Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2012

Điều khiển lỗi

Trong quá trình truyền frame thì dữ liệu không phải lúc nào cũng đến đích mà luôn có một tỉ lệ lỗi nào đó.
Kiểm soát lỗi là cơ chế phát hiện và sửa lỗi xảy ra, đảm bảo dữ liệu đến đích đúng và chính xác (hay tỉ lệ lỗi thấp hơn một ngưỡng cho phép nào đó, xem thêm ).
Cơ chế kiểm soát lỗi dựa trên một số hoạt động sau :
  • Phát hiện lỗi: dùng các mã phát hiện chẵn lẻ, CRC (thấy hay dùng trong kỹ thuật), còn nếu trong internet người dùng hay tự check file thì dùng md5, SHA256 ...
  • Phúc đáp dương ACK (positive ACKnowledgement): báo rằng truyền ok
  • Phúc đáp âm NAK (Negative AcKnowledgement): báo rằng frame truyền bị lỗi
  • Tự phát lại sau một thời gian nhất định: khi frame bị mất trong quá trình truyền, không nhận được tín hiệu phản hồi hoặc bên thu nhận được nhưng tín hiệu phản hồi bị mất.
Cơ chế này dựa trên kỹ thuật điều khiển luồng, gọi là ARQ (Automatic Repeat Request - tự động yêu cầu phát lại). Có 3 phương án cơ bản :
    Điều khiển lỗi có thể coi là kỹ thuật điều khiển luồng có tính đến sai lệch khi truyền, thực tế chắc cũng ít kênh nào đạt được tỉ lệ lỗi cực thấp đến nỗi có thể dùng thẳng điều khiển luồng mà chắc dùng điều khiển lỗi (thông cảm chưa có kinh nghiệm thực tế gì nên đoán vậy)

    ITU (International Telecommunication Union - Telecommunication Standardization Sector)

    ITU-T là cụm từ viết tắt của International Telecommunication Union - Telecommunication Standardization Sector là lĩnh vực Tiêu chuẩn viễn thông - thuộc Tổ chức Viễn thông quốc tế.

    Giới thiệu về ITU

    • ITU là Tổ chức viễn thông quốc tế thuộc Liên hiệp quốc, được thành lập vào năm 1865 (với tên gọi tiền thân là Liên minh Điện báo quốc tế - International Telegraph Union). Các hoạt động của ITU bao trùm tất cả các vấn đề thuộc ngành Công nghệ Viễn thông và Thông tin gồm có điều phối các quốc gia trên toàn cầu trong việc chia sẻ và sử dụng các tài nguyên Viễn thông như tần số vô tuyến điện, quỹ đạo vệ tinh, hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông tại các nước đang phát triển và xây dựng các tiêu chuẩn chung trên thế giới về kết nối các hệ thống liên lạc. ITU cũng đang tham gia nghiên cứu và tìm giải pháp cho các thách thức chung trên toàn cầu trong thời đại hiện nay như biến đổi khí hậu và bảo mật, an toàn thông tin.
    • ITU có 3 lĩnh vực hoạt động chính gồm: ITU-T (Viễn thông - Telecom), ITU-R (Thông tin vô tuyến - Radio), ITU-D (Phát triển viễn thông - Telecommunications Development).
    • Trụ sở của ITU hiện được đặt tại Geneva, Thuỵ Sỹ. Tính tới thời điểm hiện nay, số lượng thành viên của ITU là 191 Quốc gia thành viên và hơn 700 thành viên lĩnh vực và thành viên liên kết.

    Thứ Sáu, 16 tháng 3, 2012

    Kỹ thuật cửa sổ trượt (Sliding Window)

    Một kỹ thuật điều khiển luồng , tốt hơn kỹ thuật dừng và đợi .

    a. Hoạt động
    Bên phát được phát tối đa w khung trước khi nhận báo nhận(w:kích thước cửa sổ)
    Mỗi khi phát 1 khung w giảm đi 1 đơn vị,mỗi khi nhận 1 báo nhận,w lại tăng lên 1 đơn vị,khi w=0 thì không được phép phát tiếp

    Do bên phát được phát đồng thời w khung nên cần có 1 trường đánh số thứ tự các khung tin

    Giả sử cần k bit đánh số thứ tự các khung tin thì 1<= w <= 2^k - 1



    Vd: Dùng 3 bit đánh số thứ tự các khung tin => w<8, chọn w=7, máy thu phải có bộ nhớ đệm để lưu trữ và xử lý tương ứng.


    ở ví dụ này bên phát được phép truyền tối đa 3 frame tiếp theo. Lúc đầu bên máy phát sẽ truyền đi 3 frame và chờ phản hồi, nếu có ACK (như trên hình là RR3 tức là đã sẵn sàng nhận frame 3 trở đi) thì bên phát sẽ gửi tiếp, tuy nhiên cùng với thời gian gửi thì bên thu cũng gửi lại RR để báo bên phát còn có thể truyền bao nhiêu frame nữa. Nếu như bên thu bị sao đó hoặc "chán" không muốn nhận thêm thì chỉ đơn giản không gửi nữa , bên phát sẽ chỉ phát được đến mức tối đa 7 frame từ thông báo cuối cùng thôi hoặc nếu gửi chậm chậm thì bên phát sau khi truyền thả phanh đến hét bộ đệm bên thu thì khi nào nhận được thông báo mới bắt đầu truyền tiếp.


    b.Hiệu suất
    Hiệu suất của kỹ thuật sliding window được tính như sau
    +n = 1 nếu w>=2a+1
    +n = w / (1+2a) nếu w<2a+1


    Vẫn ví dụ gửi thư như ở bài kỹ thuật dừng và đợi :
    Giờ không gửi một bức thư nữa, người miền nam bảo cứ gửi thư đi, hòm thư nhà tao chứa được 10 bức chẳng hạn. Thời gian thì vẫn mất 2 ngày để nhận thư, còn thời gian để viết xong thư coi như là 1 ngày 1 bức đi (15 phút 1 bức thì không thể viết suốt ngày đêm được, lâu rồi cũng chán).
    Đầu tiên phải viết 1 bức hỏi xem bên kia thế nào, có muốn nhận thư không, nhận được bao nhiêu, quá trình khởi động mất 5 ngày ( mất 2 ngày để thư đến đích, 1 ngày để bên kia viết và 2 ngày để thư đáp trả lại).
    Bên nhận thư báo lại là cứ viết thoải mái đi, hoặc không thấy hồi âm thì thôi khỏi gửi. Nếu nhận thông báo ok, từ đây người viết ngày nào cũng viết cũng gửi. Khi đó người viết đã viết đến bức thứ 6 thì nhận được thông tin là đã ok thư thứ nhất(tức là có thể truyền đến thư thứ 11) thì mới đầy hòm thư, hôm sau người viết viết thư thứ 7 thì lại thông báo có thể truyền đến thư 12 ... cứ thế, không mất công đợi , hiệu suất 100% nếu bên nhận gửi cũng nhanh bằng hoặc hơn bên gửi, nếu bên kia xử lý chậm đọc chậm thì hòm thư cứ đầy dần, người gửi thấy 10 bức không thấy hồi âm thì sẽ dừng lại, đến khi bên kia gửi xác nhận thì mới gửi tiếp nên không bị đầy, "bục" hòm thư.
    Phương thức này hiệu suất cao, maximum 100% (tất nhiên nếu không tính giai đoạn khởi động chờ xem bên kia có phản hồi không hay lại nhầm địa chỉ đi đâu), tốt hơn dừng và đợi nhiều, nhưng cần bộ đệm.

    Ở trên mình giải thích trong trường hợp có thể song công (vừa truyền vừa nhận), nếu chỉ có truyền hoặc nhận (không đồng thời được) thì cũng chỉ giống như truyền stop and wait vì gửi tối đa n frame với ghép n frame thành 1 frame để truyền (trong stop and wait) thì cũng như nhau thôi, có điều nếu lỗi thì cái này không phải truyền lại toàn bộ frame như stop and wait.

    Khung và gói tin (Frame and Packet) khác nhau thế nào

    Frame là unit cuả lớp 2 còn packet là unit cuả lớp 3. Xem mô hình OSI
    Khác nhau cơ bản cuả hai lớp là lớp 2 làm việc physical addressing còn lớp 3 là logical addressing. Do chức năng khác nhau nên frame dùng địa chỉ MAC còn packet dùng địa chỉ IP. Bạn có thể xem địa chỉ MAC là số chứng minh nhân dân còn địa chỉ IP là số nhà.
    Từ sự khác nhau cơ bản này dẫn đến các điểm khác trong cấu trúc và chức năng.

    Nguồn http://vntelecom.org/diendan/showthread.php?t=10662&p=85341#post85341

    Thường thì người ta hay dùng thuật ngữ gói tin nhiều hơn vì mạng nội bộ thì dùng frame (lớp 2 chỉ có chức năng liên kết trong phạm vi 1 mạng thôi) nhưng thường mở rộng ra nhiều mạng -> lại gói tin , và cũng thuận mồm hơn nên nhiều khi xét ở lớp 2 vẫn dùng từ gói tin như thường. Nếu bị bắt chẹt từ ngữ quá hoặc khi cần tách biệt rõ ràng thì các bạn cần phân biệt như trên.

    Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế - ISO

    Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (tiếng Anh: International Organization for Standardization; viết tắt: ISO hay iso) là cơ quan thiết lập tiêu chuẩn quốc tế bao gồm các đại diện từ các tổ chức tiêu chuẩn các quốc gia. Được thành lập vào ngày 23 tháng 2 năm 1947, tổ chức này đã đưa ra các tiêu chuẩn thương mại và công nghiệp trên phạm vi toàn thế giới.
    Trong khi ISO xác định mình như là một tổ chức phi chính phủ (NGO), khả năng của tổ chức này trong việc thiết lập các tiêu chuẩn - thông thường trở thành luật định thông qua các hiệp định hay các tiêu chuẩn quốc gia - làm cho nó có nhiều sức mạnh hơn phần lớn các tổ chức phi chính phủ khác, và trên thực tế tổ chức này hoạt động như một côngxoocxiom với sự liên kết chặt chẽ với các chính phủ. Những người tham dự bao gồm một tổ chức tiêu chuẩn từ mỗi quốc gia thành viên và các tập đoàn lớn.
    ISO hợp tác chặt chẽ với Hội đồng kỹ thuật điện quốc tế (International Electrotechnical Commission, viết tắt IEC), là tổ chức chịu trách nhiệm tiêu chuẩn hóa các thiết bị điện.

    Tên gọi

    Tổ chức này thông thường được nhắc tới một cách đơn giản là ISO (đọc là ai zô). Điều này hay dẫn đến sự hiểu lầm rằng ISO là International Standards Organization, hay là một điều gì đó tương tự. ISO không phải là từ viết tắt, nó có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp isos, có nghĩa là tương đương. Trong tiếng Anh tên gọi của nó là International Organization for Standardization, trong khi trong tiếng Pháp nó được gọi là Organisation Internationale de Normalisation; để sử dụng từ viết tắt được tạo ra bởi các từ viết tắt khác nhau trong tiếng Anh (IOS) và tiếng Pháp (OIN), những người sáng lập ra tổ chức này đã chọn ISO làm dạng viết ngắn gọn chung cho tên gọi của nó. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng ISO cũng xác định mình như là International Organization for Standardization trong các báo cáo của họ.

    Tiêu chuẩn Quốc tế và những xuất bản khác

    Sản phẩm chính của ISO là các Tiêu chuẩn Quốc tế, nhưng ISO cũng tạo ra các Báo cáo Kỹ thuật, Chi tiết Kỹ thuật, Chi tiết Kỹ thuật Công bố Rộng rãi, Bản Sửa lỗi Kỹ thuật, và Hướng dẫn Sử dụng.
    Các tiêu chuẩn ISO là các số, và có định dạng trong đó chứa "ISO[/IEC] [IS] nnnnn[:yyyy]: Tiêu đề" trong đó "nnnnn" là số tiêu chuẩn, "yyyy" là năm công bố, và "Tiêu đề" miêu tả đối tượng điều chỉnh. IEC sẽ chỉ được kèm vào nếu tiêu chuẩn là kết quả từ các công việc của JTC1. Ngày và IS sẽ luôn luôn bị loại bỏ trong tiêu chuẩn chưa hoàn thiện hay chưa công bố, và cả hai có thể (trong những tình huống nhất định) bị loại bỏ trong tiêu đề của công trình đã công bố.
    Ngoài việc đưa ra các tiêu chuẩn, ISO cũng tạo ra các báo cáo kỹ thuật cho các tài liệu mà chúng không thể hay không có khả năng trở thành các tiêu chuẩn quốc tế, chẳng hạn các tham chiếu, giải thích v.v. Các quy ước đặt tên cho chúng là giống với việc đặt tên cho các tiêu chuẩn với ngoại lệ là chúng có cụm từ TR thế vào chỗ của cụm từ IS trong tên gọi của tiêu chuẩn. Ví dụ:
    • ISO/IEC TR 17799:2000 Mã thông lệ của Quản lý an ninh thông tin.
    • ISO TR 15443-1/3 Công nghệ Thông tin – Các kỹ thuật An ninh – Khuôn khổ cho Đảm bảo An ninh Công nghệ thông tin (IT) 1-3
    Cuối cùng, ISO thỉnh thoảng cũng ấn hành các Sửa lỗi kỹ thuật. Các sửa lỗi này là các sửa đổi đối với các tiêu chuẩn hiện hành vì các lỗi kỹ thuật nhỏ phát sinh hay là sự hoàn thiện đối với khả năng sử dụng, hay đối với việc mở rộng khả năng áp dụng trong một giới hạn nào đó. Nói chung, các sửa lỗi này được ấn hành với dự tính là các tiêu chuẩn chịu ảnh hưởng sẽ được cập nhật hay được bỏ đi trong lần xem xét kế tiếp.

    Bản quyền của các tài liệu ISO

    Các tài liệu ISO là có bản quyền và ISO tính phí cho việc sao chép của phần lớn các trường hợp. Tuy nhiên ISO không tính phí trong phần lớn các bản sao chép các phác thảo của các tài liệu ở dạng điện tử. Mặc dù có ích, cần phải cẩn thận khi sử dụng các bản phác thảo này vì ở đây có thể có những thay đổi quan trọng trước khi nó trở thành hoàn thiện như là một tiêu chuẩn.

    Những vấn đề trong thập niên 1990

    Trong những năm thập niên 1990, ISO có tiếng là chậm chạp, quan liêu và không nhạy cảm đối với những phản ứng từ cả những người chu cấp tài chính và khách hàng của họ. Một dự án có vấn đề là dự án Open Systems Interconnect (Các hệ thống tương kết mở) khá lớn, với cố gắng phát triển một tiêu chuẩn mạng máy tính duy nhất, nhưng cuối cùng đã thất bại năm 1996 sau khi sa vào vũng lầy trong các vấn đề về khả năng liên kết hoạt động và các cãi vã giữa các nhà cung cấp tài chính. Sự chú ý sau đó chuyển hướng sang dự án trên cơ sở tình nguyện, quy trình mở và phi lợi nhuận là Internet Engineering Task Force (IETF), nó phát triển các tiêu chuẩn cần thiết cho Internet hoạt động. Khi IETF trở thành quá chậm, các nhà cung cấp tài chính bắt đầu cấp vốn cho các côngxoocxiom có định hướng và nhanh nhạy hơn như W3C, một tổ chức mở và phi lợi nhuận khác được lãnh đạo bởi người phát minh ra World Wide Web là Tim Berners-Lee. Kể từ đó, ISO đã thực hiện những cải tổ vừa phải nhằm giảm thời gian cần thiết để công bố các tiêu chuẩn mới.
    Các tiêu chuẩn quốc tế của ISO trong mọi phương diện đều không ràng buộc với bất kỳ quốc gia hay ngành công nghiệp nào, nó đơn thuần chỉ với tư cách là các tiêu chuẩn quốc tế. Điều này cho phép trong một số tình huống thì một số tiêu chuẩn nào đó có thể mâu thuẫn với các yêu cầu và dự tính xã hội, văn hóa hay pháp lý. Nó cũng phản ánh một thực tế là các chuyên gia trong nước và quốc tế chịu trách nhiệm tạo ra các tiêu chuẩn này không phải lúc nào cũng đồng ý và không phải mọi đề xuất đều có thể trở thành tiêu chuẩn bởi sự biểu quyết nhất trí hoàn toàn. Các quốc gia riêng biệt và các tổ chức tiêu chuẩn của họ vẫn là người phân xử cuối cùng.

    Những sản phẩm được đặt tên theo ISO

    Một thực tế là rất nhiều tiêu chuẩn của ISO là phổ biến đã dẫn đến việc sử dụng phổ biến của "ISO" để miêu tả các sản phẩm thực tế mà nó phù hợp với tiêu chuẩn. Một số ví dụ là:
    • Các CD image kết thúc với đuôi mở rộng tệp "ISO" để báo hiệu rằng chúng sử dụng hệ thống tệp tiêu chuẩn ISO 9660 (có thể các hệ thống tệp khác cũng được sử dụng) – kể từ đây các CD image nói chung được nhắc đến như là các "ISO". Thực tế mọi máy tính với các ổ CD-ROM có thể đọc các đĩa CD có sử dụng tiêu chuẩn này. Các DVD-ROM cũng sử dụng các hệ thống tệp ISO 9660.
    • Độ nhạy sáng của phim ảnh, tốc độ của nó được đo và xác định bằng tiêu chuẩn ISO, vì vậy tốc độ phim thông thường được nói đến như là "số ISO" của nó. Các tiêu chuẩn tương đương là ASA và DIN của nó.

    Ủy ban kỹ thuật chung ISO/IEC số 1

    Để giải quyết các hậu quả của sự chồng lấn thực tế trong lĩnh vực tiêu chuẩn hóa và các công việc liên quan tới công nghệ thông tin, ISO và IEC đã thành lập Ủy ban kỹ thuật chung, được biết đến như là ISO/IEC JTC1. Nó là ủy ban loại như vậy đầu tiên và cho đến nay vẫn là duy nhất. Sự ủy nhiệm chính thức của ủy ban này là:
    Phát triển, duy trì, khuyến khích và thuận tiện hóa các tiêu chuẩn IT được yêu cầu bởi các thị trường toàn cầu để phù hợp với các nhu cầu kinh doanh và người dùng bao gồm:
    • Thiết kế và phát triển các hệ thống và công cụ IT,
    • Tính thực thi và chất lượng của các sản phẩm và hệ thống IT
    • An ninh của các hệ thống IT và thông tin
    • Tính linh động của các chương trình ứng dụng
    • Thao tác giữa các bộ phận của các sản phẩm và hệ thống IT
    • Hợp nhất các công cụ và môi trường
    • Hòa hợp từ vựng IT
    • Các giao diện người dùng thân thiện và hài hòa
    Hiện tại có 18 tiểu ban (SC):
    • SC 02 – Các bộ ký tự mã hóa
    • SC 06 – Trao đổi liên lạc và thông tin giữa các hệ thống
    • SC 07 – Công nghệ phần mềm và hệ thống
    • SC 17 – Thẻ và nhận dạng cá nhân
    • SC 22 – Ngôn ngữ lập trình, môi trường của chúng và các hệ thống giao diện phần mềm
    • SC 23 – Các thiết bị lưu trữ số hóa tháo lắp sử dụng công nghệ ghi quang học và/hoặc từ tính cho số hóa
    • SC 24 – Đồ họa máy tính và xử lý ảnh
    • SC 25 – Liên kết thiết bị công nghệ thông tin
    • SC 27 – Các kỹ thuật an ninh công nghệ thông tin
    • SC 28 – Các thiết bị văn phòng
    • SC 29 – Mã hóa thông tin âm thanh, hình ảnh, đa truyền thông và siêu truyền thông
    • SC 31 – Nhận dạng tự động và các kỹ thuật bắt giữ số liệu
    • SC 32 – Quản lý và trao đổi dữ liệu
    • SC 34 – Mô tả tài liệu và các ngôn ngữ xử lý
    • SC 35 – Giao diện người dùng
    • SC 36 – Công nghệ thông tin trong giảng dạy, học tập và tập huấn
    • SC 37 – Sinh trắc học
    Tư cách thành viên trong ISO/IEC JTC1 được hạn chế giống như tư cách thành viên trong cả hai tổ chức sinh ra tổ chức này. Thành viên có thể là chính thức (P) hay quan sát (O) và khác biệt chủ yếu là khả năng biểu quyết về các tiêu chuẩn được đề xuất và các sản phẩm khác. Không có yêu cầu đối với bất kỳ thành viên nào trong việc duy trì hai (hay bất kỳ) địa vị nào trong tất cả các tiểu ban. Mặc dù hiếm, các tiểu ban có thể được thành lập để giải quyết các tình huống mới (SC 37 mới được chuẩn y năm 2004) hay giải tán nếu như các việc không còn thích hợp nữa.

    Tổ chức này đã đưa ra mô hình OSI vẫn được giảng rất nhiều trong mạng viễn thông

    Thứ Năm, 15 tháng 3, 2012

    Kỹ thuật dừng và đợi(Stop and wait)

    Là một kỹ thuật điều khiển luồng đơn giản nhất 

    a. Hoạt động
    Giả sử có 2 bên phát A và thu B, bên A muốn truyền dữ liệu sang bên B.
    Bên A sẽ gửi 1 Frame tín hiệu sang B, nếu bên B có thể tiếp nhận được gói tin (chưa bị quá tải) thì bên B sẽ gửi lại tín hiệu ACK (acknowledgement) để xác nhận là đã nhận được gói tin, bên A nhận được xác nhận thì gửi tiếp, cứ thế mà truyền dần dần từng gói.
    Nếu bên B đang nhận quá nhiều thông tin (bên A gửi nhiều quá hoặc đơn giản nhiều bên khác gửi) thì bên B đơn giản là xử lý xong thông tin đã rồi mới gửi ACK -> không bị quá tải.

    b. Hiệu suất

    Gọi n là hiệu suất của kỹ thuật dừng và đợi

    Tf là thời gian truyền 1 khung tin

    Td là thời gian trễ trên đường truyền
    Tp là thời gian xử lý 1 khung tin
    Tack là thời gian phát ACK của bên thu
    Tp’ là thời gian xử lý ACK

    Gọi T là thời gian cần thiết để phát xong 1 khung tin

    T=Tf+Td+Tp+Tack+Td+Tp’

    n = Tf / T


    Do Tp,Tp’,Tack là rất nhỏ so với Tf nên T = Tf+2Td

    Vậy n = Tf / (Tf+2Td) = 1 / (1+2a) với a = Td / Tf


    Nhìn công thức thì sẽ thấy nếu Td nhiều thì hiệu suất n sẽ thấp.
    Nếu Td rất nhiều thì hiệu suất cực thấp luôn. Ví dụ kiểu truyền tin sơ khai nhé :

    Giả sử Tf như thời gian viết 1 bức thư (15 phút nếu văn phong có hạn), có thể ví như quá trình truyền khung tin ở trên (ở đây là từ não ra giấy) và thời gian gửi thư từ miền bắc vào nam là 2 ngày (thư giấy), như là trễ đường truyền.
    Giả sử bạn gửi 1 bức thư từ miền bắc vào miền nam , mất 2 ngày chẳng hạn, miền nam đọc được thư rồi thì gửi lại thư xác nhận cho miền bắc, thêm 2 ngày nữa, rồi miền bắc lại gửi thư cho miền nam, thêm 2 ngày nữa. Quá trình gửi và đợi rất tốn thời gian so với quá trình viết thư.

    Tuy nhiên nếu thời gian truyền thư là ngắn (a nhỏ) ví dụ bức thư viết truyền tay trong lớp (mất 10 giây chẳng hạn) thì hiệu suất rất cao : 15 phút viết mới mất 10 giây truyền và bên kia viết thư trả lời 15 phút nữa rồi truyền lại, chỉ mất chi phí 20 giây cho 30 phút viết (truyền dữ liệu), hiệu suất n cao.

    Lịch sử phát triển của kỹ thuật chuyển mạch

    • Năm 1876 Alecxand Graham Bell đã sáng chế ra máy điện thoại. Sáng chế này mở ra kỷ nguyên phát triển mạnh mẽ của ngành viễn thông nói chung của kỹ thuật chuyển mạch nói riêng.
    • Năm 1877 máy điện thoại tại nhà riêng đầu tiên được đưa vào sử dụng.
    • Năm 1878 tổng đài nhân công được đưa vào sử dụng tại New Haven (Mỹ).ví dụ như P193M; P194M;P198M…
    • Năm 1881 Cuộc gọi điện thoại đường dài đầu tiên được thực hiện.
    • Năm 1889 Hai anh em nhà Strowger sáng chế ra Tổng đài tự động kiểu nhảy nấc. (Như YATC-49; XY; A52C…). Hệ thống EMD do công ty Siemens của Đức chế tạo cũng thuộc loại này.
    • Do đại chiến thế giới lần II bùng nổ sự cố gắng tạo ra các tổng đài kiểu mới bị tạm thời đình chỉ. Sau chiến tranh hãng Ericsson của Thuỵ Điển đã chế tạo ra các tổng đài tự động kiểu ngang dọc. Các loại tổng đài thuộc loại này như: ATZ65; ATCK100/2000…
    • Năm 1960 thử nghiệm trường chuyển mạch điện tử đầu tiên.
    • Năm 1963 Sáng chế máy điện thoại ấn phím và Tổng đài chuẩn điện tử.
    • Năm 1965 Tổng đài điện tử SPC (Stored Program Control) thương mại có dung lượng lớn ESS số 1 được thương mại hoá thành công ở Mỹ do vậy đã mở ra một kỷ nguyên mới cho các hệ tổng đài điện tử.
    • Năm 1970 Tổng đài điện tử số đầu tiên E10A (Pháp).
    • Năm 1976 Tổng đài điện tử số hoàn toàn đầu tiên DMS100 (Ca-na-đa).
    • Năm 1977 sáng chế Internet, cáp sợi quang và Thông tin di động.
    • Năm 1988 sáng chế ATM (Asynchronous Transfer Mode); B-ISDN (Broadband   Integrated Service Digital Network) mở đầu cho NGN (Next Generation Netwok).
    • Năm 1996 chuyển mạch IP (Internet Protocol).
    • Năm 1997  chuyển mạch mềm (Softswitch).
    • Năm 2001 các hãng bắt đầu ứng dụng VoIP.
    • Năm 2002 Bắt đầu ứng dụng các dịch vụ NGN.
    • Ngày nay IMS (IP Mutimedia Subsystem) đang được nghiên cứu ứng dụng
    Nguồn : lấy từ slide môn chuyển mạch dạy trên lớp

    Thứ Tư, 14 tháng 3, 2012

    Chuyển mạch ATM (Asynchronous Transfer Mode)

    KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ ATM

    1. Định nghĩa và các đặc điểm chính của ATM

    B-ISDN theo ITU-T dựa trên cơ sở kiểu truyền không đồng bộ ATM (Asynchronous Transfer Mode). Như vậy ATM sẽ là nền tảng của B-ISDN trong tương lai.

    Trong kiểu truyền không đồng bộ, thuật ngữ "truyền" bao gồm cả lĩnh vực truyền dẫn và chuyển mạch, do đó "dạng truyền" ám chỉ cả chế độ truyền dẫn và chuyển mạch thông tin trong mạng.

    Thuật ngữ "không đồng bộ" giải thích cho một kiểu truyền trong đó các gói trong cùng một cuộc nối có thể lặp lại một cách bất bình thường như lúc chúng được tạo ra theo yêu cầu cụ thể mà không theo chu kỳ.


    ATM còn có hai đặc điểm quan trọng:

    Thứ nhất, ATM sử dụng các gói có kích thước nhỏ và cố định gọi là các tế bào ATM (ATM Cell), các tế bào nhỏ cùng với tốc độ truyền lớn sẽ làm cho trễ truyền và biến động trễ (Delay Jitter) giảm đủ nhỏ đối với các dịch vụ thời gian thực, ngoài ra kích thước nhỏ cũng sẽ tạo điều kiện cho việc hợp kênh ở tốc độ cao được dễ dàng hơn.

    Thứ hai, ATM còn có một đặc điểm rất quan trọng là khả năng nhóm một vài kênh ảo (Virtual Channel) thành một đường ảo (Virtual Path), nhằm giúp cho việc định tuyến được dễ dàng.


    2. Các lĩnh vực công nghệ mới quyết định sự ra đời và phát triển của ATM

    Có hai yếu tố ảnh hưởng tới ATM, đó là:

    * Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ bán dẫn cũng như công nghệ quang điện tử.
    * Sự phát triển các ý tưởng mới về khái niệm hệ thống.

    2.1. Các tiến bộ về mặt công nghệ

    Công nghệ bán dẫn:

    Công nghệ CMOS là công nghệ rất có triển vọng bởi độ tích hợp lớn, tốc độ cao (cỡ vài trăm Mbit/s tới vài Gbit/s), độ rộng băng truyền lớn, kích thước nhỏ, độ mềm dẻo cơ học cao, tránh được nhiễu của trường điện tử, xác suất truyền lỗi thấp và không có nhiễu xuyên âm.

    2.2. Các ý tưởng mới về khái niệm hệ thống

    Các quan điểm mới về hệ thống được phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, đó là hệ thống phải có độ mềm dẻo thích hợp, độ rộng băng của hệ thống phải tuỳ thuộc vào yêu cầu của từng dịch vụ cụ thể, các dịch vụ thời gian thực được truyền theo phương pháp chuyển mạch gói.

    Các ý tưởng này phải thoả mãn hai chức năng chính của mạng là:

    Tính trong suốt về mặt nội dung:(Semantic Transparency):

    Tính trong suốt về mặt nội dung là chức năng đảm bảo việc truyền đúng các bit từ đầu phát tới đầu thu (tức là sự chính xác về mặt nội dung).

    Khi mới ra đời, trong các mạng chuyển mạch gói, chất lượng truyền số liệu còn kém, do đó để đảm bảo chất lượng truyền chấp nhận được, người ta phải thực hiện chức năng điều khiển lỗi trên mọi liên kết (Link).Việc điều khiển lỗi này được thực hiện bởi các giao thức HDLC (High-Level Data Link Control) bao gồm các chức năng: giới hạn khung (Frame Delimiting), đảm bảo truyền bit chính xác, kiểm tra lỗi (kiểm tra mã dư vòng CRC-Cyclic Redundancy Check), sửa lỗi bằng các thủ tục truyền lại. Hình 1.3. trình bày thủ tục điều khiển lỗi đầy đủ của mạng chuyển mạch gói thông qua mô hình liên kết các hệ thống mở OSI. Ta thấy quá trình điều khiển lỗi được thực hiện trên mọi liên kết (Link-by-Link) thông qua nút chuyển mạch, do đó nút chuyển mạch phải xử lý một loạt các thủ tục phức tạp khác nhau làm ảnh hưởng đến tốc độ xử lý chung của hệ thống.

    Sau này do chất lượng của hệ thống truyền dẫn và chuyển mạch tăng lên nên tỷ lệ lỗi trên mạng giảm. Với một mạng chất lượng cao như vậy, người ta chỉ cần thực hiện một số chức năng của thủ tục HDLC như chức năng giới hạn khung, chức năng truyền bit chính xác, kiểm tra lỗi trên cơ sở từ liên kết tới liên kết (Link-by-Link). Như vậy chỉ có những chức năng này được cung cấp bởi các nút chuyển mạch trong mạng còn các chức năng khác như sửa lỗi sẽ được thực hiện trên cơ sở từ đầu cuối tới đầu cuối (End-to-End). Bằng cách này người ta đã giảm được khối lượng thông tin mà nút chuyển mạch cần sử lý, nhờ đó mà tốc độ xử lý của nút tăng lên. Như vậy lớp 2 trên mô hình OSI được chia thành hai lớp con, lớp 2a chuyên cung cấp các chức năng cơ bản của lớp 2, lớp 2b cung cấp các chức năng bổ sung. Các hệ thống ứng dụng nguyên lý này được gọi là chuyển tiếp khung (frame relay). Các nguyên lý này được trình bày trên hình 1.4.

    Đối với B-ISDN ý tưởng này còn được mở rộng hơn nữa, các chức năng điều khiển lỗi không còn được cung cấp ở các nút chuyển mạch trong mạng nữa mà trong trường hợp cần thiết, sẽ được cung cấp bởi các thiết bị đầu cuối. Như vậy các chức năng được thực hiện trong mạng được giảm từ điều khiển lỗi đầy đủ (Full error Control) ở mạng chuyển mạch gói X.25 xuống còn cực kỳ tối thiểu ở mạng ATM, do đó các nút của ATM có độ phức tạp tối thiểu và vì thế có tốc độ truyền rất cao, có thể lên tới 600 Mbit/s (hình 1.5). Bảng 1.1 trình bày các chức năng được thực hiện ở nút mạng ATM so với mạng chuyển mạch gói và chuyển tiếp khung.

    Theo support.vnn.vn


    Nguyên lý ghép kênh thời gian không đồng bộ ATDM (Asynchronous Time Division Multiplexing) hay còn gọi là phương thức chuyển giao không đồng bộ ATM(Asynchronous Transfer Mode) tức là đường truyền được phân chia một cách linh hoạt cho các kênh tùy theo nhu cầu (ghép kênh thống kê - Statistical Multiplexing).

    Bạn có thể thấy rõ việc không đồng bộ này như khi search google, nhiều khi bạn gõ thì google trễ 1 ít thì mới hiện danh sách gợi ý ở cửa sổ nhập, nhưng bạn vẫn có thể gõ thoải mái được, tuy nhiên nếu là đồng bộ thì tức là bạn gõ 1 chữ, nó sẽ đơ trang web đến khi hiện danh sách, rồi bạn mới gõ tiếp được. Đấy là một ví dụ bên tin học, lấy cái này làm ví dụ tạm.

    nói chung thì chuyển mạch ATM là chuyển mạch gói, các gói kích thước bằng nhau (tức là chuyển mạch tế bào) và cộng thêm truyền dẫn không đồng bộ.

    Chuyển mạch bản tin

    Là chuyển mạch mà thông tin được đóng gói (đây có thể coi là chuyển mạch gói sơ khai) thành thành một gói tin (ngoài thông tin cần mang còn kèm theo địa chỉ nguồn, địa chỉ đích, check lỗi ... có thể đặt thông tin đó ở đầu, cuối hay giữa gói tin nhưng người ta thường gọi là header của gói tin). Gói tin đó được gửi qua các nút mạng, theo một cách nào đó để đến đích (có nhiều thuật toán và giải pháp tìm đường lắm).
    Đơn giản là vậy, nhưng thực tế thì mình chưa thấy mạng nào dùng chuyển mạch này, trong sách chuyển mạch cũng nói là không có mạng chuyên dụng chuyển mạch bản tin.
    Nguyên nhân là bản tin gửi đi thông tin có thể rất nhỏ (ví dụ 1 file text), có thể rất lớn (một file phim bluray vài chục gb chẳng hạn) và sẽ nảy sinh ra một loạt các vấn đề :
    • Bộ nhớ đệm các nút rất có khả năng là không đủ dung lượng.
    • Thời gian truyền tải bản tin giữa các nút có thể rất lớn, nếu giả sử nhiều máy giả sử kết nối từ A đến B buộc phải đi qua nút C mà trong lúc đó đang truyền tải file cực lớn của 1 máy từ A thì các máy khác đợi xong file đó rồi mới đến lượt mình (Nếu thời gian truyền file đó chỉ cỡ 1 tiếng thôi thì cũng đã sốt ruột lắm rồi). Nói chung là dễ gây tắc nghẽn
    • Lỗi 1 phát thì truyền lại từ đầu.
    • Nếu dữ liệu dạng stream ví dụ phát sóng trực tiếp truyền hình, chắc phải hết chương trình người ta mới đóng gói lại thành 1 file để gửi đi.
    • ....
    Và người ta đã nghĩ ra là chia nhỏ gói tin đấy ra để truyền và giải quyết được tất cả các vấn đề ở trên:
    • Gói tin nhỏ nên không cần bộ đệm lớn quá
    • Các gói tin từ nhiều nguồn có thể xen kẽ, như trường hợp ở trên cùng đi qua nút C nhưng không nhất thiết phải chờ máy 1 truyền hết file rồi mới đến lượt mình mà chỉ cần hết gói tin là các máy khác có thể đến lượt rồi, tốc độ truyền được chia sẻ, công bằng hơn.
    • Lỗi thì truyền lại gói lỗi thôi
    • Dữ liệu dạng stream thì ví dụ 1 mili giây ghi vào 1 gói tin rồi truyền ngay, không cần đợi lâu.
    • ....
    Xem thêm http://tongquanvienthong.blogspot.com/2012/03/ky-thuat-chuyen-mach.html

    FIREWALL

    Firewall là gì ?

    Thuật ngữ Firewall có nguồn gốc từ một kỹ thuật thiết kế trong xây dựng để ngăn chặn, hạn chế hoả hoạn. Trong công nghệ mạng thông tin, Firewall là một kỹ thuật đ­ợc tích hợp vào hệ thống mạng để chống sự truy cập trái phép, nhằm bảo vệ các nguồn thông tin nội bộ và hạn chế sự xâm nhập không mong muốn vào hệ thống. Cũng có thể hiểu Firewall là một cơ chế (mechanism) để bảo vệ mạng tin t­ởng (Trusted network) khỏi các mạng không tin t­ởng (Untrusted network).

    Thông th­ờng Firewall đ­ợc đặt giữa mạng bên trong (Intranet) của một công ty, tổ chức, ngành hay một quốc gia, và Internet. Vai trò chính là bảo mật thông tin, ngăn chặn sự truy nhập không mong muốn từ bên ngoài (Internet) và cấm truy nhập từ bên trong (Intranet) tới một số địa chỉ nhất định trên Internet.

    Chức năng chính

    Chức năng chính của Firewall là kiểm soát luồng thông tin từ giữa Intranet và Internet. Thiết lập cơ chế điều khiển dòng thông tin giữa mạng bên trong (Intranet) và mạng Internet. Cụ thể là:

    Cho phép hoặc cấm những dịch vụ truy nhập ra ngoài (từ Intranet ra Internet).
    Cho phép hoặc cấm những dịch vụ phép truy nhập vào trong (từ Internet vào Intranet).
    Theo dõi luồng dữ liệu mạng giữa Internet và Intranet.
    Kiểm soát địa chỉ truy nhập, cấm địa chỉ truy nhập.
    Kiểm soát ng­ời sử dụng và việc truy nhập của ng­ời sử dụng.
    Kiểm soát nội dung thông tin thông tin l­u chuyển trên mạng.
    Các thành phần

    Firewall chuẩn bao gồm một hay nhiều các thành phần sau đây:

    Bộ lọc packet (packet-filtering router)
    Cổng ứng dụng (application-level gateway hay proxy server)
    Cổng mạch (circuite level gateway)
    Bộ lọc paket (Paket filtering router)

    Nguyên lý

    Khi nói đến việc l­u thông dữ liệu giữa các mạng với nhau thông qua Firewall thì điều đó có nghĩa rằng Firewall hoạt động chặt chẽ với giao thức TCI/IP. Vì giao thức này làm việc theo thuật toán chia nhỏ các dữ liệu nhận đ­ợc từ các ứng dụng trên mạng, hay nói chính xác hơn là các dịch vụ chạy trên các giao thức (Telnet, SMTP, DNS, SMNP, NFS…) thành các gói dữ liệu (data pakets) rồi gán cho các paket này những địa chỉ để có thể nhận dạng, tái lập lại ở đích cần gửi đến, do đó các loại Firewall cũng liên quan rất nhiều đến các packet và những con số địa chỉ của chúng.

    Bộ lọc packet cho phép hay từ chối mỗi packet mà nó nhận đ­ợc. Nó kiểm tra toàn bộ đoạn dữ liệu để quyết định xem đoạn dữ liệu đó có thoả mãn một trong số các luật lệ của lọc packet hay không. Các luật lệ lọc packet này là dựa trên các thông tin ở đầu mỗi packet (packet header), dùng để cho phép truyền các packet đó ở trên mạng. Đó là:

    Địa chỉ IP nơi xuất phát ( IP Source address)
    Địa chỉ IP nơi nhận (IP Destination address)
    Những thủ tục truyền tin (TCP, UDP, ICMP, IP tunnel)
    Cổng TCP/UDP nơi xuất phát (TCP/UDP source port)
    Cổng TCP/UDP nơi nhận (TCP/UDP destination port)
    Dạng thông báo ICMP ( ICMP message type)
    Giao diện packet đến ( incomming interface of packet)
    Giao diện packet đi ( outcomming interface of packet)
    Nếu luật lệ lọc packet đ­ợc thoả mãn thì packet đ­ợc chuyển qua firewall. Nếu không packet sẽ bị bỏ đi. Nhờ vậy mà Firewall có thể ngăn cản đ­ợc các kết nối vào các máy chủ hoặc mạng nào đó đ­ợc xác định, hoặc khoá việc truy cập vào hệ thống mạng nội bộ từ những địa chỉ không cho phép. Hơn nữa, việc kiểm soát các cổng làm cho Firewall có khả năng chỉ cho phép một số loại kết nối nhất định vào các loại máy chủ nào đó, hoặc chỉ có những dịch vụ nào đó (Telnet, SMTP, FTP…) đ­ợc phép mới chạy đ­ợc trên hệ thống mạng cục bộ.

    Ưu điểm

    Đa số các hệ thống firewall đều sử dụng bộ lọc packet. Một trong những ­u điểm của ph­ơng pháp dùng bộ lọc packet là chi phí thấp vì cơ chế lọc packet đã đ­ợc bao gồm trong mỗi phần mềm router.
    Ngoài ra, bộ lọc packet là trong suốt đối với ng­ời sử dụng và các ứng dụng, vì vậy nó không yêu cầu sự huấn luyện đặc biệt nào cả.

    Hạn chế

    Việc định nghĩa các chế độlọc package là một việc khá phức tạp; đòi hỏi ng­ời quản trị mạng cần có hiểu biết chi tiết vể các dịch vụ Internet, các dạng packet header, và các giá trị cụ thể có thể nhận trên mỗi tr­ờng. Khi đòi hỏi vể sự lọc càng lớn, các luật lệ vể lọc càng trở nên dài và phức tạp, rất khó để quản lý và điều khiển.
    Do làm việc dựa trên header của các packet, rõ ràng là bộ lọc packet không kiểm soát đ­ợc nôi dung thông tin của packet. Các packet chuyển qua vẫn có thể mang theo những hành động với ý đồ ăn cắp thông tin hay phá hoại của kẻ xấu.
    Cổng ứng dụng (application-level getway)

    Nguyên lý

    Đây là một loại Firewall đ­ợc thiết kế để tăng c­ờng chức năng kiểm soát các loại dịch vụ, giao thức đ­ợc cho phép truy cập vào hệ thống mạng. Cơ chế hoạt động của nó dựa trên cách thức gọi là Proxy service. Proxy service là các bộ code đặc biệt cài đặt trên gateway cho từng ứng dụng. Nếu ng­ời quản trị mạng không cài đặt proxy code cho một ứng dụng nào đó, dịch vụ t­ơng ứng sẽ không đ­ợc cung cấp và do đó không thể chuyển thông tin qua firewall. Ngoài ra, proxy code có thể đ­ợc định cấu hình để hỗ trợ chỉ một số đặc điểm trong ứng dụng mà ng­òi quản trị mạng cho là chấp nhận đ­ợc trong khi từ chối những đặc điểm khác.

    Một cổng ứng dụng th­ờng đ­ợc coi nh­ là một pháo đài (bastion host), bởi vì nó đ­ợc thiết kế đặt biệt để chống lại sự tấn công từ bên ngoài. Những biện pháp đảm bảo an ninh của một bastion host là:

    Bastion host luôn chạy các version an toàn (secure version) của các phần mềm hệ thống (Operating system). Các version an toàn này đ­ợc thiết kế chuyên cho mục đích chống lại sự tấn công vào Operating System, cũng nh­ là đảm bảo sự tích hợp firewall.
    Chỉ những dịch vụ mà ng­ời quản trị mạng cho là cần thiết mới đ­ợc cài đặt trên bastion host, đơn giản chỉ vì nếu một dịch vụ không đ­ợc cài đặt, nó không thể bị tấn công. Thông th­ờng, chỉ một số giới hạn các ứng dụng cho các dịch vụ Telnet, DNS, FTP, SMTP và xác thực user là đ­ợc cài đặt trên bastion host.
    Bastion host có thể yêu cầu nhiều mức độ xác thực khác nhau, ví dụ nh­ user password hay smart card.
    Mỗi proxy đ­ợc đặt cấu hình để cho phép truy nhập chỉ một sồ các máy chủ nhất định. Điều này có nghĩa rằng bộ lệnh và đặc điểm thiết lập cho mỗi proxy chỉ đúng với một số máy chủ trên toàn hệ thống.
    Mỗi proxy duy trì một quyển nhật ký ghi chép lại toàn bộ chi tiết của giao thông qua nó, mỗi sự kết nối, khoảng thời gian kết nối. Nhật ký này rất có ích trong việc tìm theo dấu vết hay ngăn chặn kẻ phá hoại.
    Mỗi proxy đều độc lập với các proxies khác trên bastion host. Điều này cho phép dễ dàng quá trình cài đặt một proxy mới, hay tháo gỡ môt proxy đang có vấn để.
    Ưu điểm

    Cho phép ng­ời quản trị mạng hoàn toàn điều khiển đ­ợc từng dịch vụ trên mạng, bởi vì ứng dụng proxy hạn chế bộ lệnh và quyết định những máy chủ nào có thể truy nhập đ­ợc bởi các dịch vụ.
    Cho phép ng­ời quản trị mạng hoàn toàn điều khiển đ­ợc những dịch vụ nào cho phép, bởi vì sự vắng mặt của các proxy cho các dịch vụ t­ơng ứng có nghĩa là các dịch vụ ấy bị khoá.
    Cổng ứng dụng cho phép kiểm tra độ xác thực rất tốt, và nó có nhật ký ghi chép lại thông tin về truy nhập hệ thống.
    Luật lệ lọc filltering cho cổng ứng dụng là dễ dàng cấu hình và kiểm tra hơn so với bộ lọc packet.
    Hạn chế

    Yêu cầu các users thay đổi thao tác, hoặc thay đổi phần mềm đã cài đặt trên máy client cho truy nhập vào các dịch vụ proxy. Chẳng hạn, Telnet truy nhập qua cổng ứng dụng đòi hỏi hai b­ớc để nối với máy chủ chứ không phải là một b­ớc thôi. Tuy nhiên, cũng đã có một số phần mềm client cho phép ứng dụng trên cổng ứng dụng là trong suốt, bằng cách cho phép user chỉ ra máy đích chứ không phải cổng ứng dụng trên lệnh Telnet.
    Cổng vòng (circuit-Level Gateway)

    Cổng vòng là một chức năng đặc biệt có thể thực hiện đ­ợc bởi một cổng ứng dụng. Cổng vòng đơn giản chỉ chuyển tiếp (relay) các kết nối TCP mà không thực hiện bất kỳ một hành động xử lý hay lọc packet nào.

    Hình d­ới đây minh hoạ một hành động sử dụng nối telnet qua cổng vòng. Cổng vòng đơn giản chuyển tiếp kết nối telnet qua firewall mà không thực hiện một sự kiểm tra, lọc hay điều khiển các thủ tục Telnet nào.Cổng vòng làm việc nh­ một sợi dây,sao chép các byte giữa kết nối bên trong (inside connection) và các kết nối bên ngoài (outside connection). Tuy nhiên, vì sự kết nối này xuất hiện từ hệ thống firewall, nó che dấu thông tin về mạng nội bộ.

    Cổng vòng th­ờng đ­ợc sử dụng cho những kết nối ra ngoài, nơi mà các quản trị mạng thật sự tin t­ởng những ng­ời dùng bên trong. Ưu điểm lớn nhất là một bastion host có thể đ­ợc cấu hình nh­ là một hỗn hợp cung cấp Cổng ứng dụng cho những kết nối đến, và cổng vòng cho các kết nối đi. Điều này làm cho hệ thống bức t­ờng lửa dễ dàng sử dụng cho những ng­ời trong mạng nội bộ muốn trực tiếp truy nhập tới các dịch vụ Internet, trong khi vẫn cung cấp chức năng bức t­ờng lửa để bảo vệ mạng nội bộ từ những sự tấn công bên ngoài.

    Những hạn chế của firewall

    Firewall không đủ thông minh nh­ con ng­ời để có thể đọc hiểu từng loại thông tin và phân tích nội dung tốt hay xấu của nó. Firewall chỉ có thể ngăn chặn sự xâm nhập của những nguồn thông tin không mong muốn nh­ng phải xác định rõ các thông số địa chỉ.
    Firewall không thể ngăn chặn một cuộc tấn công nếu cuộc tấn công này không “đi qua” nó. Một cách cụ thể, firewall không thể chống lại một cuộc tấn công từ một đ­ờng dial-up, hoặc sự dò rỉ thông tin do dữ liệu bị sao chép bất hợp pháp lên đĩa mềm.
    Firewall cũng không thể chống lại các cuộc tấn công bằng dữ liệu (data-drivent attack). Khi có một số ch­ơng trình đ­ợc chuyển theo th­ điện tử, v­ợt qua firewall vào trong mạng đ­ợc bảo vệ và bắt đầu hoạt động ở đây.
    Một ví dụ là các virus máy tính. Firewall không thể làm nhiệm vụ rà quét virus trên các dữ liệu đ­ợc chuyển qua nó, do tốc độ làm việc, sự xuất hiện liên tục của các virus mới và do có rất nhiều cách để mã hóa dữ liệu, thoát khỏi khả năng kiểm soát của firewall.
    Tuy nhiên, Firewall vẫn là giải pháp hữu hiệu đ­ợc áp dụng rộng rãi.

    Nguồn google.com.vn

    Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

     
    Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes