Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Thứ Hai, 19 tháng 3, 2012

Mã vòng (Cyclic codes)

Mã vòng là một họ mã có ứng dụng quan trọng trong viễn thông. Mã vòng có đặc điểm là :

Một mã tuyến tính C(n, k) được gọi là mã vòng nếu w = a0a1…an–2an–1 là một từ mã thì v = an–2a0a1…an–2 cũng là một từ mã.
Nói cách khác mã vòng là mã có tính vòng, có nghĩa là dịch vòng một từ mã thì kết quả cũng là một từ mã (word code).


Mã CRC có vẻ như là mã phổ biến nhất trong họ mã vòng này (CRC cũng có nhiều chuẩn nhé)

ETSI (European Telecommunication Standards institute)

Viện các tiêu chuẩn viễn thông Châu Âu (viết tắt ETSI) là một tổ chức tiêu chuẩn hóa, phi lợi nhuận, và độc lập trong công nghiệp viễn thông (các nhà sản xuất thiết bị và vận hành mạng) tại Châu Âu, với dự án rộng khắp trên thế giới. ETSI đã thành công trong việc tiêu chuẩn Vô tuyến công suất thấp, Thiết bị tầm ngắn, hệ thống điện thoại tế bào GSM và hệ thống vô tuyến di động chuyên nghiệp TETRA
Trong ETSI cơ quan tiêu chuẩn hóa quan trọng nhất là TISPAN (cho các mạng cố định và hội tụ Internet). ETSI là nhà sáng lập và là một đối tác trong 3GPP.
ETSI được thành lập bởi CEPT vào năm 1988 và chính thức được công nhận bởi Ủy ban Châu Âu và ban thư ký EFTA. Trụ sở của viện đặt tại Sophia Antipolis (Pháp), ETSI là tổ chức chịu trách nhiệm chính thức cho việc tiêu chuẩn hóa về các công nghệ truyền thông và thông tin (ICT) tại Châu Âu. Những công nghệ này bao gồm viễn thông, phát thanh truyền hình và các lĩnh vực liên quan như truyền tải thông minh và điện tử y sinh. ETSI có 740 thành viên từ 62 quốc gia/tỉnh trong và ngoài Châu Âu, bao gồm các nhà sản xuất, các nhà vận hành khai thác mạng, các nhà quản lý, các nhà cung cấp dịch vụ, cơ quan nghiên cứu và người sử dụng - trong thực tế, mọi lĩnh vực then chốt trong ICT. Danh sách các thành viên hiện nay có thể tìm tại đây.
Vào năm 2005, ETSI có ngân sách trên 20 triệu Euro, ngân sách được đóng góp từ các thành viên, các hoạt động thuơng mại như bán tài liệu, thiết bị thử nghiệm và các diễn đàn lưu trữ, công việc về hợp đồng và kinh phí với đối tác. Khoảng 40% ngân sách dành cho các cho phí hoạt động và 60% còn lại dành cho các chuơng trình làm việc bao gồm cả trung tâm năng lực và các dự án đặc biệt.
ETSI là một tổ chức đối tác sáng lập nên sáng kiến Phối hợp các tiêu chuẩn toàn cầu.
ETSI bị chi trích vì kể cả bao gồm khả năng nghe trộm trong các tiêu chuẩn viễn thông của mình, khuyến khích các chính phủ thông qua các bộ luật nghe lén thông tin.

Các kiểu có thể chuyển giao của ETSI

  • Tiêu chuẩn Châu Âu, nhóm viễn thông (EN) - Được sử dụng khi tài liệu được mong đợi đáp ứng các yêu cầu riêng cho Châu Âu và các yêu cầu chuyển thành các tiêu chuẩn quốc gia, hoặc khi khi việc soạn thảo tài liệu được yêu cầu dưới một sự ủy thác của EC/EFTA.
  • Tiêu chuẩn Châu Âu (ES) - Được sử dụng khi tài liệu chứa các yêu cầu quy chuẩn và nó là cần thiết để đệ trình tài liệu tới các thành viên của ETSI phê duyệt.
  • Hướng dẫn của ETSI (EG) - Được sử dụng khi tài liệu chứa hướng dẫn xử lý các hoạt động tiêu chuẩn hóa kỹ thuật, nó được đệ trình cho toàn thể thành viên ETSI phê duyệt.
  • Báo cáo đặc biệt của (SR) - Được sử dụng cho các mục đích khác nhau, bao gồm đưa ra khả năng có sẵn công cộng cho thông tin không được tạo ra trong một ủy ban kỹ thuật. Các SR của ETSI cũng được sử dụng cho các tài liệu 'ảo', ví dụ các tài liệu động được tạo ra bởi một truy vấn tới một cơ sở dữ liệu qua web. Một SR được phát hành bởi ủy ban kỹ thuật mà nó được tạo ra.
  • Chỉ tiêu kỹ thuật của ETSI (TS) - Được sử dụng khi tài liệu chứa các yêu cầu quy chuẩn và khi thời gian đưa ra thị trường ngắn, việc phê chuẩn và bảo trì là rất cần thiết, nó được chấp thuận bởi ủy ban kỹ thuật đã soạn thảo nó.
  • Báo cáo kỹ thuật của ETSI (TR) - Được sử dụng khi tài liệu chứa các yêu tố thông tin chính, nó được chấp thuận bởi ủy ban kỹ thuật đã soạn thảo nó.
  • Chỉ tiêu kỹ thuật nhóm của ETSI (GS) - Được sử dụng bởi Nhóm chỉ tiêu kỹ thuật công nghiệp theo quyết định thực hiện các thủ tục được định nghĩa trong Điều khoản tham khảo của nhóm. Đây là kiểu có thể chuyển giao được phê duyệt và thông qua bởi Nhóm chỉ tiêu kỹ thuật công nghiệp đã soạn thảo nó.
Đây là danh sách được thu thập từ website của Viện các tiêu chuẩn viễn thông Châu Âu.

Chủ Nhật, 18 tháng 3, 2012

ARQ phát lại chọn lọc (ARQ Selective Repeat)

Giống ARQ ngược lại n có điều là nó không phát lại từ frame thứ i trở đi mà chỉ phát lại những frame bị lỗi.
Nếu bên thu nhận được ACK nào thì nó sẽ hiểu là truyền đúng được frame đấy, nếu không nhận được hoặc nhận được NAK thì nó sẽ hiểu là cần truyền lại.
Phương pháp này cho hiệu suất cao nhưng lại phức tạp vì bên phát và thu đều cần truyền không theo thứ tự khi gặp lỗi.
Các bạn có thể xem bài ARQ ngược lại n để xem hình so sánh 2 phương pháp

ARQ ngược lại n (ARQ go back n)

Là một phương pháp điều khiển lỗi dựa trên cơ chế điều khiển luồng cửa sổ trượt.
Khi không có lỗi thì thao tác xử lý của nó giống hệt cửa sổ trượt. Tuy nhiên khi bên thu phát hiện lỗi:
  • A phát frame i, B báo NAK frame i (các frame i-1 về trước truyền ok), thì dù trong lúc chờ phản hồi, bên A có phát đến frame i+n (n mấy chục, mấy trăm cũng mặc) thì nó vẫn phải truyền lại từ frame i trở đi.
  • Frame i bị mất trong khi truyền, bên A truyền frame i-1 rồi nhảy cóc sang i+1 luôn thì bên B sẽ phát hiện, phát NAK bắt truyền lại.
  • Frame i bị mất trong khi truyền, và bên A không truyền tiếp (có thể do bên B đã đầy bộ nhớ đệm hoặc truyền hết tin rồi), bên A sau 1 thời gian time out không thấy gì cũng sẽ phát lại frame i trở đi.
  • ACK thứ i bị mất khi truyền lại, do nếu bên thu mà phát NAK thì sau đó nó sẽ không phát ACK tiếp mà đợi phản hồi, nên giả sử có mất ACK thứ i, vẫn thấy ACK thứ i+1 thì bên phát hiểu là vẫn truyền ok thôi.
  • Nếu phát NAK bị lỗi, chờ không thấy gì (sau NAK bên thu sẽ đợi bên phát phát lại chứ không ACK xác nhận tiếp), bên phát không thấy gì, sau 1 thời gian time out sẽ phát lại khung i trở đi.
Loại này thì các frame và ACK cần lưu số thứ tự hay 1 cách nhận dạng nào đó để có thể phân biệt frame nào trước frame nào sau.

Đây là hình so sánh ARQ ngược lại n và ARQ phát lại chọn lọc (hiệu suất cao hơn nhưng phức tạp hơn).

ARQ dừng và đợi

Là một phương pháp điều khiển lỗi dựa trên cơ chế điều khiển luồng dừng và đợi.
Giống như cơ chế dừng và đợi nhưng phản hồi về sẽ có 3 trường hợp :
  • ACK : bản tin đã đến đích và gửi đúng, tiếp tục gửi dữ liệu
  • NAK : báo lỗi, gửi lại thông tin
  • Không thấy gì : xảy ra khi frame phát đi bị mất hoặc đến được nơi nhưng thông tin phản hồi bị mất khi truyền, bên gửi sẽ gửi lại sau 1 thời gian chờ (time out)
Đặc điểm : đơn giản và không hiệu quả.

IETF - The Internet Engineering Task Force

Lực lượng đặc nhiệm kỹ thuật Internet (IETF-The Internet Engineering Task Force) là một cộng đồng quốc tế mở rộng lớn của các nhà thiết kế mạng, các nhà khai thác, các nhà cung cấp thiết bị và các nhà nghiên cứu quan tâm tới sự phát triểưn của kiến trúc Internet và hoạt động ổn định của Internet. Đây là tổ chức mở cho bất kỳ ai quan tâm. Nhiệm vụ của IETF nằm trong tài liệu RFC 3935.
Tổ chức IETF phát triển và xúc tiến các tiêu chuẩn Internet, có quan hệ hợp tác gần gũi với các tổ chức tiêu chuẩn W3C và ISO/IEC; và cụ thể xử lý các tiêu chuẩm TCP/IP và bộ giao thức Internet. Đây là một tổ chức mở, tổ chức tiêu chuẩn tình nguyện, không đòi hỏi yêu cầu đối với các thành viên chính thức và không chính thức.
IETF được tổ chức thành một số lượng lớn các nhóm nghiên cứu và BoFs, mỗi nhóm liên quan tới một chủ đề riêng như định tuyến, truyền tải, an ninh,..... Mỗi nhóm sau khi hoàn thành chủ đề đó thì giải tán. Mỗi nhóm nghiên cứu có một trưởng nhóm được bổ nhiệm (thỉnh thoảng là một số đồng trưởng nhóm) cùng với một tuyên bố về mục tiêu dự định làm gì, khi nào hoàn thành. Nhiều công việc được thực hiện qua . IETF tổ chức họp 3 lần một năm.
Các nhóm nghiên cứu của IETF được nhóm theo các lĩnh vực, và được quản lý bởi các giám đốc vùng (các AD). AD bổ nhiệm các trưởng nhóm nghiên cứu. Các AD cùng với trưởng IETF tạo thành Nhóm điều khiển kỹ thuật Internet (IESG), nhóm này chịu toàn bộ trách nhiệm hoạt động của IETF.
IETF là một hoạt động chính thức dưới sự bảo trợ của Xã hội Internet. Thực hiện giám sát kiến trúc là Ban kiến trúc Internet (IAB). IAB cũng xét xử các khiếu nại khi có ai đó kêu ca rằng IESG đã sai. IAB và IESG có đủ tư cách phù hợp với xã hội Internet. Tổng giám đốc vùng cũng là trưởng của IESG và của IETF và một thành viên đương nhiên của IAB.

CHIẾN LƯỢC CẢI THIỆN TỪ VỰNG TOEIC

Một trong những cách tốt nhất để nâng cao vốn từ vựng của bạn là đọc, và đọc thường xuyên. Khi bạn đọc, bạn cần chú ý nghĩa của từ trong ngữ cảnh.

Bạn càng đọc thì bạn càng thấy nhiểu từ. Bạn càng thấy nhiều từ thì bạn càng học được nhiều. Việc đọc là một trải nghiệm rất thú vị, vì vậy hãy chắc chắn rằng bạn đọc những điều thú vị cho bạn. Sau đó, bạn sẽ có niềm vui, nâng cao vốn từ vựng của bạn, và xây dựng kỹ năng bạn cần cho kỳ thi TOEIC. Khi bạn đọc, có một số chiến lược bạn có thể sử dụng để nâng cao vốn từ vựng của bạn.

1. Phân Tích Thành Phần Của Từ
Từ được hình thành bởi các từ gốc (roots), các tiền tố (prefixes) đứng trước từ gốc, và các hậu tố (suffixes) đứng sau từ gốc.
Ví dụ
re (tiền tố) + circula (từ gốc) + tion (hậu tố) = recirculation

Trong tiếng Anh, có rất nhiều từ gốc, các tiền tố, và hậu tố xuất xứ từ tiếng Hy Lạp và tiếng Latinh. Tìm hiểu về ý nghĩa của các từ gốc, các tiền tố, và hậu tố sẽ giúp bạn tăng vốn từ vựng của bạn.


Ví dụ
re (lại) có nghĩa là again (một lần nữa)
reunite (đoàn tụ) nghĩa là bring together (mang lại với nhau một lần nữa)
reconsider (xem xét lại) nghĩa là think about again (suy nghĩ một lần nữa)
retrain (đào tạo lại) train again (đào tạo một lần nữa)




2. Nhận diện được những hình thức ngữ pháp (Grammatical Forms)
Một số hậu tố (suffixes) cho bạn biết một từ là một danh từ, một động từ, một tính từ, hoặc một trạng từ. Bạn có thể học cách nhận diện những hậu tố khác nhau. Những hậu tố sẽ giúp bạn hiểu được ý nghĩa của từ mới.

Ví dụ
Noun: -tion, ance, -ment, -ism, -ship, -ity, -er, -or, ee
Adj : -y, -ous, -able,-al, -ic, -al, -ful, -less
adv : -ly
Verb : -ize, -ate, -en

3. Nhận diện được Word Families
Cũng giống như anh chị em trong cùng một gia đình, những từ đều có liên quan với nhau. Một từ có thể trở thành một danh từ, một động từ, một tính từ, hoặc một trạng từ bằng cách thay đổi hậu tố (suffixes) của nó.

Ví dụ
depend (verb)
dependence (noun) dependable (adjective) dependably (adverb)
Bốn từ trên cùng với nhau tạo thành một gia đình từ. Ý nghĩa của mỗi từ là tương tự với những từ khác, nhưng mỗi từ có một hình thức khác nhau về ngữ pháp. Việc biết gia đình từ (word families) sẽ giúp bạn điều gì ?
• Bạn sẽ học được nhiều từ hơn. Khi bạn tìm thấy một từ mới, hãy tìm trong từ điển để tìm các thành viên khác trong cùng gia đình từ.
• Bạn sẽ hiểu được những từ mới. Xem xét cẩn thận một từ mới. Nó có thể là liên quan đến một từ mà bạn đã biết.

4. Hãy làm một danh sách từ vựng của riêng bạn
Khi bạn đọc, bạn sẽ gặp nhiều từ mới, và bạn sẽ cần phải có cách tổ chức hiệu quả để ghi lại chúng.
• Sử dụng một cuốn tập để ghi lại những từ mới của bạn.
• Đối với mỗi từ mới, viết từ, từ đồng nghĩa, định nghĩa, các câu gốc mà bạn tìm thấy các từ, và sau đó tạo thành câu của riêng bạn bằng cách sử dụng các từ này.
• Mỗi ngày, hãy xem lại các từ của những ngày trước đó.
• Photo bảng biểu dưới đây để làm danh sách từ vựng cho riêng bạn.
Ví dụ
New Word
Synonym
Definition
Original Sentence
My Sentence
consider
think about
To think carefully about something
After considering all the difficulties, they decided to go ahead with the project.
I considered different schools before I chose this one.

5. Hãy Đọc Tin Tức Hàng Ngày
Điều quan trọng là đọc một cái gì đó bằng tiếng Anh mỗi ngày, ngoài bài tập trên lớp. Điều quan trọng là đọc những điều thú vị cho bản thân bạn. Bạn sẽ nhận được nhiều hơn từ trải nghiệm theo cách này. Một yếu tố quan trọng khác là bạn đọc nhiều thể loại khác nhau điều này sẽ giúp bạn không buồn chán và quan trọng hơn là giúp bạn học có một vốn từ vựng đa dạng hơn.

• Đọc 20-30 phút mỗi ngày.
• Đọc những gì mang lại điều thú vị cho bạn.
• Đọc nhiều chủ đề khác nhau.
• Đọc sách, tạp chí, báo chí, và các trang web.


Các bước sau đây sẽ giúp bạn đọc để cải thiện vốn từ vựng của bạn:

1. Đọc mà không dừng lại. Đừng dừng lại để tra nghĩa của những từ chưa biết. Bạn có thể hiểu được ý chính của một đoạn văn mà không cần hiểu biết từng từ một
2. Gạch chân hay đánh dấu các từ chưa biết, hoặc viết chúng vào một tờ giấy riêng.
3. Đoán ý nghĩa của các từ chưa biết. Sử dụng bối cảnh và kiến thức về các tiền tố và hậu tố và gia đình từ để đoán.
4. Chọn năm từ khoá và viết chúng vào trong sổ tay từ vựng của bạn. Những từ không biết này rất quan trọng trong việc hiểu ý nghĩa của đoạn văn.
5. Tra năm từ khóa trong từ điển của bạn.
6. Viết một đoạn tóm tắt cho bài văn. Hãy thử sử dụng năm từ khóa trong bản tóm tắt của bạn.
Đây là một món quà để các bạn học từ vựng nhanh và hiệu quả hơn nữa, Flashcard với thiết kế đẹp mắt và cung cấp nhiều từ vựng cho bạn trong cuốn "600 Essential Words For The TOEIC":

Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2012

Những cách tự học từ vựng hiệu quả cực hay

Mỗi người học có một cách riêng để học từ vựng. Nhưng tựu chung lại, chúng ta có một số cách học khá phổ biến và hiệu quả như sau:
• Học từ mới có kèm theo nghĩa bằng tiếng mẹ đẻ
• Học từ mới bằng cách nhóm các từ theo từng chủ điểm, từ loại hay mức độ sử dụng
• Học từ mới qua việc làm các bài tập về từ vựng để có thể biết sử dụng từ một cách chính xác
• Học từ mới bằng cách viết chúng lên các tấm thẻ nhớ và thường xuyên tự kiểm tra xem đã nhớ được các từ mới hay chưa?
• v.v
Những phương pháp kể trên đều có hiệu quả và mỗi phương pháp phù hợp với từng đối tượng người học và từng cách học khác nhau. Tuy nhiên, có một cách học từ vựng rất hiệu quả bạn có thể thử áp dụng trong việc học từ mới của mình, đó là tìm ra mối quan hệ giữa các từ rồi nhóm chúng lại với nhau. Khi tiếp cận với các từ mới, bạn hãy tìm xem chúng có mối quan hệ gì với những từ bạn đã biết không hay giữa chúng có mối quan hệ gì không? Đây là cách giúp học và ghi nhớ từ mới rất hiệu quả. Có một số quan hệ giữa các từ trong tiếng Anh như sau:
Hyponymy (Bao nghĩa)
Chair (ghế tựa), bench (ghế băng trong trường học), armchair (ghế bành), bar-stool (ghế đẩu ngồi quán bar), pew (ghế băng trong nhà thờ), rocking-chair (ghế xích đu), deck-chair (ghế võng) đều là những từ chỉ ghế hay chỗ ngồi (seat). Vì vậy, tất cả chúng đều có liên quan đến nhau vì cùng có liên quan đến từ bao nghĩa “seat”. Ghế tựa (a chair) hay ghế dài (a bench) thì đều là ghế (a seat) nhưng ghế (seat) thì không phải nhất thiết là chair hay bench.
Tương tự như vậy, car (ô tô con), bus (xe buýt), van (xe tải nhỏ), tram (xe điện), lorry (xe tải lớn), motor-cycle (xe máy), taxi (taxi) đều là những từ chỉ phương tiện giao thông.
Bạn cũng sẽ thấy việc ghi chép các từ theo hệ thống mạng lưới như sau rất có ích:

Với những sơ đồ như trên, bất kỳ khi nào có từ mới cùng nhóm, bạn cũng có thể bổ sung từ đó vào sơ đồ từ vựng của mình một cách dễ dàng.
Antonymy (Trái nghĩa)
Đây là mối quan hệ có tác động rất mạnh đến việc ghi nhớ từ vựng. Chẳng hạn khi bạn được hỏi về một từ liên quan đến ‘hot’, bạn sẽ trả lời ngay là ‘cold’, chứ không phải là những từ như ‘desert’, ‘sun’, ‘weather’.
Vì vậy, bạn sẽ thấy việc ghi chép và học từ theo từng cặp trái nghĩa là rất hiệu quả. Chẳng hạn như:

Clines (Cùng trường nghĩa)
Nhiều tính từ mặc dù không phải là từ đồng nghĩa nhưng ý nghĩa của chúng lại gần nhau vì cùng chỉ tính chất của một sự vật, sự việc, hay hiện tượng. Việc ghi chép và học từ theo trường nghĩa cũng chứng tỏ được sự hiệu quả của nó. Những từ mới sẽ dần được bổ sung vào danh mục từ trong quá trình học.
Ví dụ như khi nói về nhiệt độ, chúng ta có hàng loạt tính từ chỉ mức độ từ nhiệt độ thấp đến cao.



Hai từ ‘boiling’ (sôi) và ‘mild’ (âm ấm) có thể được bổ sung vào danh mục từ này.

Collocation (Cách kết hợp từ)
Có những từ thường được kết hợp với nhau thành một cụm từ có nghĩa như ‘perform a task’, ‘make a suggestion’, ‘do one’s homework’, v.v. Bạn cũng nên học cách ghi nhớ từ mới theo cách này vì đây là cách học có tính ứng dụng cao và bạn có thể nắm được cách sử dụng và kết hợp từ có hệ thống.
Các từ sẽ được ghi chép theo dạng sơ đồ nhằm mục đích ghi nhớ và gợi nhớ bằng hình ảnh như sơ đồ sau:

Điểm chung của tất cả những phương pháp ghi nhớ trên là sử dụng sơ đồ, biểu đồ để ghi chép từ mới một cách có hệ thống và hình ảnh. Đó cũng là ưu điểm vượt trội của phương pháp học từ mới này bởi việc ghi nhớ bằng hình ảnh dễ dàng và hiệu quả hơn rất nhiều so với bằng chữ cái. Bạn cũng có thể sử dụng các màu sắc khác nhau trong sơ đồ từ vựng của mình và hãy nhớ là luôn ghi chép từ mới một cách có hệ thống. Hy vọng những kinh nghiệm này sẽ giúp bạn thành công trong việc học từ mới.

Điều khiển lỗi

Trong quá trình truyền frame thì dữ liệu không phải lúc nào cũng đến đích mà luôn có một tỉ lệ lỗi nào đó.
Kiểm soát lỗi là cơ chế phát hiện và sửa lỗi xảy ra, đảm bảo dữ liệu đến đích đúng và chính xác (hay tỉ lệ lỗi thấp hơn một ngưỡng cho phép nào đó, xem thêm ).
Cơ chế kiểm soát lỗi dựa trên một số hoạt động sau :
  • Phát hiện lỗi: dùng các mã phát hiện chẵn lẻ, CRC (thấy hay dùng trong kỹ thuật), còn nếu trong internet người dùng hay tự check file thì dùng md5, SHA256 ...
  • Phúc đáp dương ACK (positive ACKnowledgement): báo rằng truyền ok
  • Phúc đáp âm NAK (Negative AcKnowledgement): báo rằng frame truyền bị lỗi
  • Tự phát lại sau một thời gian nhất định: khi frame bị mất trong quá trình truyền, không nhận được tín hiệu phản hồi hoặc bên thu nhận được nhưng tín hiệu phản hồi bị mất.
Cơ chế này dựa trên kỹ thuật điều khiển luồng, gọi là ARQ (Automatic Repeat Request - tự động yêu cầu phát lại). Có 3 phương án cơ bản :
    Điều khiển lỗi có thể coi là kỹ thuật điều khiển luồng có tính đến sai lệch khi truyền, thực tế chắc cũng ít kênh nào đạt được tỉ lệ lỗi cực thấp đến nỗi có thể dùng thẳng điều khiển luồng mà chắc dùng điều khiển lỗi (thông cảm chưa có kinh nghiệm thực tế gì nên đoán vậy)

    ITU (International Telecommunication Union - Telecommunication Standardization Sector)

    ITU-T là cụm từ viết tắt của International Telecommunication Union - Telecommunication Standardization Sector là lĩnh vực Tiêu chuẩn viễn thông - thuộc Tổ chức Viễn thông quốc tế.

    Giới thiệu về ITU

    • ITU là Tổ chức viễn thông quốc tế thuộc Liên hiệp quốc, được thành lập vào năm 1865 (với tên gọi tiền thân là Liên minh Điện báo quốc tế - International Telegraph Union). Các hoạt động của ITU bao trùm tất cả các vấn đề thuộc ngành Công nghệ Viễn thông và Thông tin gồm có điều phối các quốc gia trên toàn cầu trong việc chia sẻ và sử dụng các tài nguyên Viễn thông như tần số vô tuyến điện, quỹ đạo vệ tinh, hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông tại các nước đang phát triển và xây dựng các tiêu chuẩn chung trên thế giới về kết nối các hệ thống liên lạc. ITU cũng đang tham gia nghiên cứu và tìm giải pháp cho các thách thức chung trên toàn cầu trong thời đại hiện nay như biến đổi khí hậu và bảo mật, an toàn thông tin.
    • ITU có 3 lĩnh vực hoạt động chính gồm: ITU-T (Viễn thông - Telecom), ITU-R (Thông tin vô tuyến - Radio), ITU-D (Phát triển viễn thông - Telecommunications Development).
    • Trụ sở của ITU hiện được đặt tại Geneva, Thuỵ Sỹ. Tính tới thời điểm hiện nay, số lượng thành viên của ITU là 191 Quốc gia thành viên và hơn 700 thành viên lĩnh vực và thành viên liên kết.

    Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

     
    Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes