gồm dữ liệu sửa chữa của tín hiệu gốc được truyền đi chứ không phải thông tin thực sự. Lượng thông tin dư thêm vào được gửi đi ngày càng tăng lên khi quá trình phát lại lặp đi lặp lại mà bên thu vẫn nhận bị lỗi.
Hình 6: Quá trình truyền lại block dữ liệu IR
Ưu điểm: Giảm bớt băng thông/ lưu lượng hữu dụng của một người sử dụng và dùng nó cho những người khác.
Nhược điểm: Các bit hệ thống chỉ được gửi đi khi truyền lần đầu và không thể truyền lại, điều đó làm cho quá trình truyền lại không thể tự giải mã. Vì thế, nếu quá trình truyền lần đầu bị mất thì fading rất lớn sẽ tác động và không có cơ hội khôi phục lại dữ liệu trong hoàn cảnh này.
- Tăng độ dư từng phần
Tăng độ dư từng phần là sự kết hợp của CC và IR. Sự không thuận lợi của IR bị loại bỏ bằng cách thêm vào các bit hệ thống cùng với các bit dư gia tăng trong quá trình truyền lại. Điều đó làm cho cả tín hiệu ban đầu và tín hiệu phát lại đều tự giải mã được .

HSPA

HSPA (High Speed Packet Access) truy nhập gói tốc độ cao là công nghệ được triển khai trên nền WCDMA. HSPA bao gồm :
  • HSDPA (High-Speed Downlink Packet Access), tiếng Việt gọi là Công nghệ truy nhập gói đường xuống tốc độ cao, là một bước tiến nhằm nâng cao tốc độ và khả năng của mạng di động tế bào thế hệ thứ 3 UMTS. HSDPA đôi khi còn được biết đến như là một công nghệ thuộc hệ thế 3.5G. Hiện tại, tốc độ dự liệu đường xuống của HSDPA là 1.8, 3.6, 7.2 và 14.4 Mbit/s. HSDPA được thiết kế cho những ứng dụng dịch vụ dữ liệu như: dịch vụ cơ bản như tải tệp, phân phối email; dịch vụ tương tác như trình duyệt web, truy nhập server, truy tìm và phục hồi cơ sở dữ liệu; và dịch vụ Streaming. Xem thêm hoặc bài tổng quan HSDPA
  • HSUPA (High-Speed Uplink Packet Access), tiếng Việt gọi là Công nghệ truy nhập gói đường lên tốc độ cao, là một bước tiến nhằm nâng cao tốc độ và khả năng cũng như giảm độ trễ trên đường truyền gói lên của mạng UMTS. HSUPA sử dụng các kỹ thuật thích ứng đường truyền như khoảng thời gian truyền dẫn ngắn, cơ chế yêu cầu lặp tự động lai... nhằm cải tiến đường truyền lên và nâng tốc độ lên đến 5.76 Mbps. Xem thêm
Ở Việt Nam, sau khi 3G được phép triển khai thì công nghệ HSPA cũng được nhanh chóng phát triển. Một sản phẩm điển hình sử dụng HSPA là các USB MODEM giao tiếp với máy tính qua cổng usb, có khả năng kết nối internet qua sóng điện thoại, hỗ trợ download và upload dữ liệu với tốc độ cao. Hiện nay điện thoại di động, máy tính bảng cũng đã hỗ trợ 3.5G, thậm chí các máy dòng cao cấp còn đã hỗ trợ HSPA+ (3.75G)

Fading trong thông tin vô tuyến

1. Fading là gì?
Fading là hiện tượng sai lạc tín hiệu thu môt cách bất thường xảy ra đối với các hệ thống vô tuyến do tác đông của môi trường truyền dẫn.
Các yếu tố gây ra Fading đối với các hệ thống vô tuyến măt đất như:
  • Sự thăng giáng của tầng điện ly đối với hệ thống sóng ngắn
  • Sự hấp thụ gây bởi các phân tử khí, hơi nước, mưa, tuyết, sương mù...sự hấp thụ này phụ thuôc vào dải tần số công tác đăc biệt là dải tần cao (>10Ghz).
  • Sự khúc xạ gây bởi sự không đổng đều của mật đô không khí.
  • Sự phản xạ sóng từ bề măt trái đất, đăc biệt trong trường hợp có bề măt nước và sự phản xạ sóng từ các bất đổng nhất trong khí quyển. Đây cũng là môt yếu tố dẫn đến sự truyền lan đa đường.
  • Sự phản xạ, tán xạ và nhiễu xạ từ các chướng ngại trên đường truyền lan sóng điện từ, gây nên hiện tượng trải trễ và giao thoa sóng tại điểm thu do tín hiệu nhận được là tổng của rất nhiều tín hiệu truyền theo nhiều đường. Hiện tượng này đăc biệt quan trọng trong thông tin di động.
  
Trích dẫn 1 bài viết của thày bình dị thì : 
1. Pha-đinh chỉ có hại chứ sao lại có lợi? Pha-đinh là sự thăng giáng một cách ngẫu nhiên tín hiệu tại điểm thu. Chỉ cần nói thế này là bạn thấy ngay thôi: Giữa một kênh không có pha-đinh (như kênh hữu tuyến chẳng hạn) và một kênh có pha-đinh (như kênh vô tuyến trong bầu khí quyển gần mặt đất, trong đó pha-đinh là một yếu tố có tính chất cố hữu) thì kênh không có pha-đinh phải tốt hơn kênh có pha-đinh chứ? Kênh không có pha-đinh thì tác động tới chất lượng tín hiệu chỉ còn có tạp âm nhiệt AWGN (nên gọi là kênh Gaussian) và là kênh được xem là tốt nhất trong các loại kênh (trường hợp kênh Gaussian rất hãn hữu mới gặp trong thực tế với các kênh vô tuyến, khi chỉ có một tia LOS giữa máy thu và máy phát, không có các tia phụ do phản xạ, nhiễu xạ, khúc xạ - hệ số Rice K của kênh rất lớn).
2. Như đã nói, pha-đinh là một yếu tố có tính chất cố hữu đối với các kênh vô tuyến trong bầu khí quyển gần mặt đất, khi đó kênh có pha-đinh dễ xử lý nhất là kênh pha-đinh phẳng (flat fading) vì pha-đinh phẳng có thể khắc phục dễ dàng nhờ AGC (Automatic Gain Control) và pha-đinh khi đó không gây ra cái hiện tượng khốn nạn nhất trong truyền dẫn tín hiệu số là ISI do méo tuyến tính tín hiệu gặp phải với các kênh có pha-đinh chọn lọc theo tần số (selective fading) rất thường gặp với các kênh có băng thông tín hiệu rộng (có độ rộng băng tín hiệu lớn hơn độ rộng băng kết hợp - hay nhất quán theo cách dịch của các thày bên bưu điện - coherent bandwidth of the channel). Mạch san bằng (Equalizer), hay cân bằng theo cách gọi bên bưu điện, lúc đó chỉ có trách nhiệm bù sửa ISI gây bởi trải trễ mà thôi. Tức là pha-đinh phẳng chỉ là loại pha-đinh ít khó chịu nhất trong các loại pha-đinh chứ không có nghĩa là pha-đinh phẳng thì không gây hại gì, lại càng không phải là tốt cho truyền dẫn tín hiệu.


Fading là một nguyên nhân gây méo tín hiệu (méo tuyến tính): http://tongquanvienthong.blogspot.com/2012/02/meo-tuyen-tinh-va-meo-phi-tuyen_29.html

2. Phân loại fading
- Fading phẳng
- Fading chọn lọc tần số
- Fading nhanh
- Fading chậm

Các khái niệm băng tần và băng thông có thể xem ở đây
Chúng được phân loại theo chu kỳ của tín hiệu và băng thông của tín hiệu dãi nền như sau:



Fading phẳng
Là Fading mà suy hao phụ thuộc vào tần số là không đáng kể và hầu như là hằng số với toàn bộ băng tần hiệu dụng của tín hiệu.
Fading phẳng thường xảy ra đối với các hệ thống vô tuyến có dung lượng nhỏ và vừa, do độ rộng băng tín hiệu khá nhỏ nên fading do truyền dẫn đa đường và do mưa gần như là xem không có chọn lọc theo tần số.

Fading phẳng do truyền dẫn đa đường: hình thành do phản xạ tại các chướng ngại cũng như sự thay đổi của độ khúc xạ của khí quyển cường đô trường thu được ở đầu thu bị suy giảm và di chuyển trong quá trình truyền dẫn.
Trong các hệ thống chuyển tiếp số LOS (Line-Of-Sight), sự biến thiên của đọ khúc xạ là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiện tượng truyền dẫn đa đường mà kết quả của nó là tổn hao Fading thay đổi theo tần số. Tuy nhiên, hệ thống có băng tín hiệu nhỏ nên tín hiệu suy hao fading đa đường là nhỏ nên có thể bỏ qua và fading đa đường được xem là fading phẳng.
Đối với fading đa đường, việc thực hiện được đánh giá bằng đo công suất tín hiệu thu được tại một tần số trong băng tín hiệu. Đặc trưng thống kê của fading phẳng đa đường là phân bố thời gian fading vượt quá một mức nào đó

Fading phẳng do hấp thụ: Là hiện tượng sóng điện từ bị hấp thụ và bị tán xạ do mưa, tuyết, sưong mù.hay các phần tử khác tổn tại trong môi trường truyền dẫn nên các tín hiệu vào đầu thu bị suy giảm. Nói chung hiện tượng fading này thay đổi phụ thuộc vào thời gian. 
 

Ảnh hưởng của flat fading tác động lên toàn bộ dải tần tín hiệu truyền trên kênh là như nhau, do đó việc tính toán độ dự trữ fading (fading margin) dễ dàng hơn (các tần số trong băng tần đều bị tác động như nhau thì chỉ việc tăng thêm phát cho tất cả băng tần. Thực tế thì có bộ gọi là tự động điều chỉnh độ lợi-AGC (Auto Gain Control) sẽ điều chỉnh mức bù nhiễu này) 


Fading lựa chọn tần số (selective fading)
Xảy ra khi băng tần của tín hiệu lớn hơn băng thông của kênh truyền. Do đó hệ thống tốc độ vừa và lớn có độ rộng băng tín hiệu lớn (lớn hơn độ rộng kênh) sẽ chịu nhiều tác động của selective fading.
Nói chung là đối toàn bộ băng thông kênh truyền thì nó ảnh hưởng không đều, chỗ nhiều chỗ ít, chỗ làm tăng chỗ làm giảm cường độ tín hiệu. Loại này chủ yếu do fading đa đường gây ra.
Tác hại lớn nhất của loại fading này là gây nhiễu lên kí tự -ISI. Selective fading tác động lên các tần số khác nhau (trong cùng băng tần của tín hiệu) là khác nhau, do đó việc dự trữ như flat fading là không thể. Do đó để khắc phục nó, người ta sử dụng một số biện pháp:
1/Phân tập (diversity): không gian (dùng nhiều anten phát và thu) và thời gian (truyền tại nhiều thời điểm khác nhau).
2/ Sử dụng mạch san bằng thích nghi, thường là các ATDE (Adaptive Time Domain Equalizer) với các thuật toán thích nghi thông dụng là Cưỡng ép không ZF (Zero Forcing) và Sai số trung bình bình phương cực tiểu LMS (Least Mean Square error);
3/Sử dụng mã sửa lỗi để giảm BER (vốn có thể lớn do selective fading gây nên);
4/Trải phổ tín hiệu (pha-đinh chọn lọc thường do hiện tượng truyền dẫn đa đường (multipath propagation) gây nên, trải phổ chuỗi trực tiếp, nhất là với máy thu RAKE, có khả năng tách các tia sóng và tổng hợp chúng lại, loại bỏ ảnh hưởng của multipath propagation);
5/Sử dụng điều chế đa sóng mang mà tiêu biểu là OFDM (cái của nợ này ngày nay được ứng dụng khắp nơi, trong di động 3G, trong WIFI, WIMAX hay trong truyền hình số mặt đất DVB-T...)

Nói chung là fading phẳng do mưa mù và đa đường (nếu do hiện tượng đa đường thì chỉ với các kênh băng thông hẹp), fading chọn lọc thì chủ yếu do fading đa đường và kênh truyền rộng (những nguyên nhân khác thì không rõ nhưng khi học thì mình chỉ biết là do đa đường thôi).
Hiện tượng fading nhiều đường có 1 bài viết riêng ở đây

Fading nhanh và fading chậm.
a/ Nguyên nhân:
- Fading nhanh (fast fading) hay còn gọi là hiệu ứng Doppler, nguyên nhân là có sự chuyển động tương đối giữa máy thu và máy phát dẫn đến tần số thu được sẽ bị dịch tần đi 1 lượng delta_f so với tần sô phát tương ứng
          f_thu = f_phát. (c + v_thu) / (c+v_phát)
         => delta_f=abs[f_thu-f_phát]=abs[v/(c+v_phát)].f_phát
Mức độ dịch tần sẽ thay đổi theo vận tốc tương đối (v) giữa máy phát và thu (tại cùng 1 t/s phát). Do đó hiện tượng này gọi là fading nhanh.

Tuy nhiên, đó không phải là toàn bộ nội dung của fading nhanh mà các hiệu ứng đa đường (multipath) cũng có thể kéo theo sự biến đổi nhanh của mức nhiễu tại đầu thu gây ra fast fading.

- Fading chậm (slow fading): Do ảnh hưởng của các vật cản trở trên đường truyền. VD: tòa nhà cao tầng, ngọn núi, đồi…làm cho biên độ tín hiệu suy giảm, do đó còn gọi là hiệu ứng bóng râm (Shadowing) Tuy nhiên, hiện tượng này chỉ xảy ra trên một khoảng cách lớn, nên tốc độ biến đổi chậm. Hay sự không ổn định cường độ tín hiệu ảnh hưởng đến hiệu ứng cho chắn gọi là suy hao chậm. Vì vậy hiệu ứng này gọi là Fading chậm (slow fading)
Như vậy, slow fading và fast fading phân biệt nhau ở mức độ biến đổi nhiễu tại anten thu.

b/ Khắc phục: bằng cách tính toán đọ dự trữ fading
- Dự trữ fading che khuất chuẩn-log (dự trữ fading chậm - Slow/Shadowing Fading Margin)
Khoản này tính được dựa trên xác suất rớt cuộc gọi cho phép do fading chậm gây nên, thường nó là 1% theo nhiều tài liệu. Lượng dự trữ fading chậm này tính được nếu ta có được đường cong mật độ xác suất fading che khuất (dạng chuẩn-log). Cái đường cong mật độ này có được nhờ phương pháp thống kê (nhờ đo bằng driving-test để có được độ lệch quân phương (zigma) hay còn gọi là độ lệch chuẩn - standard deviation - của biến ngẫu nhiên mức fading che khuất, và một phân bố chuẩn có kỳ vọng bằng không hoàn toàn xác định được pdf của nó nếu biết zigma).

- Dự trữ fading nhanh (Multipath Fading Margin)
Cái này có rắc rối hơn đôi chút. Với các hệ thống băng hẹp như GSM (tốc độ dữ liệu trên kênh thấp do chủ yếu chỉ phục vụ dịch vụ thoại và dữ liệu tốc độ thấp) thì multipath fading xem được là flat-fading. Khi đó dự trữ fading nhanh có thể xác định được theo phân bố của mức fading nhanh. Với các môi trường khác nhau, sẽ có các phân bố khác nhau, trải từ phân bố chuẩn (kênh Gauss) hay Ricean (kênh Rice) cho tới Rayleigh (kênh Rayleigh), trong đó kênh Rayleigh là kênh tồi nhất, rất hay gặp trong môi trường macro khu vực đô thị. Do vậy, khi tính toán thiết kế vô tuyến (tính toán phủ sóng) người ta thường tính với trường hợp xấu nhất là với kênh Rayleigh. Pdf (Probability Density Function - hàm mật độ xác suất) Rayleigh của biến ngẫu nhiên là mức fading nhanh cũng hoàn toàn xác định được nếu có được độ lệch quân phương zigma của nó. Cái này (zigma) cũng phải xác định bằng đo lường (driving-test). Từ đó ta có thể xác định được độ dự trữ fading nhanh để bảo đảm xác suất rớt cuộc gọi do fading nhanh gây ra thấp dưới một mức nào đó, cũng thường là 1%.

Hiện tượng fading đa đường (Multipath-Fading)

Nếu mới lần đầu tiếp xúc hoặc chưa thật rõ với khái niệm fading, các bạn có thể xem ở đây

Multipath-Fading là một hiện tượng rất phổ biến trong truyền thông không dây gây ra do hiện tượng đa đường (Multipath) dẫn tới suy giảm cường độ và xoay pha tín hiệu (fading) không giống nhau tại các thời điểm hoặc/và tại các tần số khác nhau.

Tín hiệu RF truyền qua kênh truyền vô tuyến sẽ lan tỏa trong không gian , va chạm vào các vật cản phân tán rải rác trên đường truyền như xe cộ, nhà cửa, công viên, sông, núi, biển … gây ra các hiện tượng sau đây:
• Phản xạ (reflection): khi sóng đập vào các bề mặt bằng phẳng.
• Tán xạ (scaterring): khi sóng đập vào các vật có bề mặt không bằng phẳng và các vật này có chiều dài so sánh được với chiều dài bước sóng.
• Nhiễu xạ (diffraction): khi sóng va chạm với các vật có kích thước lớn hơn nhiều chiều dài bước sóng.


Khi sóng va chạm vào các vật cản sẽ tạo ra vô số bản sao tín hiệu, một số bản sao này sẽ tới được máy thu.


Do các bản sao này này phản xạ, tán xạ, nhiễu xạ trên các vật khác nhau và theo các đường dài ngắn khác nhau nên:
• Thời điểm các bản sao này tới máy thu cũng khác nhau, tức là độ trễ pha giữa các thành phần này là khác nhau.
• Các bản sao sẽ suy hao khác nhau, tức là biên độ giữa các thành phần này là khác nhau.

Tín hiệu tại máy thu là tổng của tất cả các bản sao này, tùy thuộc vào biên độ và pha của các bản sao:
• Tín hiệu thu được tăng cường hay cộng tích cực (constructive addition) khi các bản sao đồng pha.
• Tín hiệu thu bị triệt tiêu hay cộng tiêu cực (destructive addition) khi các bản sao ngược pha.

Tuỳ theo mức độ của multipath-fading ảnh hưởng tới đáp ứng tần số của mỗi kênh truyền mà ta có kênh truyền chọn lọc tần số (frequency selective fading channel) hay kênh truyền phẳng (frequency nonselective fading channel), kênh truyền biến đổi nhanh (fast fading channel) hay kênh truyền biến đổi chậm (slow fading channel). Tuỳ theo đường bao của tín hiệu sau khi qua kênh truyền có phân bố xác suất theo hàm phân bố Rayleigh hay Rice mà ta có kênh truyền Rayleigh hay Ricean.


Nguồn http://www.deeforum.net/forum/index.php?topic=53.0

Theo như thày bình dị (cũng là thày dạy mình môn truyền dẫn 1 và 2) thì cần phân biệt giữa hiệu ứng đa đường và fading đa đường

Nói cho đúng ra thì vùng phủ mở rộng kha khá là nhờ việc có phản xạ, nhiễu xạ, tán xạ..., tức là nhờ có multipath propagation chứ đâu có nhờ fading?  (tức là nhờ có đa đường và phản xạ mà tín hiệu có thể đến với ta mà không cần phải "hứng" sóng trực tiếp từ trạm phát)

Multipath fading chỉ là một cái hệ lụy kèm theo của cái anh multipath propagation thôi và đã là fading thì luôn làm cho việc dự đoán đường truyền trở nên phức tạp và chỉ gây suy giảm chất lượng liên lạc thôi. Cái khoảng thời gian mà flat-fading làm tín hiệu mạnh lên có thể làm cho không có bit lỗi, song cái khoảng thời gian tín hiệu bị yếu đi thì làm BER tăng rất mạnh, tổng hợp lại thì fading, dù chỉ là flat-fading cũng làm cho chất lượng hệ thống giảm chứ không có chuyện tăng, còn selective fading với các hệ thống dung lượng lớn - tức là có độ rộng băng tín hiệu lớn - thì còn gây ra thêm cái gọi là méo tuyến tính/linear distortion, dẫn đến ISI mạnh thì còn tệ hại hơn nữa. Vậy fading chỉ có hại chứ có lợi làm sao được?

Không nên lầm lẫn giữa multipath propagation với multipath fading mặc dù hai cái này cái trước kéo theo cái sau. Cái anh multipath propagation thì cho phép mở rộng thêm cự ly liên lạc (trong nhiều trường hợp thì chỉ là tí chút) song lại kéo theo cái anh multipath fading buộc người ta phải áp dụng hàng loạt các biện pháp mạnh khác (tốn úi xìn nhé) để duy trì chất lượng liên lạc ổn định trong một tỷ lệ lớn thời gian, say là 98% với các cellular mobile systems hay 99.99% với các hệ thống microwave chẳng hạn.  

Kinh nghiệm làm tiểu luận và đồ án tốt nghiệp

 Một bài viết hay tìm được trên mạng :


Cũng lâu lắm rùi từ sau loạt bài "Kinh nghiệm lần đầu đi xin việc", thấy mọi người ủng hộ nhiêu nhưng do thời gian của ac7ive không cho phép + bịnh làm biến kinh niên nên đến giờ mới có loạt bài thứ 2. Học kỳ này, các bạn khóa 07 bắt đầu bước vào việc làm "Tiểu luận chuyên ngành" và học kỳ tới thì tới khóa 08. Vì thế ac7ive quyết định làm 1 loạt bài nhỏ về việc chia sẽ kinh nghiệm làm "Tiểu luận chuyên ngành" và xa hơn nữa là "Đồ án tốt nghiệp"

Trước tiên ta nói sơ về 2 môn này, đối với "Tiểu luận chuyên ngành", còn được biết với cái tên ko chính thức là "Thực tập tốt nghiệp", là môn học mà các thầy của khoa tạo ra với mục đích là giúp các bạn SV có kinh nghiệm đầu tiên về làm 1 project do mình thực hiện, và là tiền đề để các bạn làm 1 project lớn hơn là "Đồ án tốt nghiệp" trước khi ra trường. Tuy ý nghĩa cao cả là thế và tất cả SV đều "được" làm nhưng nếu fail, sẽ đồng nghĩa với việc các bạn sẽ ra trường muộn do đây là môn bắt buộc phải hoàn thành trước khi được thi tốt nghiệp hay làm Đồ án tốt nghiệp.

Con với đồ án tốt nghiệp, ac7ive cũng nói sơ cho các bạn hiểu về điều kiện để làm đồ án này (ac7ive nói về vấn đề này ko dưới 4 lần cho các khóa sau qua yahoo =.="). Đồ án tốt nghiệp không yêu cầu cụ hte63 đối với đối tượng sinh viên nào mà chỉ là có những yêu cầu tối thiểu là phải ko nợ quá 10 chỉ ở học kỳ cuối cùng. Tất nhiên đó chỉ là điều kiện cần đầu tiên. Điều kiện cần thứ 2 là phải có GVHD. Nếu với những khoa dư GV thì gần như 100% SV đều được làm đồ án tốt nghiệp. Nhưng do khoa ta còn thiếu GV nên phải dùng đến yêu cầu tiếp theo để giới hạn số lượng SV được làm. Những năm trước đây là xét thông qua điểm trung bình tích lũy. Yêu cầu đều phải từ 6.5 trở lên mới được làm. Tuy nhiên do yêu cầu tương đối thoáng về làm đồ án, nếu bạn nào dưới yêu cầu trên mà có thể liên hệ với thầy trong khoa đồng ý đứng ra hướng dẫn các bạn thì các bạn vẫn có thể làm đồ án tốt nghiệp bình thường.

Bản chất 2 môn này là sinh viên tự thân vận động, các bạn sẽ làm tất cả các công việc, GVHD chỉ đứng ở vai trò là support. Tuy nhiên, các bạn tuyệt đối không được mất liên lạc với GVHD, không thể có chuyện 1 tuần trước khi nộp bài mới liên lạc với GVHD, lúc đó thì cầu chúa đồ án sai sót gì và sự tha thứ của GVHD. Trong quá trình làm đồ án, GVHD sẽ cho bạn những ý kiến để hoàn thiện tốt hơn sẽ được đánh giá cao trong quá trình bảo vệ đồ án. Bản thân với 2 đồ án của 2 môn này, nếu GVHD đánh trược, các bạn sẽ không được bảo vệ trước hội đồng. Đồng nghĩa là các bạn rớt môn đó, từ đó các bạn có thể thấy tầm quan trọng của GVHD đối với sự thành bại của các bạn.

Khi hoàn thành đồ án, các bạn sẽ được bảo vệ trước hội đồng. Riêng với Đồ án tốt nghiệp, các bạn sẽ có 1 buổi face to face với GV phản biện. Buổi này sẽ là buổi gây cấn nhất vì sẽ bị hỏi theo kiểu đánh đố và vạch lá tìm sâu nặng nhất. Tuy nhiên GVPB nếu có đánh trược, các bạn vẫn có thể được bảo vệ trước hội đồng. Tất nhiên điểm số sẽ không được cao.

Điểm đồ án của các bạn là điểm trung bình của các GV trong hội đồng lúc buổi bảo vệ. Đối với TLCN, thường sẽ có 2 GV, 1 giáo viên hướng dẫn, 1 uỷ viên. Còn đối với ĐATN, sẽ có thêm GVPB trong hội đồng 3 thành viên.

Do đặc điểm của 2 môn này là giống nhau nên ac7ive chỉ nói về 1 cái là Đồ án tốt nghiệp. Trong giai đoạn nào có sự khác biệt ac7ive sẽ nói sau.


Bước 1: Đăng ký đề tài

Bước này 2 môn đều khá giống nhau, các bạn default sẽ có 1 danh sách lựa chọn đề tài cho từng chuyên ngành cụ thể. Tuy nhiên ac7ive lại ko thích cái danh sách này vì tên đề tài khá củ và nó cũng thiếu hẳn tính sáng tạo cần thiết. Tất nhiên đây là quan điểm cả nhân, với các bạn thích an phận thì làm những đề tài này khả năng bước qua an toàn là rất cao.

Bước này, lời khuyên của ac7ive là nên nhờ 1 người nào đó có kinh nghiệm hơn giới thiệu những tên đề tài mới và cho sơ 1 hướng đi. Ở đây có thể liên hệ với thầy để xin ý kiến hoặc là những anh chị khóa trên. Những người đã đi làm thường sẽ có những cái nhìn, những tên đề tài hay cho các bạn lựa chọn. Sau đó các bạn liên hệ với GVHD để đăng ký tên đề tài, nếu được chấp nhận, các bạn sẽ được làm đề tài các bạn mong muốn.

Để những TLCN hay ĐATN được điểm cao, yêu cầu cần phải có với đề tài là phải lạ, có giá trị thực tiển cao và có độ khó tương đối. Đây chính là mấu chốt để mang lại 1 đề tài thành công.

Bước 2: Lập 1 đề cương nghiên cứu

Trong chương trình học của chúng ta, môn "Nghiên cứu khoa học" có trình bày những nội dung, những bước để làm 1 dự án. Lúc đầy thấy nó ko mấy ý nghĩa, nhưng bước vào làm thực hiện TLCN thì thấy nó vô cùng quan trọng.

Đề cương nghiên cứu thì thường không phải là yêu cầu bắt buộc với các thầy trong khoa. Tuy nhiên, bản thân ac7ive lại thấy nó rất quan trọng trong quá trình làm đồ án.

Đề cương nghiên cứu là trả lời những câu hỏi:

  • Đồ án hướng đến đối tượng nào
  • Mục đích và mục tiêu của đồ án
  • Đồ án này mang lại lợi ích gì khi hoàn thành
  • Giới hạn của đồ án đến đâu
  • Thời gian để làm đồ án
  • Nội dung đồ án sẽ là những gì
Nhìn sơ qua không ít các bạn trẻ sẽ lắc đầu, lè lưởi vì chưa gì mà kêu nội dung đồ án sẽ có cái gì. Không nghiên cứu thì sao biết được,... Bản thân ac7ive cũng có những câu hỏi tương tự. Nhưng thực tế chứng minh không phải vậy. Đề cương nghiên cứu thật tế là xác định cái Scope và Plan của đồ án. Nếu bản thân các bạn không xác định được thì lúc làm đồ án cầm chắc các bạn sẽ đi lang mang. Vì 1 vấn đề có thể không cần đào quá sâu nhưng các bạn không xác định chính xác thì nó sẽ gây sử lãng phí thời gian không cần thiết.

Sau khi hoàn thành các bạn có thể gửi cho các thầy hướng dẫn xem và cho ý kiến.

Bước 3: Thực hiện đề tài

Đồ án thật tế cũng như là project về R&D (Research and Development). Do vậy nó cũng sẽ phải có những yêu cầu cụ thể liên quan. Bản thân các bạn trước nay đề thực hiện nhiều đồ án môn học. Đấy là những mini project. Nên những process trong quá trình thực hiện đều bỏ qua. Với những gì thấy được thì khi làm những project lớn hơn các bạn đều vẫn giữ những thói quen đó.

Trong loạt bài này, ac7ive muốn hướng các bạn vào 1 tác phong làm việc chuyên nghiệp hơn. Không hẳng chỉ là cho 2 đồ án trước mắt mà cả những project sau này.

Quá trình thực hiện, ac7ive chia chúng làm 4 giai đoạn:

- Giai đoạn 1 - Chuẩn bị: Đây là giai đoạn các bạn lập đề cương và cả những thủ tục cần thiết. Ví dụ như đồ án của bạn cần mượn thiết bị, các bạn cũng phải làm trong giai đoạn này. Ac7ive đánh gia cao nhất trong giai đoạn này là lập Plan nghiên cứu. Plan càng chi tiết, các bạn càng dể phân bố thời gian cho đồ án và làm việc hiệu quả hơn.

- Giai đoạn 2 - Research: Giai đoạn này các bạn tập trung tìm hiểu những nền tảng mới mà đồ án hướng đến. Tất giai đoạn này dài ngắn phụ thuộc nhiều vào tính chất của đồ án, nếu đồ án làm về những vấn đề hoàn toàn mới thì giai đoạn này sẽ dài ra. Trong giai đoạn này, khi thực hiện các bạn sẽ làm cả việc document và viết những checklist cần thiết cho giai đoạn sau là dựng demo hệ thống. Nếu giai đoạn này làm càng kỹ, các bạn sẽ khỏe về sau.

- Giai đoạn 3 - Demo: Các bạn sẽ tiến hành dựng demo về nó thông qua những gì các bạn đã nghiên cứu trong giai đoạn Research trước đó. Giai đoạn này các bạn cũng sẽ tiến hành test lỗi. Với thối quen "chạy được là mừng" của các bạn thì giai đoạn này nghe có vẽ lạ lẩm. Việc test giúp các bạn hiểu rỏ hệ thống mình hơn. Các bạn chắc không muốn lúc thử nghiệm thì ok mà demo cho thầy xem thì nó lỗi phải ko?

- Giai đoạn 4 - Document: Giai đoạn này các bạn sẽ tiến hành ra soát và document hoàn chỉnh cho đồ án. và Fix những lỗi phát sinh nếu có. Giai đoạn này thường sẽ ngắn nhưng nên buffer trong plan nhiều 1 tí để giải quyết sự cố phát sinh.

Bước 4: Cấu trúc của một đồ án và Hoàn thành đồ án

Cấu trúc của 1 bài khóa luận có thể được chia ra làm những mục chính sau đây:


  • Nhiệm vụ của khóa luận tốt nghiệp (down trên web khoa)
  • Nhận xét của giáo viên hướng dẫn
  • Nhận xét của giáo viên phản biện
  • Lời cảm ơn
  • Mục lục
  • Danh mục hình vẽ
  • Danh mục các từ viết tắt
  • PhầnI: Mở đầu (phần này đa phần được lấy trong đề cương nghiên cứu)
    • Thực trạng (lý do chọn đề tài)
    • Mục đích nghiên cứu
    • Đối tượng nghiên cứu
    • Phạm vi nghiên cứu
    • Tóm tắt đề tài
  • Phần II: <Nền tảng lý thuyết>
  • Phần III: <Demo>
  • Phần IV: Kết luận (Trong phần này các bạn nói về những gì đạt được sau thực hiện đề tài và hướng phát triển trong tương lai)
  • Tài liệu tham khảo (Cái này phải có, nếu không sẽ bị bắt bẻ trong quá trình bảo vệ)
Đây là cấu trúc của 1 bài báo cáo đồ án mà ac7ive đã áp dụng với bài báo cáo của mình. Với phần đầu, nhiệm vụ khóa luận thì TLCN ngành sẽ không có. Nếu có thời gian, ac7ive sẽ nói rỏ hơn về kỹ thuật làm word cho các đồ án này. Vì hình như khoa ta, kỹ năng làm word hơi bị yếu thì phải :mummy:.

Trong quá trình viết đồ án, tuyệt đối không được đưa vào những thông tin mà mình không biết rỏ về nó. Sẽ rất tai hại nếu bị hỏi vào những chổ các bạn chỉ... cười trừ cho qua chuyện.

Sau quá trình được xem là quan trọng nhất của đồ án, thì các bạn tiến hành đọc lại đồ án. Trong quá trình này, các bạn phải contact rất nhiều với GVHD để xin những ý kiến đống góp phù hợp cho đồ án.

Đây là những lưu ý với đồ án:

  • Check kỹ lỗi chính tả (tương đối thôi nhưng có vẫn còn hơn không :ok:)
  • Format của bài viết phải thống nhất với nhau, tất cả phải có 1 chuẩn chung để tránh trường hợp tab từa lưa làm bài viết thiếu hẳn tính thẩm mỹ. Đừng để người đọc nhìn vào mà... không muốn đọc là được.
  • Đọc lại thật kỹ đồ án vài lần. Phải đảm bảo bạn phải thuộc cả đồ án để tránh việc vạch lá tìm sâu sau này của GV trong hội đồng. (tới cảnh giới chỉ đọc vài câu đã biết nó nằm chổ nào là ok :012:)
  • Với những thuật ngữ mới lạ trong đồ án, tốt nhất nên có 1 phần để giải thích thuật ngữ chuyên ngành, thường là sau phần mục lục và trong phần phụ lục.
Sau khi tất cả các công đoạn hoàn thành, các bạn sẽ tiến hành đi đi in đồ án của mình. Với TLCN, việc in khá đơn giản, nếu thích màu mè với bìa, các bạn có thể làm để lấy cảm tình với GV hội đồng. Tất nhiên là màu bìa không quá lòe loẹt (làm 1 bìa đỏ nổi chẳng hạn =.=").

Nhưng với ĐATN, các bạn phải có bước đi làm bìa, thường thì mẫu làm bìa sẽ được cung cấp trên trang web khoa. Và thời gian làm bìa mất cũng khối thời gian (1-2 tuần) nên các bạn phải có nó trong plan của mình. Năm của ac7ive, các thầy yêu cầu có 2 bản in với bìa mạ vàng và 1 bản photo bình thường (1 cái là giữa lại cho khoa, 1 cái là đưa cho GVHD còn bản photo còn lại đưa cho GVPB), số lượng sẽ tăng nếu các bạn có 2 GVHD. Nhưng ac7ive nghĩ nên làm 3 cái mạ vàng và 1 bản photo. Bản còn lại là để các bạn lưu giữ lại cho bản thân :). Nó có thể có ích với 1 số chổ đi xin việc. Và với đồ án, các bạn phải nộp đĩa cho khoa chứa doc, source code và file Presentation.

Hết quá trình này, sẽ tiến đến trận đánh cuối cùng. Bảo vệ trước hội đồng.

Bước 5: Bảo vệ đồ án

Để hiểu rỏ hơn tính chất của 1 buổi báo cáo ta đi làm rỏ nó trước đã (lý thuyết quá nhĩ). Báo cáo ĐATN gồm những đặc điểm sau:

- Báo cáo chia làm 2 buổi (TLCN vì không có GVPB nên tất nhiên cũng sẽ ko có buổi báo cáo phản biện). Buổi báo cáo riêng với giáo viên phản biện, đây được xem là buổi báo cáo căn thẳng nhất vì thời gian là ... vô tư nên giáo viên phản biện muốn hỏi gì hòi. đây ko hẳn gọi là buổi presentation mà chỉ là buổi trao đổi về đề tài. Nói chung điểm yếu của đề tài cái nào cũng có, vấn đề là các bạn giấu nó dc đến mức độ nào thui :051:.

- Mõi nhóm có 30 phút trình bày và trả lời câu hỏi (không tính thời gian set up) trong buổi báo cáo chính thức. Nhưng thường, các bạn sẽ có 20 phút cho trình bày (báo cáo lý thuyết và demo) và trả lời 3 câu hỏi của 3 giáo viên trong 10 phút.

- Hội đồng gồm có 3 người: giáo viên hướng dẫn, giáo viên phản biện, 1 ủy viên (ko biết dùng đúng từ hem).

- Trong buổi báo cáo chính thức mang nặng tính hình thức hơn là cung cấp thông tin, do thông tin của 2 giáo viên hướng dẫn và giáo viên phản biện đã lấy từ trước đó, còn ủy viên chỉ thuộc dạng "cửi ngựa xem hoa" nên họ ko hỏi quá lắc léo. Tuy nhiên buổi này cũng có thể gọi là buổi "lấy lại điểm" đã mất với giáo viên phản biện khi buổi báo cáo phản biện ko thành công.

- Điểm bảo vệ sẽ được thông báo sau mõi buổi báo cáo của từng hội đồng. Thông thường cuối buổi sáng và cuối buổi chiều.

Do tính chất buổi phản biện mang nặng hơi hướng giao tiếp cá nhân nên ac7ive ko nói sâu vào nó. Nói chung buổi đó, các bạn tốt nhất nên show nhứng cái mình control dc, còn lại thì chờ thời, nói chung là làm vài thủ thuật với bài báo cáo để tránh hỏi vào cái mình ko biết.

Kinh nghiệm khi trình bày buổi bảo vệ trước hội đồng. Dù gì, với bản thân mõi sinh viên, buổi này vẫn luôn là buổi quan trọng nhất, các bạn đã học 5 năm ở trường, có trên 5 tháng làm đề tài thì lúc này 30 phút để bạn thể hiện tất cả những gì bạn có. Sự tập trung cho nó là tuyệt đối. để chuẩn bị cho nó các bạn cần đi theo những bước sau:

- Định hình cái mình sẽ nói và nên nói: Đề tài các bạn có thể làm rất nhiều, nhưng trong gần 20 phút trình bày, sự chọn lựa những gì để nói là điều cơ bản nhất cho buổi báo cáo. "Tốt khoe xấu che" là 1 cách, nhưng sẽ hay hơn nếu các bạn cố tình tạo "điểm mờ" để dẫn dụ người nghe đi theo hướng suy nghĩ của bạn. Tuy nhiên, cách này có thể không an toàn nếu người nghe ko sập bẩy, lúc này vô tình bạn mất đi 1 điểm cộng.

- Làm slide, timing cho phù hợp: Trong quá trình làm slide, bố cục slide phải có đủ các phần như sau: Agenda, nội dung đề tài (có thể đi vào chi tiết với mức độ sâu phù hợp), những kết quả sau khi làm đề tài (khóa luận), hướng phát triển trong tương lai, lời kết cho đề tài. Trong qua trình làm slide, các bạn phải canh thời gian cực chuẩn để tranh đi dài lê thê. Nên nhớ, nếu quá dài, hội đồng có thể kêu bạn dừng trình bày mà vào thẳng phần câu hói và nó là 1 điểm trừ rất lớn.

- Tinh chỉnh, và làm kịch bản sẽ nói: Lúc này các bạn tiến hành báo cáo thử và viết lại những lời nói của mình vào 1 file word. sau khi báo cáo, các bạn tinh chỉnh lại đoạn nói cho phù hợp, thêm bớt thông tin để có khoảng thời gian báo cáo cho phù hợp.

- Kiểm tra lại bài phát biểu: Học thuộc lại phần bài báo cáo để luyện khả năng nói không cần nhìn slide, lúc này, nó thể hiện sự tự tin trong bài phát biểu của bạn. Lưu ý, học thuộc không có nghĩa là học vẹt, đứng lên nói như cái máy mà có nhấn vào những điểm quan trọng trong bài.

- Sau lướt qua vài chục lần bài phát biểu, các bạn nên dừng và xem xét lại bài báo cáo 1 cách khách quan bằng cách nhìn bài báo cáo từ phía 1 giáo viên (có thể nhờ 1 người bạn nghe và cho ý kiến), họ sẽ hỏi cái gì, lúc này các bạn chuẩn bị kịch bản cho việc trả lời câu hỏi. Sau đó chuẩn bị những slide có thể dùng, và đưa ra sau slide "The End" để làm tư liệu nếu trong quá trình hỏi cần có mà dùng.

Đây là slide ac7ive dùng cho buổi bảo về ĐATN của mình:


Code:
http://cid-04ad005fadae28ee.office.live.com/self.aspx/Public/report/Presentation.rar

Các giai đoạn trong buổi bảo vệ:
- Chuẩn bị: Mọi việc tất nhiên đều cần phải chuẩn bị, vậy cơ bản sự chuẩn bị đây là gì? :smells:, thư giản đầu óc, càng căng thẳng càng chết (với khoa ta thì bảo vệ ko phải là việc đâu tiên nên ko đáng sợ lắm). Đến sớm, khoảng 1-2h trước báo cáo để check kỹ những hệ thông/Ứng dụng chạy ok hay chưa. Tốt nhất nên có những snapshot để backup trong những lúc như thế này :016:. Phong cách ăn mặc lịch sự, gái thì váy hoặc áo dài (recommend), trai thì quần tây áo semi (cavat với ĐATN).

- Báo cáo: Quá trình chuẩn bị ở trên tốt thì quá trình này sẽ đơn giản hơn rất nhiều :). Thái độ càng tự tin trong báo cáo, các bạn càng dể có được đánh giá cao. Sự khởi đầu bài báo cáo nên có sự giới thiệu sơ qua nội dung của Đề tài của mình, và agenda của bài báo cáo. Tốt hơn nữa thì thiết lập 1 số rule nhất định trong bài báo cáo để hạn chế sự can thiệp không mong muốn từ môi trường bên ngoài. Cuối bài nên có phần tổng kết đề tài, những giá trị mang lại của đề tài và phương hướng phát triển của đề tài.

- Trả lời câu hỏi: Trước tiên, hãy xác định scope nào mình nắm ở đâu, nếu những câu hỏi ở ngoài scope thì phải warning ngay chứ đừng để bị xa đà vào những chuyện đó. Lưu ý tiếp theo là hãy biết giữ chính kiến, nếu bị rơi vào trường hợp đuối lý trước những trang luật từ phía hội đồng thì đừng tuyên bố những ý kiến mình đưa ra trước đó là sai, mà hãy nói là sẽ "ghi nhận/tiếp thu". Và cuối cùng, cố gắn đừng tạo sự ức chế cho người nghe dù bất kỳ 1 lý do gì :016:.

- Kết thúc: Thường thì có màn cám ơn (ba me, thầy cô,... hay bạn gái chẳng hạn :welcome:). Xong rồi sẽ được nghe ý kiến đánh giá từ phía hội đồng. Cuối buổi thì nghe điểm của mình.


Xong đề tài thì thường có màn.... ăn nhậu chia vui/chia buồn hay.... chia tay gì đó :snicker:. Và ac7ive cũng xin kết thúc loạt bài "Kinh nghiệm làm tiểu luận chuyên ngành"ở đây. :welcome:




Bài viết trên đã trình bày khá là chi tiết kinh nghiệm làm đồ án, có lẽ cũng không cần phải bổ xung gì về nội dung chia sẻ, tuy nhiên mình có một lưu ý với các bạn chưa hoặc chuẩn bị làm đồ án một chút.
Cách thức, trình tự bảo vệ đồ án, ngay cả cách tính thang điểm của các trường là khác nhau (sau này thế nào không rõ), các bạn nên dựa theo quy định của trường mà áp dụng một cách thông minh các kinh nghiệm chia sẻ ở trên. Nếu áp dụng rập khuôn bị gì thì vào link nguồn kia kêu tác giả  chứ mình vô can nhé ^^. Như ở trường mình thì như sau :
  • Thực tập của bên mình từ cuối tháng 10 đến 14/1 thì kiểm tra. Điểm thực tập chiếm 9 trình
  • Giao đồ án là ngày 31/1/2012
  • Kiểm tra tiến độ lần 1 vào 28/2, lần 2 vào 31/2
  • Thu đồ án vào 27/4
  • Bảo vệ thử 9/5 : chỉ gọi 1 người lên để trình bày và các thày góp ý sửa chứ không có như ở trên qua mấy vòng đâu. Phần lớn mọi người đều chỉ có 1 lần bảo vệ chính thức còn các thày có cho kiểm tra trước không thì tùy thuộc vào thày hướng dẫn.
  • Bảo vệ vào ngày 10-17/5

Mạng viễn thông - Sự phân lớp trong mạng viễn thông - mô hình OSI

Bài này là một phần trong bài viết lấy từ trang vntelecom, gồm 3 phần :
  • Phần đầu giới thiệu khái niệm về viễn thông : xem thêm ( mạng viễn thông thì nó tổng quát hơn là chỉ các máy tính nối với nhau) Mạng máy tính
  • Phần hai là phần tổng quan các lĩnh vực trong viễn thông đã được tách làm một bài viết riêng ở đây
  • Phần ba là phần này, có thể dùng làm một bài viết riêng hoặc bổ xung cho phần trên mình post. Phần này mình đặt ở mục Mạng viễn thông. 
Các bạn nếu muốn xem bài viết gốc thì có thể xem nguồn trích dẫn ở dưới cùng của bài viết này.
Viết lại định nghĩa mạng viễn thông :

Mạng viễn thông

Thông thường, thông tin trao đổi giữa hai thực thể (source và sink) sẽ được truyền qua nhiều thực thể trung gian để tạo thành một đường nối (logical link) giữa 2 thực thể này. Tất cả các thực thể tham gia cấu thành cho quá trình trao đổi thông tin này tạo thành một mạng (network) viễn thông.



Hình 4: Ví dụ mạng ad hoc

Một ví dụ đơn giản về mạng đó là mạng ad hoc như ở hình 4. Trong mạng này, bất kỳ 2 thực thể nào cũng có thể liên lạc với nhau hoặc trực tiếp, hoặc thông qua các thực thể trung gian khác. Một ví dụ phức tạp hơn là thực thể A kết từ PDA tới AP wifi bằng không dây. AP wifi lại nối kết phía sau modem ADSL đến SDLAM (cáp ADSL). DSLAM sẽ nối kết vào mạng lõi. Ở đâu bên kia, thực thể đối thoại B nối kết vào mạng lõi thông qua mạng di động UMTS chẳng hạn. Mô hình mạng vừa miêu tả ở trên được thể hiện ở hình 5 dưới đây.


Hình 5: Kiến trúc mạng viễn thông

Nhìn về kiến trúc mạng, ta có thể dễ dàng phân biệt 2 mạng: mạng truy cập (access network) và mạng lõi (core network/ transport network). Sự phân chia này khá rõ ràng trong mô hình mạng tế bào.
Đây là phần mình trích dẫn tiếp:

Nói về sự phân lớp (layering) trong mạng viễn thông.

Như đã nói ở trên, thông tin trao đổi giữa 2 người dùng A và B (trên hình 5) sẽ phải được truyền qua nhiều thực thể mạng . Bạn có thể nhận ra rằng, những gì đề cập ở trên hình 2 về truyền thông chỉ có thể áp dụng được cho trường hợp liên lạc trực tiếp (ví dụ giữa trạm phát sóng và người dùng, hoặc 2 người kết nối bluetooth). Trong trường hợp hai người A và B trao đổi thông tin với nhau thông qua các thực thể mạng khác, rõ ràng chúng ta cần phải thiết lập các luật lệ (rules), các định dạng (format) để quản lý/điều hành các giao tiếp trung gian này. Tất cả các luật, định dạng, v.v..được gọi chung là giao thức (protocol).

Tất cả các tương tác, phối hợp giữa các thực thể sẽ được quy định thông qua các giao thức. Nói một cách trừu tượng, vai trò quan trọng của một giao thức là nhằm mô tả, quy định các semantics của một thông điệp (message) và ý nghĩa của các bit thông tin chứa trong thông điệp đó. Giao thức cũng quy định những điều (actions) mà một thực thể phải thực hiện khi nhận được một thông điệp nhất định. Ví dụ một router nhận được một gói thông tin IP, thì nhiệm vụ của nó là tìm địa chỉ IP đích đến và tiếp tục forward gói thông tin đấy đến router lân cận nó hoặc đến người nhận.

Các dịch vụ, chức năng của một mạng viễn thông sẽ được thực hiện thông qua các giao thức. Một mạng mà cung cấp nhiều dịch vụ, thì đòi hỏi cũng phải có nhiều giao thức. Các giao thức này có thể độc lập với nhau, hoặc phụ thuộc lẫn nhau. Sự phụ thuộc được thể hiện ở việc một action trong 1 giao thức này là đi thực hiện một giao thức khác. Sự phụ thuộc đó còn được gọi là phân lớp (layering).



Hình 7: Mô hình 7 lớp OSI

Các giao thức ở lớp dưới sẽ cung cấp dich vụ mà sẽ được sử dụng bởi các giao thức ở lớp trên nó trong qua trình thực hiện của các giao thức ở lớp phía trên. Khi lớp ở trên sử dụng dịch vụ của lớp ở dưới, nó chỉ cần biết để sử dụng dịch vụ ở dưới nó cần cung cấp thông tin gì và cuối cùng nó sẽ cho ra kết quả gì. Lớp ở trên không cần phải biết lớp dưới được xây dựng/thiết kế như thế nào cả. Điều đó cho phép các lớp ở dưới thay đổi mà không làm ảnh hưởng đến các lớp ở trên. Đấy là một lợi điểm quan trong của việc phân lớp. Bên cạnh lợi điểm nói trên, còn hai lợi điểm nổi bật khác. Quan trọng nhất đó là việc chia lớp cho phép chia nhỏ bài toán phức tạp trong viễn thông ra thành nhiều phần nhỏ để dễ giải quyết và quản lý. Một lợi điểm nữa là các lớp ở trên có thể cùng tận dụng dịch vụ cung cấp bởi lớp ở dưới.

Mô hình cơ bản nhất (đầy đủ nhất và dư thừa nhất) là mô hình 7 lớp OSI (Open System Interconnection). 7 lớp từ thấp đến cao là: Physical, data link, network, transport, session, presentation và application, như thể hiện ở hình 7. Tuy nhiên trong mạng Internet ngày nay, người ta chỉ dùng 5 lớp như ở hình 8. Cụ thể là trong Internet người ta thấy không cần thiết phải có lớp presentation và lớp session. Nguyên nhân của nó được đề cập trong phấn vai trò của các lớp.




Hình 8: Minh họa trao đổi thông tin qua các lớp trong Internet

Vai trò của các lớp như sau :

7. Application layer: là tập hợp tất cả các ứng dụng chạy trên thiết bị đầu cuối. Nên nhớ rằng Internet không phải là một ứng dụng. Các ứng dụng quen thuộc như: browser, server, email, real-time audio, http, ftp,..

6. Presentation: Mục đích của lớp này là chuyển đổi thông tin từ các loại application khác nhau sang một dạng chuẩn. Đôi khi presentation chứa chức năng mã hóa thông tin. Tuy nhiện trong Internet, người ta dùng một chuẩn định dạng duy nhất cho thông tin, nên không cần phải có lớp này nữa.

5. Session layer: Trong hệ thống mà không có một kết nối full-duplex, thì session sẽ quản lý 2 nối kết khác nhau để cung cấp bidirectional service (đối với các ứng dụng). Vì trong Internet người ta có kết nối full-duplex nên không cần thiết phải có lớp này.

4. Transport: Cung cấp dịch vụ vận chuyển gói thông tin đầu cuối (end-to-end) giữa 2 người dùng. Nó có thể đảm bảo thông tin được truyền đến tận người nhận, có thể truyền lại gói thông tin nếu thông tin bị thất lạc trên đường truyền, có thể tập hợp thông tin từ nhiều ứng dụng khác nhau vào một kết nối. Nói đến transport thì phải kể đến TCP và UDP.

3. Network layer (còn gọi là IP layer). Nhiệm vụ của lớp này là cắt thông tin thành nhiều đoạn phù hợp với yêu cầu của link layer. Dĩ nhiên ở chiều ngược lại thì nó sẽ nối kết các đoạn thông tin thuộc cùng một gói lại với nhau khi nhận được chúng từ lớp link . Một một thực thể sẽ có một địa chỉ mạng (network-layer address). Dựa vào địa chỉ này mà thông tin được truyền đi qua mạng, qua nhiều trung gian khác nhau.

2. Data link: Các thiết bị mạng đều có một địa chỉ data link (địa chỉ MAC). Điều này giúp nối kết 2 thực thể trong cùng một local area network (LAN). Một nhiệm vụ quan trọng của data link là phân chia quyền sử dụng (access) medium giữa nhiều người dùng khác nhau. (TDMA, CDMA....).

1. Physical layer: Như đã nói ở trên, nhiệm vụ của nó là chuyển thông tin (dưới dạng bit) giữa hai thực thể nối kết với nhau bằng 1 đường truyền vật lý (physical link).

Nhìn ở một gốc độ nào thì sự phân lớp này nhằm để phân loại các giao thức dùng trong viễn thông. Tuy nhiên sự phân lớp ấy đang ngày càng bị xâm chiếm (violate) bởi các giao thức cross-layer. Một hạn chế của việc phân lớp này là thông tin ở lớp dưới bị chê giấu đối với lớp trên (information hidden). Ngày nay, ngày càng có nhiều giao thức đi sâu vào sử dụng các thông tin dùng trong nhiều lớp khác nhau để tối ưu hoạt động của nó. Ví dụ trong qua trình scheduling (phân chia xem thông tin nào gửi trước, thông tin nào gửi sau) ở data link layer, nếu nó biết được thông tin về độ ưu tiên của từng người dùng, loại ứng dụng, v.v. thì scheduling có thể sẽ ưu tiên gửi thông tin của người có độ ưu tiên cao, hoặc người dùng dịch vụ real-time để giảm độ trễ (delay).


Hình 9: Các lớp trong mạng UMTS

Bên cạnh đó cũng phải kể đến khuynh hướng thêm và bớt các lớp vào trong mô hình này. Từ đấy mới xuất hiện các khái niệm lớp 2.5, lớp 3.5. Người ta cho một layer mới vào giữa lớp 2 và lớp 3, nên gọi nó là lớp 2.5. Sự phân lớp trong mạng truy cập di động của có phần khác biệt với sự có mặt của nhiều lớp mới, như các lớp của mạng UMTS trên hình 9. Do môi trường truyền không dây thay đổi rất phức tạp, việc quản lý tài nguyên và truy cập vào kênh truyền khó khăn, dữ liệu truyền đi có thể không được nhận một cách tốt nhất, xác suất lỗi lớn, nên data link lớp vẫn thường được chia thành 2 layer nhỏ hơn (sub layer) là MAC (medium acess control) và LLC (logical link control)/RLC (Radio link control). Lớp MAC quản lý việc truy cập vào môi trường truyền và phân bổ tài nguyên là các kênh truyền vật lý cho các thiết bị. LLC/RLC quản lý việc phát hiện lỗi và quyết định cách thức thông báo (ACK) và đề nghị truyền lại dữ liệu. Trong mô hình ở hình 9, các lớp dành cho truyền thông tin và truyền tín hiệu điều khiển (control signalling) cũng khá khác nhau.

Nguồn http://vntelecom.org/diendan/content.php?r=16-tongquanvevienthong

Các giao thức trong các lớp của mô hình OSI:

Mô hình OSI thấy được đặt ra để làm cái chung và để học tập, so sánh chứ chưa thấy mạng nào thiết kế hoàn toàn giống thế .
Các bạn có thể xem thêm ở wiki để giải thích kỹ hơn chức năng các lớp trong mô hình OSI :

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes