Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2012

Mạng TOKEN RING

Ngoài Ethernet LAN một công nghệ LAN chủ yếu khác đang được dùng hiện nay là Token Ring. Nguyên tắc của mạng Token Ring được định nghĩa trong tiêu chuẩn IEEE 802.5. Mạng Token Ring có thể chạy ở tốc độ 4Mbps hoặc 16Mbps. Phương pháp truy cập dùng trong mạng Token Ring gọi là Token passing . Token passing là phương pháp truy nhập xác định, trong đó các xung đột được ngǎn ngừa bằng cách ở mỗi thời điểm chỉ một trạm có thể được truyền tín hiệu. Điều này được thực hiện bằng việc truyền một bó tín hiệu đặc biệt gọi là Token (mã thông báo) xoay vòng từ trạm này qua trạm khác. Một trạm chỉ có thể gửi đi bó dữ liệu khi nó nhận được mã không bận.


Mạng này thấy đã cũ và không phổ biến, bài viết chắc đã cũ, hiện nay mạng nội bộ thì LAN ethernet là phổ biến nhất

Hệ thống chứng chỉ của MICROSOFT

Có bao nhiêu chứng chỉ của Microsoft?
Bên cạnh chứng chỉ CCNA và hệ thống chứng chỉ của Cisco, hệ thống chứng chỉ của Microsoft cũng được đánh giá là những chứng chỉ thịnh hành nhất trên thế giới hiện nay.
Chương trình MCP được thành lập từ năm 1992. MCP là từ viết tắt của Microsoft Certified Professional, tạm dịch là “Chuyên viên được chứng nhận bởi Microsoft”. Chứng chỉ này xác nhận chuyên viên có khả năng thiết lập và sử dụng thành thạo các sản phẩm cũng như công nghệ, giải pháp của Microsoft.
Để được chứng nhận là một MCP, bạn cần phải thi đậu một trong các môn thi của Microsoft được tổ chức bởi Prometric. Trên MCP còn có các chứng chỉ cao cấp hơn (xét từ cao xuống thấp):
  • Microsoft Certified Architect Program (MCA)
    Đây là chương trình nhằm đến những chuyên gia có kinh nghiệm thực tế trong việc xây dựng kiến trúc giải pháp phần mềm và cơ sở hạ tầng, những kiến trúc sư tin học này sẽ áp dụng một cách thành công các kinh nghiệm công việc và phương pháp luận của họ nhằm tạo nên một kiến trúc tổng thể cho toàn vòng đời sản phẩm CNTT.
  • Microsofr Certified IT Professional (MCITP)
    Chứng chỉ MCITP sẽ giúp bạn làm nổi bật chuyên môn của mình. Có được chứng chỉ MCITP, sẽ giúp phân biệt bạn vớic các chuyên viên CNTT khác bởi khả năng làm việc hiệu quả của bạn với hầu hết các kỹ thuật, sản phẩm của Microsoft.
  • Microsoft Certified Professional Developer (MCPD)
    Nếu bạn đang dùng Microsoft Visual Studio 2005 để phát triển các ứng dụng trên nền .NET Framework 2.0 thì chứng chỉ MCPD sẽ giúp bạn một cách hiệu quả và chính xác có được các kĩ năng cần thiết để thực hiện tốt công việc của mình.
  • Microsoft Certified Technology Specialist (MCTS)
    Chứng chỉ MCTS sẽ khẳng định kiến thức sâu rộng của bạn đối với những kĩ thuật đặc biệt của Microsoft. Đạt được chứng chỉ MCTS, bạn sẽ có khả năng xây dựng, triển khai, phát hiện và giải quyết các sự cố liên quan đến công nghệ của Microsoft.
  • Microsoft Certified Systems Engineer (MCSE)
    MCSE là chứng chỉ cao nhất về quản lý hệ thống, kỹ sư hệ thống có khả năng lập kế hoạch, thiết kế, triển khai cơ sở hạ tầng tin học trên nền tảng Windows và các phần mềm quản lý máy phục vụ khác (mail-thư điện tử, firewall-tường lửa, database-cơ sở dữ liệu,…). Các chứng chỉ MCSE chuyên sâu khác MCSE: Messaging (chuyên sâu về hệ thống thư điện tử) and MCSE: Security (chuyên sâu về bảo mật).
  • Microsoft Certified Systems Administrator (MCSA)
    Chuyên viên quản trị hệ thống có khả năng quản lý hệ thống và môi trường mạng máy tính dựa trên nền tảng Microsoft Windows. Các chứng chỉ MCSA chuyên sâu khác gồm có MCSA: Messaging (chuyên sâu về hệ thống thư điện tử) and MCSA Security (chuyên sâu về bảo mật).
  • Microsoft Certified Solution Developer (MCSD)
    Chuyên viên phát triển giải pháp có khả năng thông thạo trong việc sử dụng các công cụ phát triển của Microsoft, công nghệ và kiến trúc của Windows và Office để thiết kế và xây dựng các giải pháp tiên tiến phục vụ kinh doanh và quản lý.
  • Microsoft Certified Application Developer (MCAD)
    Chuyên viên phát triển ứng dụng có khả năng sử dụng công nghệ Microsoft để phát triển, duy trì các ứng dụng phần mềm cho doanh nghiệp, các dịch vụ và ứng dụng Web cũng như dịch vụ kết nối dữ liệu
  • Microsoft Certified Desktop Support Technician (MCDST)
    Kỹ thuật viên có kỹ năng về hỗ trợ kỹ thuật và chăm sóc khách hàng giúp các giải quyết sự cố liên quan đến phần cứng và phần mềm trong môi trường Microsoft Windows.
  • Microsoft Certified Database Administrator (MCDBA)
    Chuyên viên quản trị cơ sở dữ liệu có khả năng: thiết kế, triển khai và quản lý cơ sở dữ liệu Microsoft SQL Server.
  • Microsoft Certified Trainer (MCT)
    MCT là những người được Microsoft chứng nhận có khả năng đào tạo về sản phẩm, công nghệ hay giải pháp của Microsoft. Họ là những giảng viên đứng lớp, giảng viên trực tuyến, cố vấn đào tạo, người chủ trì hội thảo hay trưởng nhóm.... Cộng đồng MCT có ở 140 nước trên thế giới. Tất cả đều đoàn kết và nhiệt tình giúp đỡ khách hàng, đối tác của Microsoft phát triển tiềm năng của họ.
Microsoft có rất nhiều môn thi, các bạn có thể truy cập vào trang web http://www.microsoft.com/mcp/ để biết thêm chi tiết về các môn thi vì nó được thay đổi và cập nhật thường xuyên.
Học như thế nào để lấy chứng chỉ?
Có nhiều bạn hỏi nên học thế nào cho hiệu quả và có khả năng thi đậu cao? Dưới đây là những bước cần có để lấy một chứng chỉ của Microsoft:
1. Quyết định chứng chỉ nào là thích hợp với bạn và chọn môn thi cho nó.
Tất cả các chứng chỉ đều có những môn bắt buộc và những môn tự chọn, vì vậy bạn nên quyết định các môn thi cho mình trước khi bắt đầu học từ đó cũng giúp bạn chuẩn bị tài liệu được tốt hơn.
2. Tự học hoặc tham gia các khóa đào tạo với những tài liệu sau:
· Microsoft Official Curriculum (MOC), Microsoft Press,Microsoft Training Kits, Microsoft TechNet, Microsoft Developer Network (MSDN).
· Bạn có thể tự học hoặc đăng ký theo học các khóa đào tạo ở các trung tâm và hãy chọn Trung tâm Đào tạo được ủy quyền với Microsoft như Microsoft IT Academy Program, Microsoft Certified Learning Partner để được đào tạo một cách tốt nhất. Khi đăng ký học ở trung tâm, bạn nên hỏi rõ các vấn đề về học phí, tài liệu học tập, thời gian học, các chi phí phát sinh, sự hỗ trợ của trung tâm và kinh nghiệm của giảng viên để có sự so sánh chính xác và quyết định đúng đắn.
· Để tự học, ngoài các tài liệu của Microsoft còn có các giáo trình tự học (Study Guide) của các nhà xuất bản khác như Sybex, New Riders, Syngress. Nếu có điều kiện bạn nên tham khảo thêm các tài liệu này. Riêng tài liệu MOC được dùng để giảng dạy trong các Trung tâm ủy quyền của Microsoft được hướng dẫn rất kỹ và chủ yếu tập trung vào các bài thực hành (labs). Nếu bắt đầu học, bạn nên tìm các tài liệu MOC là tốt nhất. Nếu đã có kinh nghiệm nhiều, bạn có thể bắt đầu với các cuốn Study Guide.
· Ngoài ra, hiện nay các bạn cũng có thể tiếp cận với các bài giảng trực tuyến miễn phí trên Internet để có thể bổ trợ các kiến thức cần thiết cho mình và hiểu các vấn đề gặp phải khi làm thực hành.
3. Thực tập nhiều để có kinh nghiệm với các sản phẩm của Microsoft:
Hãy thực tập thật nhiều! Đó là lời khuyên cho tất cả những ai học về CNTT, không chỉ riêng gì học các chứng chỉ quốc tế. Điều kiện để thực hành các bài labs của Microsoft dễ hơn so với Cisco nhiều vì bạn chỉ cần hai-ba máy tính kết nối với nhau, thậm chỉ cần một máy có cấu hình mạnh và cài chương trình máy ảo lên là được.
4. Học theo nhóm:
Các bạn có thể tìm đến nhau và thành lập các nhóm học tập. Khi học theo nhóm, các vấn đề sẽ được giải quyết nhanh hơn và sự trao đổi giữa các thành viên cũng sẽ tạo ra động lực giúp bạn học tốt hơn. Ngoài ra, các bạn có thể “góp” máy tính lại tạo nên hệ thống mạng để thực hành
5. Thi thử với các chương trình thi giả lập:
Để khỏi bỡ ngỡ khi làm bài thi và cũng để ôn lại kiến thức của mình, các bạn nên thi thử với các chương trình giả lập của Transcender, SelfTest Softwares, v.v… Ngoài các chương trình giả lập này, bạn còn có thể đọc các tài liệu ôn thi như TestKing, CorrectExams. Các tài liệu này được viết dưới dạng hỏi-đáp giống như trong kỳ thi, giúp bạn có nhiều tình huống để giải quyết hơn và có thêm được nhiều kiến thức hơn trước khi thi. Có những tài liệu được gọi là Braindumps, là tài liệu do những người đã thi viết lại theo trí nhớ của mình rồi gửi lên mạng để chia sẻ với mọi người. Các bạn không nên tin hoàn toàn vào các tài liệu này vì nó không chính xác và tôi cũng hoàn toàn không khuyến khích bạn sử dụng chúng.
6. Đăng ký thi tại các trung tâm của Prometric
Bạn hãy lên lịch thi các môn của mình và đến đăng ký tại các trung tâm thi của Prometric. Việc lên lịch thi sẽ giúp bạn quản lý thời gian tốt hơn và có sự chuẩn bị kịp thời. Đừng để thời gian trôi qua quá lâu chỉ vì bạn “sợ” rằng mình chưa đủ kiến thức để đi thi. Hãy nhớ rằng công nghệ thay đổi rất nhanh, nếu bạn chần chừ thì có thể môn thi mới sẽ xuất hiện trước khi bạn thi môn cũ và như vậy bạn sẽ phải bắt đầu lại từ đầu.

Chọn MCSA hay MCSE?
Hiện nay, hai chứng chỉ MCSA và MCSE được nhiều người quan tâm nhất và cũng được giảng dạy nhiều nhất tại các trung tâm tin học. Tuy nhiên, nhiều bạn vẫn còn chưa hiểu rõ được MCSA và MCSE khác biệt nhau như thế nào, vì vậy bạn có thể xem xét bảng so sánh dưới đây:





Chọn MCSA vì
• Chương trình MCSA theo tiêu chuẩn Microsoft IT Academy được thiết kế nhằm chuẩn bị cho học viên các kỹ năng cần thiết để triển khai, quản lý và khắc phục sự cố liên quan đến các hệ điều hành mạng Microsoft Windows Server: cài đặt và cấu hình hệ thống, quản trị và hỗ trợ người dùng hệ thống này.
• Một người với trình độ MCSA có khả năng hỗ trợ từ 200 đến 26.000 người dùng trong phạm vi từ 2 đến 100 địa điểm khác nhau.
• Chuẩn bị cho các kỳ thi lấy chứng chỉ quốc tế Chuyên viên quản trị hệ thống (MCSA) được công nhận ở mọi quốc gia trên toàn thế giới.
Để hoàn thành chứng chỉ MCSA, học viên phải nắm vững 4 nội dung cơ bản sau:
· Quản trị, duy trì hệ thống máy chủ Windows 2003, môn học này cung cấp cho học viên các kiến thức và kỹ năng cần thiết để quản lý các tài khoản và tài nguyên, duy trì tài nguyên máy chủ, giám sát máy chủ làm việc, và bảo vệ dữ liệu trong môi trường Microsoft Windows Server 2003.
· Quản trị và duy trì hệ thống mạng Windows 2003, mục đích của môn học này là cung cấp cho học viên các kỹ năng và kiến thức cần thiết để cấu hình máy tính với Windows làm căn bản trong cơ sở hạ tầng mạng Microsoft Windows Server 2003.
· Máy trạm Windows XP, môn này sẽ cung cấp cho học viên các kỹ năng quan trọng để thực hiện việc hỗ trợ kỹ thuật và liên kết các máy tính trạm. Đồng thời cho phép các chuyên viên hỗ trợ công nghệ thông tin trở thành chuyên gia trong lĩnh vực hỗ trợ máy trạm, qua đó có thể tạo môi trường làm việc tốt hơn cho công ty. Khóa học này cũng trang bị đủ các kiến thức cần thiết cho các học viên chuẩn bị thi các chứng chỉ MCSA và MCSE cho Windows 2003.
· Quản lý an ninh và tăng tốc truy cập mạng với ISA Server, nội dung của môn này là triển khai và quản lý Microsoft Internet Security and Acceleration Server 2004 với mục đích là cung cấp cho những người làm công nghệ thông tin chuyên nghiệp các kỹ năng và kiến thức để triển khai và quản lý Microsoft Internet Sercurity and Acceleration Server 2004 trong môi trường doanh nghiệp.
Chọn MCSE vì
- Chương trình đào tạo Kỹ sư hệ thống MCSE (Microsoft Certified Systems Engineer) dành cho các chuyên gia IT chuyên hoạch định, thiết kế, thực hiện các giải pháp và kiến trúc của Microsoft Windows trong các công ty có quy mô vừa và lớn và có ít nhất một năm kinh nghiệm thực hiện và quản trị các hệ điều hành mạng và hệ điều hành máy trạm.
- Chuẩn bị cho các kỳ thi lấy chứng chỉ quốc tế Kỹ sư hệ thống (MCSE) được công nhận ở mọi quốc gia trên toàn thế giới.

Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2012

Từ “alô” có từ khi nào?

Đang làm việc say sưa, chuông điện thoại reo vang, bạn liền nhấc máy và “alô”. Ngày nay, từ “alô” đã trở nên quá phổ biến trong “văn hóa điện thoại”, khiến người ta cảm thấy câu mở đầu của mỗi cuộc trò chuyện này hoàn toàn tự nhiên.

Nhưng có bao giờ bạn đặt câu hỏi: Từ “alô” có từ bao giờ?
Trên thực tế, từ “alô” có trong ngôn ngữ của loài người trước khi chiếc điện thoại ra đời. Đây là từ vốn được dùng trong ngôn ngữ của các thủy thủ ở những chuyến vượt đại dương. Nghĩa gốc của từ “alô” chính là mệnh lệnh: “Nghe này”.
Các thủy thủ thường nói “alô” qua những chiếc loa phóng thanh (bằng gỗ hoặc kim loại có vành miệng loe to) và hướng về những chiếc tàu mà họ muốn giao tiếp khi gặp trên biển hoặc đại dương.
Theo các nhà ngôn ngữ chuyên ngành từ nguyên học, từ "alô” có nguồn gốc xuất phát từ tiếng Anh. Đó chính là từ “hello” – có nghĩa là “xin chào”. Từ “hello” xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng thế kỷ XVI.
Bản thân từ “hello” trong tiếng Anh lại có nguồn gốc từ tiếng Đức, từ “hail” cũng có nghĩa là “xin chào”. Từ tương tự trong tiếng Pháp là “héler”.
Người ta kể lại rằng, khi mới phát minh ra điện thoại, nhà sáng chế Alexander Graham Bell đã sử dụng từ “ahoy” làm câu chào mở đầu. Tuy nhiên, từ này đã dần biến mất và không còn được sử dụng như một phần của văn hóa điện thoại. Như chúng ta đã biết, ngày nay khi nhấc điện thoại lên là người ta thường nói “alô”.
Ngọc Biên (Theo Báo Nga)

CCNA là gì

CCNA chắc nhiều người cũng nghe loáng thoáng là học về quản trị mạng, nhưng quản trị mạng là gì thì chưa chắc mọi người đã biết quản trị mạng là cái gì. Thực ra thì hiện mình đang theo học 1 khóa về CCNA, học về mạng máy tính, chia địa chỉ ip, các loại định tuyến ... nói chung là làm việc với router và switch của hãng cisco, để quản lý, thao tác cài đặt mạng công ty, tổ chức hay thậm chí hộ gia đình (LAN, WAN) học CCNA ra thì chỉ làm với các mạng nho nhỏ thôi, một vài trăm máy trở xuống còn muốn quản lý mạng lớn hơn thì phải học các chứng chỉ cao hơn.
Học CCNA ra thì có 2 kiểu, một là ra xong lấy chứng nhận trung tâm ra là đã học rồi (thường để kẹp hồ sơ xin việc thì khi xin việc chắc được ưu tiên hơn), hai là thi chứng chỉ Cisco luôn nhưng mà lệ phí 295 đô (tại thời điểm bài viết) nên như tớ đây là giờ cứ học còn chưa thi vội, nếu sau này xin việc mà người ta đòi hỏi thêm thì tính sau chứ lệ phí đắt quá mà ôn thi cũng phải vài tuần đến cả tháng.

Thêm thông tin Về hệ thống chứng chỉ của Cisco
Cisco là tập đoàn chuyên cung cấp các giải pháp mạng viễn thông đứng vào hàng lớn nhất thế giới. Khác với Microsoft hay hệ thống Linux/Unix/Solaris, Cisco tập trung vào các công nghệ mạng trục, các hệ thống backbone, các hệ thống mạng của ISP, IXP và các dịch vụ mạng thông minh cao cấp như Content Network, Voice, Truyền hình. Một cách hình tượng, ta ví von hệ thống Microsoft như xây dựng một ngôi nhà lớn hoàn thiện, còn Cisco là xây dựng các con đường bằng phẳng, kết nối những ngôi nhà lớn với nhau, tạo thành những hệ thống thông tin internet đồ sộ hiện nay.
Với những công nghệ phức tạp, tinh xảo, hiện đại vốn biến đổi hàng giờ, Cisco hiểu rằng chỉ có một nguồn nhân lực với kỹ thuật cao, kiến thức nền tảng vững vàng mới có thể đáp ứng được bước tiến, áp lực của sự phát triển ấy. Do đó, từ năm 1996, Cisco đã đưa ra một hệ thống các bằng cấp phân lớp. Ngoài việc thể hiện trình độ của một cá nhân, các bằng cấp này còn thể hiện uy tín, khả năng làm hài lòng khách hàng, khả năng hỗ trợ, làm việc, v.v... của công ty ấy. Hệ thống bằng cấp cùng với chính sách khuyến khích các công ty đối tác (partner) đầu tư vào việc thi lấy các chứng chỉ để công ty tuyển dụng có thể đạt được những danh hiệu như Premier, Bronze, Silver và Gold Partners, từ đó được hưởng những sự ưu đãi vể giá cả, hỗ trợ của Cisco đã thật sự tạo nên cơn sóng ồ ạt thi lấy các chứng chỉ Cisco vào những năm 1999-2000.
Ban đầu, Cisco chỉ có một chứng chỉ duy nhất là CCIE (Cisco Certified Internetwork Expert). Điều đặc biệt, thay vì đánh số CCIE#1 cho người đầu tiên nhận chứng chỉ CCIE toàn cầu, Cisco lại chọn con số 1024 để làm con số bắt đầu. Và CCIE#1024 được đặt cho Phòng thí nghiệm trọng điểm Cisco Testing Lab (hiện nay vẫn được gắn biển CCIE#1024 ở trước cửa ra vào). Brad Wright - Phụ trách chương trình CCIE đầu tiên, đã lựa chọn Stuart Biggs, kỹ sư cao cấp của Cisco và là người thiết kế đề thi và phòng lab CCIE để trở thành CCIE thứ 2 của thế giới với mã hiệu CCIE#1025. Và thực tế, Terry Slaterry, người được cấp chứng chỉ CCIE vào ngày 03/08/1993 được coi là CCIE đầu tiên của thế giới với mã hiệu CCIE#1026.
Song bởi nhiều tác động, trong đó có thể kể đến độ khó của chứng chỉ (chỉ mới có hơn 20.000 CCIE trên thế giới và 26 CCIE người Việt Nam – tính đến thời điểm hiện tại), các yếu tố về kinh tế, đầu tư tốn kém cho một CCIE đã khiến cho hệ thống bằng cấp hiện tại mất đi sự linh hoạt. Nhận ra điều đó, Cisco đã khôn khéo tách hệ thống chứng chỉ của mình ra thành nhiều cấp, bậc khác nhau, khiến cho hệ thống đó trở nên linh hoạt, uyển chuyển hơn, bản thân người học tự nhắm được những mục tiêu “có thể”, và mang đến lợi ích cho các công ty nhỏ hơn, vốn không cần kỹ năng của một CCIE.
Vì vậy, hệ thống chứng chỉ Cisco được tách ra thành những “rãnh chuyên môn” khác nhau, trong đó có 3 cấp cơ bản – Associate / Professional / Expert. Và 1 Expert ~ 16 Professionals ~ 128 Associates.
* Cấp độ chuyên viên (Associate):
CCNA (Cisco Certified Network Associate): chuyên về cấu hình và quản trị mạng
CCDA (Cisco Certified Design Associate): chuyên về thiết kế mạng
* Cấp độ chuyên gia (Professional):
CCNP (Cisco Certified Network Professional): cấu hình và quản trị mạng mức cao
CCDP (Cisco Certified Design Professional): thiết kế mạng mức cao
CCSP (Cisco Certified Security Professional): bảo mật trên mạng
CCVP (Cisco Certified Voice Professional): dịch vụ thoại trên mạng
CCIP (Cisco Certified Internetwork Professional): các giải pháp mạng lõi
* Cấp độ chuyên gia cao cấp (Expert):
Chứng chỉ CCIE - Cisco Certified Internetwork Expert, đây được coi là một trong những chứng chỉ nghề CNTT có giá trị nhất trên thế giới và cũng là chứng chỉ khó đạt nhất trong hệ thống chứng chỉ của Cisco.
Chứng chỉ CCDE – Cisco Certified Design Expert, chính thức được Cisco giới thiệu ngày 22/01/2008, dành cho các chuyên gia thiết kế, tích hợp và tối ưu hệ thống công nghệ hạ tầng cao cấp.
Việc tách nhỏ hệ thống bằng cấp là một bước tiến lớn trong quá trình mang các công nghệ phức tạp nhất đến cho từng cá nhân. Đây là một thành công rất lớn về mặt đầu tư không vốn cho nguồn nhân lực của mình.

CCNA - Cisco Certified Network Associate
Khi nói đến các chứng chỉ của Cisco, điều lạ lùng là chính chứng chỉ CCNA - môn căn bản nhất mà mọi người sẽ nhắc đến, thay vì là CCIE. Điều này cũng không có gì bất ngờ, do CCNA đã trở nên quá gần gũi với người học mạng, mang đến cho người học/làm mạng những kiến thức căn bản nhất. Ngoài ra, không chỉ dừng lại ở mức “kiến thức căn bản”, CCNA còn đi vào khai thác các khái niệm, công nghệ của Cisco, các thiết bị mạng như bộ chuyển mạch (switch), bộ định tuyến (router), v.v...
Về mặt thực nghiệm, một CCNA khi được đào tạo đầy đủ sẽ có đủ khả năng thiết kế, thi công những hệ thống mạng vừa và nhỏ, bao gồm từ thi công các hệ thống cáp mạng, cáp tường đến cấu hình các thiết bị, tóm lại là một giải pháp kết nối toàn diện.
Về mặt lý thuyết, công nghệ, CCNA sẽ nắm rõ các công nghệ mạng diện rộng tiên tiến hiện tại như dịch vụ chuyển tiếp khung (Frame-relay), ISDN, ADSL cũng như các khái niệm định tuyến, giao thức định tuyến như RIP, IGRP.
Học CCNA như thế nào?
Tùy vào trình độ, và điều kiện tài chính của từng người mà cách học CCNA có khác nhau: Tự học, học trực tuyến, học các khóa học CCNA ở các trung tâm luyện thi chứng chỉ, học ở Cisco Network Academy. Tuy nhiên, những điều sau đây là tiên quyết khi bạn học CCNA và muốn bước xa hơn tới các chứng chỉ khác của Cisco và ít bỡ ngỡ khi vào làm việc:
- Điều quan trọng nhất là bạn phải thực hành với thiết bị thật của Cisco hoặc thông qua các chương trình giả lập, thực tập là yếu tố quyết định của việc học CCNA, mang đến cảm hứng khi học, không chỉ gói gọn là lý thuyết khô khan.
- Đọc nhiều sách, nên là sách tiếng Anh. Hạn chế đọc sách tiếng Việt vì công nghệ của Cisco thay đổi rất nhanh, nếu trông chờ vào sách tiếng Việt thì bạn sẽ luôn... đi sau công nghệ.
- Tìm đọc các case study/technology mới trên www.cisco.com và các nguồn tài nguyên khác trên internet như các bải giảng trực tuyến miễn phí, các bài thực hành trực tuyến.
- Tham gia các nhóm thảo luận, các diễn đàn trao đổi thêm về Cisco Technology/Solutions.
Thi CCNA
Bạn có thể đăng ký thi CCNA thông qua hệ thống thi của Pearson VUE với mã thi 640-802. Lệ phí thi cơ bản, áp dụng ở Việt Nam là 150 USD. Riêng các bạn học viên của chương trình Cisco Networking Academy có thể được nhận Voucher giảm 70% lệ phí thi trong quá trình học tập.


Nguồn http://diendan.cnt45dh.net/showthread.php?t=2530&page=1

Nội dung học (ở trung tâm mình thì chỉ chia 2 kỳ nhưng nội dung cũng thế này)

HỌC KỲ 1: NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA MẠNG MÁY TÍNH
Học kì này giới thiệu với các bạn kiến trúc, cấu trúc, chức năng, các thành phần, mô hình của Internet và các mạng máy tính khác. Bằng việc sử dụng mô hình OSI và TCP/IP trong kì học, chúng ta có thể kiểm tra bản chất, vai trò của các giao thức và dịch vụ ở các tầng ứng dụng, tầng mạng, tầng liên kết dữ liệu, tầng vật lý. Nguyên lý, cấu trúc đánh địa chỉ IP và các kiến thức cơ bản của môi trường Ethernet cũng là nội dung nền tảng của giáo trình. Các bài lab sử dụng “mô hình Internet” cho phép học viên phân tích dữ liệu thật mà không ảnh hưởng đến hoạt động của mạng. Việc sử dụng phần mềm Packet Tracer (PT) giúp học viên phân tích được giao thức và hoạt động của hệ thống mạng, xây dựng các mạng nhỏ trong một môi trường mô phỏng. Kết thúc kì học, học viên có thể xây dựng được một mạng LAN đơn giản bằng việc áp dụng các nguyên lý cơ bản về việc đi cáp; thực hiện việc cấu hình cơ bản cho các thiết bị mạng, bao gồm router và switch; và phân bổ địa chỉ IP cho mạng. Nội dung các chương:
1. Sống, học tập, làm việc và giải trí trong một thế giới với mạng là trung tâm
2. Giao tiếp với các mạng dữ liệu và Internet
3. Tầng ứng dụng của mô hình OSI
4. Tầng vận chuyển của mô hình OSI
5. Tầng mạng và routing của mô hình OSI
6. Định địa chỉ mạng – IPv4
7. Tầng liên kết dữ liệu của mô hình OSI
8. Tầng vật lý của mô hình OSI
9. Ví dụ về kỹ thuật mạng LAN – Ethernet
10. Hoạch định và kết nối mạng
11. Cấu hình và kiểm tra mạng

HỌC KỲ 2: CÁC GIAO THỨC VÀ KHÁI NIỆM ĐỊNH TUYẾN

Học kì này mô tả kiến trúc, thành phần, hoạt động của router, giải thích nguyên lý cơ bản của định tuyến và các giao thức định tuyến. Học viên được phân tích, cấu hình, kiểm tra, gỡ lỗi các giao thức định tuyến cơ bản RIPv1, RIPv2, EIGRP, OSPF. Đến cuối kì học, học viên sẽ có khả năng nhận dạng và gỡ lỗi những vấn đề định tuyến thường gặp. Ở mỗi chương, học viên được hướng dẫn lần lượt từ việc dựng lab, sau đó thực hành cấu hình, triển khai, gỡ lỗi. Các bài tập liên quan đến phần mềm Packet Tracer giúp củng cố lại những khái niệm mới, cho phép học viên làm mô hình, phân tích các quá trình định tuyến. Nội dung các chương:
1. Giới thiệu về định tuyến và chuyển tiếp gói
2. Định tuyến tĩnh
3. Giới thiệu về định tuyến động
4. Giao thức định tuyến vector khoảng cách
5. RIPv1
6. Các giao thức định tuyến không phân lớp (classless routing protocol), VLSM, CIDR.
7. RIPv2
8. Chi tiết về bảng định tuyến
9. EIGRP
10. Các giao thức định tuyến trạng thái liên kết
11. OSPF

HỌC KỲ 3: CHUYỂN MẠCH LAN VÀ MẠNG KHÔNG DÂY
Học kì này giúp học viên tìm hiểu sâu hơn về hoạt động của switch và cách triển khai switch trong môi trường mạng LAN quy mô nhỏ và lớn. Bắt đầu với cái nhìn cơ sở về Ethernet, kì học giải thích chi tiết về hoạt động của LAN switch, việc triển khai VLAN, RSTP, VLAN Trunking Protocol (VTP), InterVLAN routing, hoạt động của mạng không dây. Học viên sẽ phân tích, cấu hình, kiểm tra, gỡ lỗi VLAN, RSTP, VTP, các mạng không dây. Kì học cũng đưa ra thiết kế mạng trường học, các khái niệm về mô hình mạng 3 lớp. Nội dung các chương:
1. Thiết kế mạng LAN
2. Cấu hình switch cơ bản
3. Mạng LAN ản - VLANs
4. VLAN Trunking Protocol- VTP
5. Spanning Tree Protocol
6. Inter-VLAN Routing
7. Khái niệm cơ bản và cấu hình mạng không dây
HỌC KỲ 4: TRUY CẬP MẠNG WAN
Kì học này giải thích các nguyên lý điều khiển luồng thông tin và sử dụng ACLs để điều khiển truy cập. Cung cấp một cái nhìn tổng quan về các dịch vụ, giao thức tại tầng liên kết dữ liệu cho truy cập mạng diện rộng. Học viên sẽ học các kỹ thuật truy cập và các thiết bị truy cập, triển khai và cấu hình giao thức PPP, PPPoE, DSL, Frame Relay. Khóa học giới thiệu các khái niệm an ninh mạng WAN, tạo đường hầm dữ liệu, và khái niệm cơ bản về mạng riêng ảo VPN. Khóa học bao gồm thảo luận về QoS và các dịch vụ mạng đặc biệt yêu cầu các ứng dụng tích hợp. Nội dung các chương:
1. Giới thiệu về mạng WAN
2. Point-to-Point Protocok - PPP
3. Frame-Relay
4. Bảo mật mạng
5. Quản lý luồng dữ liệu bằng ACL
6. Các dịch vụ truy cập từ xa
7. Các dịch vụ liên quan đến địa chỉ IP
8. Xử lý sự cố trong mạng

Nguồn http://www.kmasecurity.net/xforce/cong-nghe-mang/4161-gioi-thieu-cong-nghe-frame-relay.html

Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2012

Đa truy nhập và các giải pháp chia sẻ môi trường

Môi trường truyền dẫn là một môi trường quảng bá nên khi một trạm phát thì tất cả các trạm khác đều thu được.
Khi hai hay nhiều trạm cùng truyền dữ liệu thì sẽ xảy ra hiện tượng va chạm -> cần chia sẻ môi trường truyền.
Kỹ thuật đa truy nhập sinh ra để giải quyết bài toán nhiều người cùng truyền mà không có hoặc va chạm ở mức cho phép.

Theo như học ở môn mạng viễn thông thì có 2 loại:

Phân kênh tĩnh: FDMA, TDMA, CDMA ... xem thêm
Chia sẻ môi trường chung thành các kênh riêng biệt rồi gán cho từng đường truyền một. Phương pháp này thích hợp cho các ứng dụng truyền tín hiệu liên tục (steady stream)

Điều khiển truy nhập môi trường động
Thường thấy trong các môi trường truyền tin dạng gói, thích hợp với các trường dữ liệu phát theo cụm "bursty".
Lớp MAC (Media Access Control hay Medium Access Control có nghĩa là "điều khiển truy nhập môi trường") có chức năng là giảm thiểu va chạm để thu được hiệu suất sử dụng môi trường hợp lý.

Xem thêm So sánh các giải pháp MAC

Thứ Năm, 29 tháng 3, 2012

Phân loại mạng máy tính

Có nhiều cách để phân loại mạng máy tính tuỳ thuộc vào yếu tố chính được chọn làm chỉ tiêu để phân loại: khoảng cách địa lý, kỹ thuật chuyển mạch, kiến trúc của mạng.


Theo khoảng cách địa lý
Phân làm 4 loại: mạng cục bộ, mạng đô thị, mạng diện rộng, mạng toàn cầu
  • Mạng cục bộ (Local Area Networks - LAN): cài đặt trong phạm vi tương đối hẹp, khoảng cách lớn nhất giữa các máy tính nối mạng là vài chục km.
  • Mạng đô thị (Metropolitan Area Networks - MAN): cài đặt trong phạm vi một đô thị, một trung tâm kinh tế xã hội, có bán kính nhỏ hơn 100 km
  • Mạng diện rộng (Wide Area Networks - WAN): phạm vi của mạng có thể vượt qua biên giới quốc gia và thậm chí cả lục địa
  • Mạng toàn cầu (Global Area Networks - GAN): phạm vi rộng khắp các lục địa


Kỹ thuật chuyển mạch
Phân làm 3 loại:
  • mạng chuyển mạch kênh
  • mạng chuyển mạch thông báo
  • mạng chuyển mạch gói.

Phân loại theo kiến trúc mạng
Phân loại mạng theo topo và giao thức sử dụng


Phân loại theo môi trường truy nhập
Có 2 loại cơ bản
Mạng chuyển mạch
  • Nối các người sử dụng bằng đường dây, ghép kênh và chuyển mạch
  • Chuyển gói từ nguồn tới đích, yêu cầu bảng định tuyến
  • Đối với mạng lớn thì việc đánh địa chỉ cần có cấu trúc để dễ tìm ra người phát và nhận
  • Ví dụ: Mạng Internet là quen thuộc nhất, ATM ..
Mạng quảng bá
  • Không cần bẳng định tuyến do thông tin được đưa đến tất cả người dùng đồng thời
  • Đánh địa chỉ đơn giản
  • Cần có giao thức điều khiển truy nhập môi trường
  • Ví dụ: mạng LAN

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

Trung kế (trunk)

Trung là trung gian, kế là nối tiếp. Trung kế là một nối tiếp trung gian, hay một kết nối trung gian.

Nghe trừu tượng nhỉ.

Trung kế theo thuật ngữ viễn thông là một link kết nối giữa hai tổng đài. Cái này cần quan tâm, nói chung thì trung kế là một cái đường để kết nối giữa các tổng đài và truyền dữ liệu trên đó.

Ví dụ 2 đài đấu nhau bằng 1 luồng E1 sử dụng báo hiệu số 7
+ Luồng E1 có tốc độ 2Mbps, chia thành 32 kênh 64Kbps
+ Kênh 0 dùng cho đồng bộ
+ 1 kênh nào đó - thường là kênh 1 - được dùng cho báo hiệu SS7
+ 30 kênh còn lại từ 2 đến 31 dùng cho thoại.
Vậy là 1 luồng E1 có thể truyền cùng lúc 30 cuộc điện thoại

Tổng đài bây giờ thì số cuộc điện thoại truyền qua trung kế thì chắc tính bằng đơn vị triệu cuộc điện thoại trở lên hoặc thậm chí lưu lượng thoại chả đáng là bao, không đáng để nhắc đến khi tính lưu lượng trung kế ấy chứ.

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012

Lịch trình phụ thuộc kênh (Channel-dependent scheduling)

Lịch trình (Scheduling) là quá trình quyết định người dùng sẽ nhận kênh truyền như thế nào tại mỗi khoảng thời gian truyền dẫn TTI (Transmission Time Interval) - trong HSDPA quy định là 2ms.
Các bạn có thể xem trong hình vẽ :

Tại mỗi khoảng thời gian thì trình lập biểu (Scheduler) sẽ xác định nên truyền đến kênh nào, như hình trên là các khoảng thời gian (bằng nguyên lần của 2ms vì cứ sau 2ms thì trình lập biểu sẽ kiểm tra 1 lần).
Vì nếu truyền kênh kênh truyền tốt thì sẽ có thể truyền tốc độ cao: Xem lý do ở đây
Nếu luôn truyền trên những kênh truyền tốc độ cao thì hệ thống sẽ cung cấp được tốc độ tốt nhất, tuy nhiên điều kiện để quyết định người sử dụng nào được ưu tiên truyền dựa trên nhiều tiêu chí :
  • Ưu tiên người dùng có kênh truyền tốt nhất : cái này chính là lý do chính cho lập lịch để làm tăng tốc độ.
  • Tuy nhiên sẽ có người có kênh truyền kém hơn, vẫn cần phải duy một tốc độ nhất định, không để dừng truyền hoàn toàn gây đứt kết nối.
  • Ngay cả với một người dùng đứng yên, cách nodeB một khoảng cố định thì do hiện tượng fading (thăng giáng tín hiệu 1 cách ngẫu nhiêu), trình lập lịch cũng ưu tiên truyền khi tín hiệu "thăng" và giảm khi tín hiệu "giáng", lợi dụng hiện tượng fading (vốn được coi là luôn xấu) làm tăng tốc độ truyền.
  • Lịch trình tùy theo yêu cầu tốc độ của người dùng (và cả vấn đề gói cước): dù kênh truyền tốt nhưng người dùng chẳng dùng gì thì cũng chỉ duy trì kết nối thôi, cần gì phải ưu tiên.
  • Một vấn đề nữa là tùy theo khả năng của thiết bị thu và thiết bị phát: thiết bị phát thì không rõ nhưng với các điện thoại của mình gồm N81 (max tốc độ 384kbps), b7320 (3,6 Mbps), defy (7,2 Mbps) đường xuống thì không lý gì hệ thống truyền tốc độ vượt khả năng thiết bị thu được.
  • .... 
Tóm lại Lịch trình phụ thuộc kênh là quá trình quyết định mức độ ưu tiên truyền dữ liệu cho kênh nào sao cho tối ưu nhất, bám theo sự thay đổi của kênh truyền.

Vì sao phải quản lý lưu lượng và điều khiển quá tải

Trong đời sống hiện nay, chúng ta sử dụng rất nhiều các thiết bị viễn thông khác nhau với những cách kết nối khác nhau, nhu cầu của con người càng ngày càng lớn, nếu chúng ta không quản lý lưu lượng và điều khiển quá tải (Traffic Management & Overload) thì chúng ta theo lẽ tự nhiên mỗi người sẽ được cấp một kênh nào đó (không cấp cho thì truyền tin kiểu gì ???) và mỗi người sẽ có một tài nguyên nhất định, tuy nhiên như vậy là rất lãng phí, vì không phải thiết bị nào cũng luôn kết nối mà dù có luôn kết nối thì không phải thiết bị nào cũng phát hết công suất, vì vậy mà chúng ta luôn thấy việc dùng chung tài nguyên và thỉnh thoảng chúng ta vẫn thấy nghẽn mạng, tốc độ truy cập siêu rùa, trang web lag vô cùng, delay cực lớn, đêm giao thừa lưu lượng nhắn tin tăng đỉnh điểm làm các nhà mạng liệt cục bộ ... đó là quá tải, chúng ta cần phải có các giải pháp điều khiển, gọi là điều khiển quá tải không thì mạng sẽ liệt luôn và không biết bao giờ mới khôi phục được.
Khi không bị quá tải chúng ta vẫn cần quản lý tài nguyên cho tốt, phục vụ tốt nhất nhu cầu người dùng trên cơ sở hạ tầng hiện có, đó là quản lý hay điều khiển lưu lượng.

Mọi hoạt động viễn thông con người sáng tạo ra đều nhằm phục vụ cho người, và do đó lưu lượng cũng phụ thuộc vào các hoạt động của con người :
  • Thời gian kết nối : nam có thể gọi rất ít nhưng nữ thì kiểu khác, internet có thể kết nối 24/7 nhưng điện thoại thì không.
  • Hoạt động của con người : sáng trưa chiều tối, đi làm hay ở nhà, ngày trong tuần hay cuối tuần ..
  • Các ngày lễ : quốc tế phụ nữ, giao thừa, tết ..
  • Thiên tai, các sự kiện có tầm ảnh hưởng lớn
  • Tác động từ quảng cáo và các phương tiện thông tin đại chúng cũng tác động cả vào traffic
  • ...
Dựa vào những thông số có được do các sự kiện, thống kê, tính toán mà người ta có các giải pháp khác nhau.

Để cho thực tế, các bạn có thể vào http://home.blogtruyen.com/ kéo xuống dưới cùng sẽ thấy thống kê histats.com, bấm vào đó :
http://www.histats.com/viewstats/?sid=892077&act=2&f=1

Sẽ thấy thống kê truy cập blog theo ngày giờ, các bạn cứ để ý hôm nào chủ nhật thì thường traffic cao hơn hẳn và thứ 2 đầu tuần bắt đầu làm việc, học tập thì traffic tụt xuống hẳn. Rồi theo dõi xem giờ nào traffic cao, giờ nào traffic thấp, thường thì đây là truy cập việt nam nên kiểu gì tầm nửa đêm về sáng cũng thấp.

hay như của blog của mình cũng có thống kê histats này nhưng do tính chất là blog kiến thức nên cuối tuần lại bị tụt chứ không tăng như blogtruyen. Độ chênh lệch quá lớn traffic một phần là blog đó lâu đời, một phần là do tính chất giải tri, con người có xu hướng thích hơn, hay nói 1 cách khác "đạo cao 1 thước, ma cao 1 trượng" ^_^.

Qua vài phân tích thực tế bạn sẽ thấy nó phụ thuộc vào yếu tố con người rất nhiều.

Thứ Hai, 26 tháng 3, 2012

Giao thức báo hiệu số 7 - SS7

  • Giao thức báo hiệu số 7 hay còn gọi là SS7, là cụm từ viết tắt của Signaling System # 7, là tập hợp các giao thức điện thoại được sử dụng để thiết lập hầu hết các cuộc gọi trong mạng PSTN. Về sau được phát triển thêm các giao thức, thành phần mới hỗ trợ báo hiệu cho các mạng khác như mạng di động mặt đất PLMN, mạng số tích hợp đa dịch vụ ISDN.
  • Chức năng chính của SS7 là thiết lập cuộc gọi, kết thúc cuộc gọi, chuyển đổi số, tính cước, SMS. 

Khái niệm về báo hiệu
  • Báo hiệu là sự trao đổi thông tin giữa các thành phần trong mạng điện thoại với nhau. Các thông tin này được chuyển tải dưới dạng các bản tin. 

Phân loại báo hiệu Các phương pháp báo hiệu được phân biệt theo các tiêu chí sau:
  • Loại tín hiệu báo hiệu:
- Báo hiệu Analog (như DC, 1VF, 2VF, MF).
- Báo hiệu Digital (như CAS, DSS1, SS7).
  • Thông tin báo hiệu:
- Báo hiệu đường dây thuê bao (user - net).
- Báo hiệu đường trung kế (net - net).
- Báo hiệu qua mạng (user - user).
  • Chế độ báo hiệu:
- Báo hiệu lựa chọn.
- Báo hiệu đường.
  • Chiều báo hiệu:
- Báo hiệu hướng thuận (call - called).
- Báo hiệu hướng ngược (called - call).
  • Phương thức báo hiệu:
- Báo hiệu kênh kết hợp (CAS).
- Báo hiệu kênh chung (CCS).
  • Các loại báo hiệu sử dụng cho Tổng đài: 

Tổng quan mạng báo hiệu 

Lịch sử ra đời các mạng báo hiệu
  • Từ năm 1975, các giao thức báo hiệu kênh chung đã được phát triển bởi tổ chức quốc tế ITU-T và nhiều công ty lớn trên thế giới. Hệ thống báo hiệu đầu tiên được ITU-T định nghĩa vào năm 1977 có tên gọi là SS6.
  • Hệ thống SS7 được định nghĩa bởi ITU-T vào những năm 1980. Các khuyến nghị dành riêng cho SS7 là Q.7xx. 

Các hệ thống báo hiệu 

Hệ thống báo hiệu số 7 

Lịch sử ra đời
  • Vào đầu những năm 80 của thế kỷ 20, tổ chức tiêu chuẩn viễn thông quốc tế ITU-T đã đưa ra các khuyến nghị về hệ thống báo hiệu số 7 (ký hiệu SS7). Hệ thống SS7 là hệ thống báo hiệu kênh chung được thiết kế dành riêng cho mạng viễn thông số. 
Các phần tử báo hiệu của SS7 Hệ thống SS7 gồm 4 thành phần chính: Điểm chuyển mạch dịch vụ - SSP (Service Switching Point); Điểm trung chuyển báo hiệu - STP (Signaling Transfer Point); Điểm điều khiển báo hiệu - SCP (Service Control Point) và Link SS7.
SS7 Components
  • SSP - Điểm chuyển mạch dịch vụ:
- SSP là các bộ não của mạng SS7 và được đặt tại các chuyển mạch. - Chức năng của SSP là xử lý các cuộc gọi khởi xướng (Originating Call), quá giang (Transit Call) hoặc kết cuối (Terminating Call) bằng cách tạo các bản tin báo hiệu để gửi thông tin liên quan tới cuộc gọi tới các SSP khác, hoặc gửi truy vấn tới cơ sở dữ liệu SCP để thực thi việc định tuyến cuộc gọi.
  • STP - Điểm trung chuyển báo hiệu:
- Chức năng chính của STP là chuyển tiếp các bản tin báo hiệu (hay chức năng định tuyến báo hiệu). - STP là một bộ chuyển mạch gói hoạt động như một hub gửi các bản tin báo hiệu tới các STP, SCP hay SSP khác. - STP định tuyến các bản tin thông qua việc kiểm tra thông tin định tuyến được gắn kèm với mỗi bản tin báo hiệu và gửi chúng tới điểm báo hiệu cần thiết.
  • SCP - Điểm điều khiển dịch vụ:
SCP là một một tập hợp các cơ sở dữ liệu lưu giữ thông tin cần thiết để cung cấp các dịch vụ phức tạp hơn so với điều khiển cuộc gọi cơ bản (ví dụ cung cấp dịch vụ gia tăng, các dịch vụ tổng đài 1800).
  • Các loại Link SS7: Các Link SS7 gồm các loại: A, B, C, D, E, F...
SS7 Link
  • Kết nối các thành phần trong mạng báo hiệu:

Cấu trúc hệ thống SS7
Hệ thống SS7 được cấu trúc theo dạng Mô-đun và giống với mô hình tham chiếu OSI nhưng chỉ có 4 lớp: 3 lớp thấp 1, 2, 3 tạo thành phần chuyển giao tin báo MTP. Lớp 4 chứa các thành phần UP (User Part) cho người dùng. Một số thành phần UP cho các người dùng khác nhau như sau:
  • TUP (Telephony User Part) - Phần của user dùng điện thoại.
  • DUP (Data User Part) - Phần của user dùng số liệu.
  • ISUP (ISDN User Part) - Phần của user dùng ISDN.
  • MTUP (Mobile Telephony User Part) - Phần của user dùng di động.

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes