Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Chủ Nhật, 18 tháng 3, 2012

IETF - The Internet Engineering Task Force

Lực lượng đặc nhiệm kỹ thuật Internet (IETF-The Internet Engineering Task Force) là một cộng đồng quốc tế mở rộng lớn của các nhà thiết kế mạng, các nhà khai thác, các nhà cung cấp thiết bị và các nhà nghiên cứu quan tâm tới sự phát triểưn của kiến trúc Internet và hoạt động ổn định của Internet. Đây là tổ chức mở cho bất kỳ ai quan tâm. Nhiệm vụ của IETF nằm trong tài liệu RFC 3935.
Tổ chức IETF phát triển và xúc tiến các tiêu chuẩn Internet, có quan hệ hợp tác gần gũi với các tổ chức tiêu chuẩn W3C và ISO/IEC; và cụ thể xử lý các tiêu chuẩm TCP/IP và bộ giao thức Internet. Đây là một tổ chức mở, tổ chức tiêu chuẩn tình nguyện, không đòi hỏi yêu cầu đối với các thành viên chính thức và không chính thức.
IETF được tổ chức thành một số lượng lớn các nhóm nghiên cứu và BoFs, mỗi nhóm liên quan tới một chủ đề riêng như định tuyến, truyền tải, an ninh,..... Mỗi nhóm sau khi hoàn thành chủ đề đó thì giải tán. Mỗi nhóm nghiên cứu có một trưởng nhóm được bổ nhiệm (thỉnh thoảng là một số đồng trưởng nhóm) cùng với một tuyên bố về mục tiêu dự định làm gì, khi nào hoàn thành. Nhiều công việc được thực hiện qua . IETF tổ chức họp 3 lần một năm.
Các nhóm nghiên cứu của IETF được nhóm theo các lĩnh vực, và được quản lý bởi các giám đốc vùng (các AD). AD bổ nhiệm các trưởng nhóm nghiên cứu. Các AD cùng với trưởng IETF tạo thành Nhóm điều khiển kỹ thuật Internet (IESG), nhóm này chịu toàn bộ trách nhiệm hoạt động của IETF.
IETF là một hoạt động chính thức dưới sự bảo trợ của Xã hội Internet. Thực hiện giám sát kiến trúc là Ban kiến trúc Internet (IAB). IAB cũng xét xử các khiếu nại khi có ai đó kêu ca rằng IESG đã sai. IAB và IESG có đủ tư cách phù hợp với xã hội Internet. Tổng giám đốc vùng cũng là trưởng của IESG và của IETF và một thành viên đương nhiên của IAB.

CHIẾN LƯỢC CẢI THIỆN TỪ VỰNG TOEIC

Một trong những cách tốt nhất để nâng cao vốn từ vựng của bạn là đọc, và đọc thường xuyên. Khi bạn đọc, bạn cần chú ý nghĩa của từ trong ngữ cảnh.

Bạn càng đọc thì bạn càng thấy nhiểu từ. Bạn càng thấy nhiều từ thì bạn càng học được nhiều. Việc đọc là một trải nghiệm rất thú vị, vì vậy hãy chắc chắn rằng bạn đọc những điều thú vị cho bạn. Sau đó, bạn sẽ có niềm vui, nâng cao vốn từ vựng của bạn, và xây dựng kỹ năng bạn cần cho kỳ thi TOEIC. Khi bạn đọc, có một số chiến lược bạn có thể sử dụng để nâng cao vốn từ vựng của bạn.

1. Phân Tích Thành Phần Của Từ
Từ được hình thành bởi các từ gốc (roots), các tiền tố (prefixes) đứng trước từ gốc, và các hậu tố (suffixes) đứng sau từ gốc.
Ví dụ
re (tiền tố) + circula (từ gốc) + tion (hậu tố) = recirculation

Trong tiếng Anh, có rất nhiều từ gốc, các tiền tố, và hậu tố xuất xứ từ tiếng Hy Lạp và tiếng Latinh. Tìm hiểu về ý nghĩa của các từ gốc, các tiền tố, và hậu tố sẽ giúp bạn tăng vốn từ vựng của bạn.


Ví dụ
re (lại) có nghĩa là again (một lần nữa)
reunite (đoàn tụ) nghĩa là bring together (mang lại với nhau một lần nữa)
reconsider (xem xét lại) nghĩa là think about again (suy nghĩ một lần nữa)
retrain (đào tạo lại) train again (đào tạo một lần nữa)




2. Nhận diện được những hình thức ngữ pháp (Grammatical Forms)
Một số hậu tố (suffixes) cho bạn biết một từ là một danh từ, một động từ, một tính từ, hoặc một trạng từ. Bạn có thể học cách nhận diện những hậu tố khác nhau. Những hậu tố sẽ giúp bạn hiểu được ý nghĩa của từ mới.

Ví dụ
Noun: -tion, ance, -ment, -ism, -ship, -ity, -er, -or, ee
Adj : -y, -ous, -able,-al, -ic, -al, -ful, -less
adv : -ly
Verb : -ize, -ate, -en

3. Nhận diện được Word Families
Cũng giống như anh chị em trong cùng một gia đình, những từ đều có liên quan với nhau. Một từ có thể trở thành một danh từ, một động từ, một tính từ, hoặc một trạng từ bằng cách thay đổi hậu tố (suffixes) của nó.

Ví dụ
depend (verb)
dependence (noun) dependable (adjective) dependably (adverb)
Bốn từ trên cùng với nhau tạo thành một gia đình từ. Ý nghĩa của mỗi từ là tương tự với những từ khác, nhưng mỗi từ có một hình thức khác nhau về ngữ pháp. Việc biết gia đình từ (word families) sẽ giúp bạn điều gì ?
• Bạn sẽ học được nhiều từ hơn. Khi bạn tìm thấy một từ mới, hãy tìm trong từ điển để tìm các thành viên khác trong cùng gia đình từ.
• Bạn sẽ hiểu được những từ mới. Xem xét cẩn thận một từ mới. Nó có thể là liên quan đến một từ mà bạn đã biết.

4. Hãy làm một danh sách từ vựng của riêng bạn
Khi bạn đọc, bạn sẽ gặp nhiều từ mới, và bạn sẽ cần phải có cách tổ chức hiệu quả để ghi lại chúng.
• Sử dụng một cuốn tập để ghi lại những từ mới của bạn.
• Đối với mỗi từ mới, viết từ, từ đồng nghĩa, định nghĩa, các câu gốc mà bạn tìm thấy các từ, và sau đó tạo thành câu của riêng bạn bằng cách sử dụng các từ này.
• Mỗi ngày, hãy xem lại các từ của những ngày trước đó.
• Photo bảng biểu dưới đây để làm danh sách từ vựng cho riêng bạn.
Ví dụ
New Word
Synonym
Definition
Original Sentence
My Sentence
consider
think about
To think carefully about something
After considering all the difficulties, they decided to go ahead with the project.
I considered different schools before I chose this one.

5. Hãy Đọc Tin Tức Hàng Ngày
Điều quan trọng là đọc một cái gì đó bằng tiếng Anh mỗi ngày, ngoài bài tập trên lớp. Điều quan trọng là đọc những điều thú vị cho bản thân bạn. Bạn sẽ nhận được nhiều hơn từ trải nghiệm theo cách này. Một yếu tố quan trọng khác là bạn đọc nhiều thể loại khác nhau điều này sẽ giúp bạn không buồn chán và quan trọng hơn là giúp bạn học có một vốn từ vựng đa dạng hơn.

• Đọc 20-30 phút mỗi ngày.
• Đọc những gì mang lại điều thú vị cho bạn.
• Đọc nhiều chủ đề khác nhau.
• Đọc sách, tạp chí, báo chí, và các trang web.


Các bước sau đây sẽ giúp bạn đọc để cải thiện vốn từ vựng của bạn:

1. Đọc mà không dừng lại. Đừng dừng lại để tra nghĩa của những từ chưa biết. Bạn có thể hiểu được ý chính của một đoạn văn mà không cần hiểu biết từng từ một
2. Gạch chân hay đánh dấu các từ chưa biết, hoặc viết chúng vào một tờ giấy riêng.
3. Đoán ý nghĩa của các từ chưa biết. Sử dụng bối cảnh và kiến thức về các tiền tố và hậu tố và gia đình từ để đoán.
4. Chọn năm từ khoá và viết chúng vào trong sổ tay từ vựng của bạn. Những từ không biết này rất quan trọng trong việc hiểu ý nghĩa của đoạn văn.
5. Tra năm từ khóa trong từ điển của bạn.
6. Viết một đoạn tóm tắt cho bài văn. Hãy thử sử dụng năm từ khóa trong bản tóm tắt của bạn.
Đây là một món quà để các bạn học từ vựng nhanh và hiệu quả hơn nữa, Flashcard với thiết kế đẹp mắt và cung cấp nhiều từ vựng cho bạn trong cuốn "600 Essential Words For The TOEIC":

Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2012

Những cách tự học từ vựng hiệu quả cực hay

Mỗi người học có một cách riêng để học từ vựng. Nhưng tựu chung lại, chúng ta có một số cách học khá phổ biến và hiệu quả như sau:
• Học từ mới có kèm theo nghĩa bằng tiếng mẹ đẻ
• Học từ mới bằng cách nhóm các từ theo từng chủ điểm, từ loại hay mức độ sử dụng
• Học từ mới qua việc làm các bài tập về từ vựng để có thể biết sử dụng từ một cách chính xác
• Học từ mới bằng cách viết chúng lên các tấm thẻ nhớ và thường xuyên tự kiểm tra xem đã nhớ được các từ mới hay chưa?
• v.v
Những phương pháp kể trên đều có hiệu quả và mỗi phương pháp phù hợp với từng đối tượng người học và từng cách học khác nhau. Tuy nhiên, có một cách học từ vựng rất hiệu quả bạn có thể thử áp dụng trong việc học từ mới của mình, đó là tìm ra mối quan hệ giữa các từ rồi nhóm chúng lại với nhau. Khi tiếp cận với các từ mới, bạn hãy tìm xem chúng có mối quan hệ gì với những từ bạn đã biết không hay giữa chúng có mối quan hệ gì không? Đây là cách giúp học và ghi nhớ từ mới rất hiệu quả. Có một số quan hệ giữa các từ trong tiếng Anh như sau:
Hyponymy (Bao nghĩa)
Chair (ghế tựa), bench (ghế băng trong trường học), armchair (ghế bành), bar-stool (ghế đẩu ngồi quán bar), pew (ghế băng trong nhà thờ), rocking-chair (ghế xích đu), deck-chair (ghế võng) đều là những từ chỉ ghế hay chỗ ngồi (seat). Vì vậy, tất cả chúng đều có liên quan đến nhau vì cùng có liên quan đến từ bao nghĩa “seat”. Ghế tựa (a chair) hay ghế dài (a bench) thì đều là ghế (a seat) nhưng ghế (seat) thì không phải nhất thiết là chair hay bench.
Tương tự như vậy, car (ô tô con), bus (xe buýt), van (xe tải nhỏ), tram (xe điện), lorry (xe tải lớn), motor-cycle (xe máy), taxi (taxi) đều là những từ chỉ phương tiện giao thông.
Bạn cũng sẽ thấy việc ghi chép các từ theo hệ thống mạng lưới như sau rất có ích:

Với những sơ đồ như trên, bất kỳ khi nào có từ mới cùng nhóm, bạn cũng có thể bổ sung từ đó vào sơ đồ từ vựng của mình một cách dễ dàng.
Antonymy (Trái nghĩa)
Đây là mối quan hệ có tác động rất mạnh đến việc ghi nhớ từ vựng. Chẳng hạn khi bạn được hỏi về một từ liên quan đến ‘hot’, bạn sẽ trả lời ngay là ‘cold’, chứ không phải là những từ như ‘desert’, ‘sun’, ‘weather’.
Vì vậy, bạn sẽ thấy việc ghi chép và học từ theo từng cặp trái nghĩa là rất hiệu quả. Chẳng hạn như:

Clines (Cùng trường nghĩa)
Nhiều tính từ mặc dù không phải là từ đồng nghĩa nhưng ý nghĩa của chúng lại gần nhau vì cùng chỉ tính chất của một sự vật, sự việc, hay hiện tượng. Việc ghi chép và học từ theo trường nghĩa cũng chứng tỏ được sự hiệu quả của nó. Những từ mới sẽ dần được bổ sung vào danh mục từ trong quá trình học.
Ví dụ như khi nói về nhiệt độ, chúng ta có hàng loạt tính từ chỉ mức độ từ nhiệt độ thấp đến cao.



Hai từ ‘boiling’ (sôi) và ‘mild’ (âm ấm) có thể được bổ sung vào danh mục từ này.

Collocation (Cách kết hợp từ)
Có những từ thường được kết hợp với nhau thành một cụm từ có nghĩa như ‘perform a task’, ‘make a suggestion’, ‘do one’s homework’, v.v. Bạn cũng nên học cách ghi nhớ từ mới theo cách này vì đây là cách học có tính ứng dụng cao và bạn có thể nắm được cách sử dụng và kết hợp từ có hệ thống.
Các từ sẽ được ghi chép theo dạng sơ đồ nhằm mục đích ghi nhớ và gợi nhớ bằng hình ảnh như sơ đồ sau:

Điểm chung của tất cả những phương pháp ghi nhớ trên là sử dụng sơ đồ, biểu đồ để ghi chép từ mới một cách có hệ thống và hình ảnh. Đó cũng là ưu điểm vượt trội của phương pháp học từ mới này bởi việc ghi nhớ bằng hình ảnh dễ dàng và hiệu quả hơn rất nhiều so với bằng chữ cái. Bạn cũng có thể sử dụng các màu sắc khác nhau trong sơ đồ từ vựng của mình và hãy nhớ là luôn ghi chép từ mới một cách có hệ thống. Hy vọng những kinh nghiệm này sẽ giúp bạn thành công trong việc học từ mới.

Điều khiển lỗi

Trong quá trình truyền frame thì dữ liệu không phải lúc nào cũng đến đích mà luôn có một tỉ lệ lỗi nào đó.
Kiểm soát lỗi là cơ chế phát hiện và sửa lỗi xảy ra, đảm bảo dữ liệu đến đích đúng và chính xác (hay tỉ lệ lỗi thấp hơn một ngưỡng cho phép nào đó, xem thêm ).
Cơ chế kiểm soát lỗi dựa trên một số hoạt động sau :
  • Phát hiện lỗi: dùng các mã phát hiện chẵn lẻ, CRC (thấy hay dùng trong kỹ thuật), còn nếu trong internet người dùng hay tự check file thì dùng md5, SHA256 ...
  • Phúc đáp dương ACK (positive ACKnowledgement): báo rằng truyền ok
  • Phúc đáp âm NAK (Negative AcKnowledgement): báo rằng frame truyền bị lỗi
  • Tự phát lại sau một thời gian nhất định: khi frame bị mất trong quá trình truyền, không nhận được tín hiệu phản hồi hoặc bên thu nhận được nhưng tín hiệu phản hồi bị mất.
Cơ chế này dựa trên kỹ thuật điều khiển luồng, gọi là ARQ (Automatic Repeat Request - tự động yêu cầu phát lại). Có 3 phương án cơ bản :
    Điều khiển lỗi có thể coi là kỹ thuật điều khiển luồng có tính đến sai lệch khi truyền, thực tế chắc cũng ít kênh nào đạt được tỉ lệ lỗi cực thấp đến nỗi có thể dùng thẳng điều khiển luồng mà chắc dùng điều khiển lỗi (thông cảm chưa có kinh nghiệm thực tế gì nên đoán vậy)

    ITU (International Telecommunication Union - Telecommunication Standardization Sector)

    ITU-T là cụm từ viết tắt của International Telecommunication Union - Telecommunication Standardization Sector là lĩnh vực Tiêu chuẩn viễn thông - thuộc Tổ chức Viễn thông quốc tế.

    Giới thiệu về ITU

    • ITU là Tổ chức viễn thông quốc tế thuộc Liên hiệp quốc, được thành lập vào năm 1865 (với tên gọi tiền thân là Liên minh Điện báo quốc tế - International Telegraph Union). Các hoạt động của ITU bao trùm tất cả các vấn đề thuộc ngành Công nghệ Viễn thông và Thông tin gồm có điều phối các quốc gia trên toàn cầu trong việc chia sẻ và sử dụng các tài nguyên Viễn thông như tần số vô tuyến điện, quỹ đạo vệ tinh, hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông tại các nước đang phát triển và xây dựng các tiêu chuẩn chung trên thế giới về kết nối các hệ thống liên lạc. ITU cũng đang tham gia nghiên cứu và tìm giải pháp cho các thách thức chung trên toàn cầu trong thời đại hiện nay như biến đổi khí hậu và bảo mật, an toàn thông tin.
    • ITU có 3 lĩnh vực hoạt động chính gồm: ITU-T (Viễn thông - Telecom), ITU-R (Thông tin vô tuyến - Radio), ITU-D (Phát triển viễn thông - Telecommunications Development).
    • Trụ sở của ITU hiện được đặt tại Geneva, Thuỵ Sỹ. Tính tới thời điểm hiện nay, số lượng thành viên của ITU là 191 Quốc gia thành viên và hơn 700 thành viên lĩnh vực và thành viên liên kết.

    Thứ Sáu, 16 tháng 3, 2012

    Kỹ thuật cửa sổ trượt (Sliding Window)

    Một kỹ thuật điều khiển luồng , tốt hơn kỹ thuật dừng và đợi .

    a. Hoạt động
    Bên phát được phát tối đa w khung trước khi nhận báo nhận(w:kích thước cửa sổ)
    Mỗi khi phát 1 khung w giảm đi 1 đơn vị,mỗi khi nhận 1 báo nhận,w lại tăng lên 1 đơn vị,khi w=0 thì không được phép phát tiếp

    Do bên phát được phát đồng thời w khung nên cần có 1 trường đánh số thứ tự các khung tin

    Giả sử cần k bit đánh số thứ tự các khung tin thì 1<= w <= 2^k - 1



    Vd: Dùng 3 bit đánh số thứ tự các khung tin => w<8, chọn w=7, máy thu phải có bộ nhớ đệm để lưu trữ và xử lý tương ứng.


    ở ví dụ này bên phát được phép truyền tối đa 3 frame tiếp theo. Lúc đầu bên máy phát sẽ truyền đi 3 frame và chờ phản hồi, nếu có ACK (như trên hình là RR3 tức là đã sẵn sàng nhận frame 3 trở đi) thì bên phát sẽ gửi tiếp, tuy nhiên cùng với thời gian gửi thì bên thu cũng gửi lại RR để báo bên phát còn có thể truyền bao nhiêu frame nữa. Nếu như bên thu bị sao đó hoặc "chán" không muốn nhận thêm thì chỉ đơn giản không gửi nữa , bên phát sẽ chỉ phát được đến mức tối đa 7 frame từ thông báo cuối cùng thôi hoặc nếu gửi chậm chậm thì bên phát sau khi truyền thả phanh đến hét bộ đệm bên thu thì khi nào nhận được thông báo mới bắt đầu truyền tiếp.


    b.Hiệu suất
    Hiệu suất của kỹ thuật sliding window được tính như sau
    +n = 1 nếu w>=2a+1
    +n = w / (1+2a) nếu w<2a+1


    Vẫn ví dụ gửi thư như ở bài kỹ thuật dừng và đợi :
    Giờ không gửi một bức thư nữa, người miền nam bảo cứ gửi thư đi, hòm thư nhà tao chứa được 10 bức chẳng hạn. Thời gian thì vẫn mất 2 ngày để nhận thư, còn thời gian để viết xong thư coi như là 1 ngày 1 bức đi (15 phút 1 bức thì không thể viết suốt ngày đêm được, lâu rồi cũng chán).
    Đầu tiên phải viết 1 bức hỏi xem bên kia thế nào, có muốn nhận thư không, nhận được bao nhiêu, quá trình khởi động mất 5 ngày ( mất 2 ngày để thư đến đích, 1 ngày để bên kia viết và 2 ngày để thư đáp trả lại).
    Bên nhận thư báo lại là cứ viết thoải mái đi, hoặc không thấy hồi âm thì thôi khỏi gửi. Nếu nhận thông báo ok, từ đây người viết ngày nào cũng viết cũng gửi. Khi đó người viết đã viết đến bức thứ 6 thì nhận được thông tin là đã ok thư thứ nhất(tức là có thể truyền đến thư thứ 11) thì mới đầy hòm thư, hôm sau người viết viết thư thứ 7 thì lại thông báo có thể truyền đến thư 12 ... cứ thế, không mất công đợi , hiệu suất 100% nếu bên nhận gửi cũng nhanh bằng hoặc hơn bên gửi, nếu bên kia xử lý chậm đọc chậm thì hòm thư cứ đầy dần, người gửi thấy 10 bức không thấy hồi âm thì sẽ dừng lại, đến khi bên kia gửi xác nhận thì mới gửi tiếp nên không bị đầy, "bục" hòm thư.
    Phương thức này hiệu suất cao, maximum 100% (tất nhiên nếu không tính giai đoạn khởi động chờ xem bên kia có phản hồi không hay lại nhầm địa chỉ đi đâu), tốt hơn dừng và đợi nhiều, nhưng cần bộ đệm.

    Ở trên mình giải thích trong trường hợp có thể song công (vừa truyền vừa nhận), nếu chỉ có truyền hoặc nhận (không đồng thời được) thì cũng chỉ giống như truyền stop and wait vì gửi tối đa n frame với ghép n frame thành 1 frame để truyền (trong stop and wait) thì cũng như nhau thôi, có điều nếu lỗi thì cái này không phải truyền lại toàn bộ frame như stop and wait.

    Khung và gói tin (Frame and Packet) khác nhau thế nào

    Frame là unit cuả lớp 2 còn packet là unit cuả lớp 3. Xem mô hình OSI
    Khác nhau cơ bản cuả hai lớp là lớp 2 làm việc physical addressing còn lớp 3 là logical addressing. Do chức năng khác nhau nên frame dùng địa chỉ MAC còn packet dùng địa chỉ IP. Bạn có thể xem địa chỉ MAC là số chứng minh nhân dân còn địa chỉ IP là số nhà.
    Từ sự khác nhau cơ bản này dẫn đến các điểm khác trong cấu trúc và chức năng.

    Nguồn http://vntelecom.org/diendan/showthread.php?t=10662&p=85341#post85341

    Thường thì người ta hay dùng thuật ngữ gói tin nhiều hơn vì mạng nội bộ thì dùng frame (lớp 2 chỉ có chức năng liên kết trong phạm vi 1 mạng thôi) nhưng thường mở rộng ra nhiều mạng -> lại gói tin , và cũng thuận mồm hơn nên nhiều khi xét ở lớp 2 vẫn dùng từ gói tin như thường. Nếu bị bắt chẹt từ ngữ quá hoặc khi cần tách biệt rõ ràng thì các bạn cần phân biệt như trên.

    Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế - ISO

    Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (tiếng Anh: International Organization for Standardization; viết tắt: ISO hay iso) là cơ quan thiết lập tiêu chuẩn quốc tế bao gồm các đại diện từ các tổ chức tiêu chuẩn các quốc gia. Được thành lập vào ngày 23 tháng 2 năm 1947, tổ chức này đã đưa ra các tiêu chuẩn thương mại và công nghiệp trên phạm vi toàn thế giới.
    Trong khi ISO xác định mình như là một tổ chức phi chính phủ (NGO), khả năng của tổ chức này trong việc thiết lập các tiêu chuẩn - thông thường trở thành luật định thông qua các hiệp định hay các tiêu chuẩn quốc gia - làm cho nó có nhiều sức mạnh hơn phần lớn các tổ chức phi chính phủ khác, và trên thực tế tổ chức này hoạt động như một côngxoocxiom với sự liên kết chặt chẽ với các chính phủ. Những người tham dự bao gồm một tổ chức tiêu chuẩn từ mỗi quốc gia thành viên và các tập đoàn lớn.
    ISO hợp tác chặt chẽ với Hội đồng kỹ thuật điện quốc tế (International Electrotechnical Commission, viết tắt IEC), là tổ chức chịu trách nhiệm tiêu chuẩn hóa các thiết bị điện.

    Tên gọi

    Tổ chức này thông thường được nhắc tới một cách đơn giản là ISO (đọc là ai zô). Điều này hay dẫn đến sự hiểu lầm rằng ISO là International Standards Organization, hay là một điều gì đó tương tự. ISO không phải là từ viết tắt, nó có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp isos, có nghĩa là tương đương. Trong tiếng Anh tên gọi của nó là International Organization for Standardization, trong khi trong tiếng Pháp nó được gọi là Organisation Internationale de Normalisation; để sử dụng từ viết tắt được tạo ra bởi các từ viết tắt khác nhau trong tiếng Anh (IOS) và tiếng Pháp (OIN), những người sáng lập ra tổ chức này đã chọn ISO làm dạng viết ngắn gọn chung cho tên gọi của nó. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng ISO cũng xác định mình như là International Organization for Standardization trong các báo cáo của họ.

    Tiêu chuẩn Quốc tế và những xuất bản khác

    Sản phẩm chính của ISO là các Tiêu chuẩn Quốc tế, nhưng ISO cũng tạo ra các Báo cáo Kỹ thuật, Chi tiết Kỹ thuật, Chi tiết Kỹ thuật Công bố Rộng rãi, Bản Sửa lỗi Kỹ thuật, và Hướng dẫn Sử dụng.
    Các tiêu chuẩn ISO là các số, và có định dạng trong đó chứa "ISO[/IEC] [IS] nnnnn[:yyyy]: Tiêu đề" trong đó "nnnnn" là số tiêu chuẩn, "yyyy" là năm công bố, và "Tiêu đề" miêu tả đối tượng điều chỉnh. IEC sẽ chỉ được kèm vào nếu tiêu chuẩn là kết quả từ các công việc của JTC1. Ngày và IS sẽ luôn luôn bị loại bỏ trong tiêu chuẩn chưa hoàn thiện hay chưa công bố, và cả hai có thể (trong những tình huống nhất định) bị loại bỏ trong tiêu đề của công trình đã công bố.
    Ngoài việc đưa ra các tiêu chuẩn, ISO cũng tạo ra các báo cáo kỹ thuật cho các tài liệu mà chúng không thể hay không có khả năng trở thành các tiêu chuẩn quốc tế, chẳng hạn các tham chiếu, giải thích v.v. Các quy ước đặt tên cho chúng là giống với việc đặt tên cho các tiêu chuẩn với ngoại lệ là chúng có cụm từ TR thế vào chỗ của cụm từ IS trong tên gọi của tiêu chuẩn. Ví dụ:
    • ISO/IEC TR 17799:2000 Mã thông lệ của Quản lý an ninh thông tin.
    • ISO TR 15443-1/3 Công nghệ Thông tin – Các kỹ thuật An ninh – Khuôn khổ cho Đảm bảo An ninh Công nghệ thông tin (IT) 1-3
    Cuối cùng, ISO thỉnh thoảng cũng ấn hành các Sửa lỗi kỹ thuật. Các sửa lỗi này là các sửa đổi đối với các tiêu chuẩn hiện hành vì các lỗi kỹ thuật nhỏ phát sinh hay là sự hoàn thiện đối với khả năng sử dụng, hay đối với việc mở rộng khả năng áp dụng trong một giới hạn nào đó. Nói chung, các sửa lỗi này được ấn hành với dự tính là các tiêu chuẩn chịu ảnh hưởng sẽ được cập nhật hay được bỏ đi trong lần xem xét kế tiếp.

    Bản quyền của các tài liệu ISO

    Các tài liệu ISO là có bản quyền và ISO tính phí cho việc sao chép của phần lớn các trường hợp. Tuy nhiên ISO không tính phí trong phần lớn các bản sao chép các phác thảo của các tài liệu ở dạng điện tử. Mặc dù có ích, cần phải cẩn thận khi sử dụng các bản phác thảo này vì ở đây có thể có những thay đổi quan trọng trước khi nó trở thành hoàn thiện như là một tiêu chuẩn.

    Những vấn đề trong thập niên 1990

    Trong những năm thập niên 1990, ISO có tiếng là chậm chạp, quan liêu và không nhạy cảm đối với những phản ứng từ cả những người chu cấp tài chính và khách hàng của họ. Một dự án có vấn đề là dự án Open Systems Interconnect (Các hệ thống tương kết mở) khá lớn, với cố gắng phát triển một tiêu chuẩn mạng máy tính duy nhất, nhưng cuối cùng đã thất bại năm 1996 sau khi sa vào vũng lầy trong các vấn đề về khả năng liên kết hoạt động và các cãi vã giữa các nhà cung cấp tài chính. Sự chú ý sau đó chuyển hướng sang dự án trên cơ sở tình nguyện, quy trình mở và phi lợi nhuận là Internet Engineering Task Force (IETF), nó phát triển các tiêu chuẩn cần thiết cho Internet hoạt động. Khi IETF trở thành quá chậm, các nhà cung cấp tài chính bắt đầu cấp vốn cho các côngxoocxiom có định hướng và nhanh nhạy hơn như W3C, một tổ chức mở và phi lợi nhuận khác được lãnh đạo bởi người phát minh ra World Wide Web là Tim Berners-Lee. Kể từ đó, ISO đã thực hiện những cải tổ vừa phải nhằm giảm thời gian cần thiết để công bố các tiêu chuẩn mới.
    Các tiêu chuẩn quốc tế của ISO trong mọi phương diện đều không ràng buộc với bất kỳ quốc gia hay ngành công nghiệp nào, nó đơn thuần chỉ với tư cách là các tiêu chuẩn quốc tế. Điều này cho phép trong một số tình huống thì một số tiêu chuẩn nào đó có thể mâu thuẫn với các yêu cầu và dự tính xã hội, văn hóa hay pháp lý. Nó cũng phản ánh một thực tế là các chuyên gia trong nước và quốc tế chịu trách nhiệm tạo ra các tiêu chuẩn này không phải lúc nào cũng đồng ý và không phải mọi đề xuất đều có thể trở thành tiêu chuẩn bởi sự biểu quyết nhất trí hoàn toàn. Các quốc gia riêng biệt và các tổ chức tiêu chuẩn của họ vẫn là người phân xử cuối cùng.

    Những sản phẩm được đặt tên theo ISO

    Một thực tế là rất nhiều tiêu chuẩn của ISO là phổ biến đã dẫn đến việc sử dụng phổ biến của "ISO" để miêu tả các sản phẩm thực tế mà nó phù hợp với tiêu chuẩn. Một số ví dụ là:
    • Các CD image kết thúc với đuôi mở rộng tệp "ISO" để báo hiệu rằng chúng sử dụng hệ thống tệp tiêu chuẩn ISO 9660 (có thể các hệ thống tệp khác cũng được sử dụng) – kể từ đây các CD image nói chung được nhắc đến như là các "ISO". Thực tế mọi máy tính với các ổ CD-ROM có thể đọc các đĩa CD có sử dụng tiêu chuẩn này. Các DVD-ROM cũng sử dụng các hệ thống tệp ISO 9660.
    • Độ nhạy sáng của phim ảnh, tốc độ của nó được đo và xác định bằng tiêu chuẩn ISO, vì vậy tốc độ phim thông thường được nói đến như là "số ISO" của nó. Các tiêu chuẩn tương đương là ASA và DIN của nó.

    Ủy ban kỹ thuật chung ISO/IEC số 1

    Để giải quyết các hậu quả của sự chồng lấn thực tế trong lĩnh vực tiêu chuẩn hóa và các công việc liên quan tới công nghệ thông tin, ISO và IEC đã thành lập Ủy ban kỹ thuật chung, được biết đến như là ISO/IEC JTC1. Nó là ủy ban loại như vậy đầu tiên và cho đến nay vẫn là duy nhất. Sự ủy nhiệm chính thức của ủy ban này là:
    Phát triển, duy trì, khuyến khích và thuận tiện hóa các tiêu chuẩn IT được yêu cầu bởi các thị trường toàn cầu để phù hợp với các nhu cầu kinh doanh và người dùng bao gồm:
    • Thiết kế và phát triển các hệ thống và công cụ IT,
    • Tính thực thi và chất lượng của các sản phẩm và hệ thống IT
    • An ninh của các hệ thống IT và thông tin
    • Tính linh động của các chương trình ứng dụng
    • Thao tác giữa các bộ phận của các sản phẩm và hệ thống IT
    • Hợp nhất các công cụ và môi trường
    • Hòa hợp từ vựng IT
    • Các giao diện người dùng thân thiện và hài hòa
    Hiện tại có 18 tiểu ban (SC):
    • SC 02 – Các bộ ký tự mã hóa
    • SC 06 – Trao đổi liên lạc và thông tin giữa các hệ thống
    • SC 07 – Công nghệ phần mềm và hệ thống
    • SC 17 – Thẻ và nhận dạng cá nhân
    • SC 22 – Ngôn ngữ lập trình, môi trường của chúng và các hệ thống giao diện phần mềm
    • SC 23 – Các thiết bị lưu trữ số hóa tháo lắp sử dụng công nghệ ghi quang học và/hoặc từ tính cho số hóa
    • SC 24 – Đồ họa máy tính và xử lý ảnh
    • SC 25 – Liên kết thiết bị công nghệ thông tin
    • SC 27 – Các kỹ thuật an ninh công nghệ thông tin
    • SC 28 – Các thiết bị văn phòng
    • SC 29 – Mã hóa thông tin âm thanh, hình ảnh, đa truyền thông và siêu truyền thông
    • SC 31 – Nhận dạng tự động và các kỹ thuật bắt giữ số liệu
    • SC 32 – Quản lý và trao đổi dữ liệu
    • SC 34 – Mô tả tài liệu và các ngôn ngữ xử lý
    • SC 35 – Giao diện người dùng
    • SC 36 – Công nghệ thông tin trong giảng dạy, học tập và tập huấn
    • SC 37 – Sinh trắc học
    Tư cách thành viên trong ISO/IEC JTC1 được hạn chế giống như tư cách thành viên trong cả hai tổ chức sinh ra tổ chức này. Thành viên có thể là chính thức (P) hay quan sát (O) và khác biệt chủ yếu là khả năng biểu quyết về các tiêu chuẩn được đề xuất và các sản phẩm khác. Không có yêu cầu đối với bất kỳ thành viên nào trong việc duy trì hai (hay bất kỳ) địa vị nào trong tất cả các tiểu ban. Mặc dù hiếm, các tiểu ban có thể được thành lập để giải quyết các tình huống mới (SC 37 mới được chuẩn y năm 2004) hay giải tán nếu như các việc không còn thích hợp nữa.

    Tổ chức này đã đưa ra mô hình OSI vẫn được giảng rất nhiều trong mạng viễn thông

    Thứ Năm, 15 tháng 3, 2012

    Kỹ thuật dừng và đợi(Stop and wait)

    Là một kỹ thuật điều khiển luồng đơn giản nhất 

    a. Hoạt động
    Giả sử có 2 bên phát A và thu B, bên A muốn truyền dữ liệu sang bên B.
    Bên A sẽ gửi 1 Frame tín hiệu sang B, nếu bên B có thể tiếp nhận được gói tin (chưa bị quá tải) thì bên B sẽ gửi lại tín hiệu ACK (acknowledgement) để xác nhận là đã nhận được gói tin, bên A nhận được xác nhận thì gửi tiếp, cứ thế mà truyền dần dần từng gói.
    Nếu bên B đang nhận quá nhiều thông tin (bên A gửi nhiều quá hoặc đơn giản nhiều bên khác gửi) thì bên B đơn giản là xử lý xong thông tin đã rồi mới gửi ACK -> không bị quá tải.

    b. Hiệu suất

    Gọi n là hiệu suất của kỹ thuật dừng và đợi

    Tf là thời gian truyền 1 khung tin

    Td là thời gian trễ trên đường truyền
    Tp là thời gian xử lý 1 khung tin
    Tack là thời gian phát ACK của bên thu
    Tp’ là thời gian xử lý ACK

    Gọi T là thời gian cần thiết để phát xong 1 khung tin

    T=Tf+Td+Tp+Tack+Td+Tp’

    n = Tf / T


    Do Tp,Tp’,Tack là rất nhỏ so với Tf nên T = Tf+2Td

    Vậy n = Tf / (Tf+2Td) = 1 / (1+2a) với a = Td / Tf


    Nhìn công thức thì sẽ thấy nếu Td nhiều thì hiệu suất n sẽ thấp.
    Nếu Td rất nhiều thì hiệu suất cực thấp luôn. Ví dụ kiểu truyền tin sơ khai nhé :

    Giả sử Tf như thời gian viết 1 bức thư (15 phút nếu văn phong có hạn), có thể ví như quá trình truyền khung tin ở trên (ở đây là từ não ra giấy) và thời gian gửi thư từ miền bắc vào nam là 2 ngày (thư giấy), như là trễ đường truyền.
    Giả sử bạn gửi 1 bức thư từ miền bắc vào miền nam , mất 2 ngày chẳng hạn, miền nam đọc được thư rồi thì gửi lại thư xác nhận cho miền bắc, thêm 2 ngày nữa, rồi miền bắc lại gửi thư cho miền nam, thêm 2 ngày nữa. Quá trình gửi và đợi rất tốn thời gian so với quá trình viết thư.

    Tuy nhiên nếu thời gian truyền thư là ngắn (a nhỏ) ví dụ bức thư viết truyền tay trong lớp (mất 10 giây chẳng hạn) thì hiệu suất rất cao : 15 phút viết mới mất 10 giây truyền và bên kia viết thư trả lời 15 phút nữa rồi truyền lại, chỉ mất chi phí 20 giây cho 30 phút viết (truyền dữ liệu), hiệu suất n cao.

    Lịch sử phát triển của kỹ thuật chuyển mạch

    • Năm 1876 Alecxand Graham Bell đã sáng chế ra máy điện thoại. Sáng chế này mở ra kỷ nguyên phát triển mạnh mẽ của ngành viễn thông nói chung của kỹ thuật chuyển mạch nói riêng.
    • Năm 1877 máy điện thoại tại nhà riêng đầu tiên được đưa vào sử dụng.
    • Năm 1878 tổng đài nhân công được đưa vào sử dụng tại New Haven (Mỹ).ví dụ như P193M; P194M;P198M…
    • Năm 1881 Cuộc gọi điện thoại đường dài đầu tiên được thực hiện.
    • Năm 1889 Hai anh em nhà Strowger sáng chế ra Tổng đài tự động kiểu nhảy nấc. (Như YATC-49; XY; A52C…). Hệ thống EMD do công ty Siemens của Đức chế tạo cũng thuộc loại này.
    • Do đại chiến thế giới lần II bùng nổ sự cố gắng tạo ra các tổng đài kiểu mới bị tạm thời đình chỉ. Sau chiến tranh hãng Ericsson của Thuỵ Điển đã chế tạo ra các tổng đài tự động kiểu ngang dọc. Các loại tổng đài thuộc loại này như: ATZ65; ATCK100/2000…
    • Năm 1960 thử nghiệm trường chuyển mạch điện tử đầu tiên.
    • Năm 1963 Sáng chế máy điện thoại ấn phím và Tổng đài chuẩn điện tử.
    • Năm 1965 Tổng đài điện tử SPC (Stored Program Control) thương mại có dung lượng lớn ESS số 1 được thương mại hoá thành công ở Mỹ do vậy đã mở ra một kỷ nguyên mới cho các hệ tổng đài điện tử.
    • Năm 1970 Tổng đài điện tử số đầu tiên E10A (Pháp).
    • Năm 1976 Tổng đài điện tử số hoàn toàn đầu tiên DMS100 (Ca-na-đa).
    • Năm 1977 sáng chế Internet, cáp sợi quang và Thông tin di động.
    • Năm 1988 sáng chế ATM (Asynchronous Transfer Mode); B-ISDN (Broadband   Integrated Service Digital Network) mở đầu cho NGN (Next Generation Netwok).
    • Năm 1996 chuyển mạch IP (Internet Protocol).
    • Năm 1997  chuyển mạch mềm (Softswitch).
    • Năm 2001 các hãng bắt đầu ứng dụng VoIP.
    • Năm 2002 Bắt đầu ứng dụng các dịch vụ NGN.
    • Ngày nay IMS (IP Mutimedia Subsystem) đang được nghiên cứu ứng dụng
    Nguồn : lấy từ slide môn chuyển mạch dạy trên lớp

    Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

     
    Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes