Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2012

Những bí mật thú vị về chiếc điều khiển cảm ứng Kinect từ Microsoft

Triển lãm E3 2010 vừa diễn ra trong tháng sáu đã kết thúc với điểm nhấn là công nghệ cảm ứng chuyển động trên bộ đôi tay cầm Kinect và Move từ hai ông lớn Microsoft và Sony. Chắc chắn đây sẽ là những sản phẩm công nghệ quan trọng và nổi bật nhất trong năm nay. Giới game thủ cũng đang rất chờ đợi đến cuối năm,
thời điểm hai chiếc tay cầm này chính thức xuất hiện trên thị trường. Tuy nhiên không phải ai cũng đã nắm rõ những thông tin về hai sản phẩm này, nhất là khi Microsoft giấu kỹ mọi thông tin về chiếc máy Kinect của mình. Dưới đây là 7 “bí mật” của Kinect, chiếc tay cầm được quảng bá là sẽ tạo nên cơn “địa chấn” trong làng game.
Cự ly cần thiết để chơi game với Kinect: Được quảng cáo là công nghệ độc đáo giúp game thủ chơi game không cần tay cầm. Kinect sử dụng một chiếc camera để ghi hình sự chuyển động của game thủ. Để có thể chơi game một cách thoải mái nhất mà không gặp phải bất cứ vấn đề gì, người chơi nên giữ một khoảng cách thích hợp với camera gắn trên Kinect là khoảng 2m (6 feet)
Khả năng tương thích với tiếng ồn xung quanh: Một trong những tính năng rất đáng chú ý trên Kinect là khả năng tương thích và loại bỏ tiếng ồn xung quanh game thủ khi chơi. Đối với một số trò chơi, game thủ sẽ phải sử dụng giọng nói của mình bên cạnh những chuyển động vật lý thông thường. Và ngay cả trong điều kiện tương đối ổn, hệ thống cảm biến trong Kinect cũng có thể nhận ra giọng nói của game thủ một cách chính xác.
Khả năng nhận diện giọng nói: Chắc chắn đây sẽ là một tính năng tuyệt vời của Kinect. Không chỉ giúp game thủ có những trải nghiệm tuyệt vời nhất thông qua hệ thống cảm ứng chuyển động mà hệ thống nhận diện giọng nói trên bộ đôi sản phẩm này sẽ giúp người chơi trong nhiều tình huống. Bên cạnh đó, tính năng này chắc chắn sẽ khiến nhiều trò chơi trở nên hấp dẫn hơn nếu được vận dụng hợp lý.
Ra lệnh cho máy chơi game: Việc có thể ra lệnh cho chiếc máy Xbox 360 như chơi nhạc, dừng lại, chiếu phim, tua nhanh… chỉ là giấc mơ đối với nhiều game thủ. Nhưng với Kinect, điều này là hoàn toàn có thể làm được. Hệ thống micro trên Kinect và khả năng nhận diện giọng nói giúp game thủ có thể “giao tiếp” được với máy chơi game của mình.
Kinect hỗ trợ nhiều người chơi: Trong những hình ảnh quảng bá, người xem thường thấy chỉ có một người tương tác với Kinect nhưng thực tế là hệ thống camera gắn trên chiếc máy này có thể cảm biến chuyển động của nhiều người chơi một lúc và do đó sản phẩm này sẽ rất thích hợp với những bữa tiệc hay những trò chơi gia đình.
Ánh sáng có thể gây ra ảnh hưởng: Thực tế là đa phần game thủ đều chơi game trong nhà chứ không phải ở ngoài trời. Do vậy việc khả năng cảm ứng chuyển động của Kinect có thể bị ảnh hưởng bởi ánh sáng mặt trời cũng là điều không cần thiết phải quá bận tâm. Để giải quyết vấn đề này, khi chơi game với Kinect, game thủ chỉ cần đóng bớt rèm cửa lại.
Quần áo không gây ra ảnh hưởng: Một số người từng đưa ra thắc mắc về việc Kinect cảm ứng chuyển động của người chơi thông qua hệ thống camera ghi hình. Vậy khi game thủ mặc những bộ quần áo khác nhau thì liệu có làm giảm độ “nhạy”của khả năng cảm ứng hay không. Câu trả lời là không, hệ thống nhận diện chuyển động trên Kinect sẽ cảm biến được thân nhiệt trên cơ thể người và do đó người chơi hoàn toàn có thể yên tâm về chuyện trang phục khi chơi game.

Nguồn đọc thêm: http://www.xaluan.com/

Thứ Năm, 17 tháng 5, 2012

VINASAT-2 đã được phóng thành công

Vinasat-2 đã lên quỹ đạo

5h49 sáng nay (16/5), tên lửa Ariane 5 đã hoàn tất quá trình đưa 2 vệ tinh Vinasat-2 của Việt Nam và JCSAT-13 của Nhật Bản lên quỹ đạo, từ bãi phóng Kourou (Guyana).
> Cận cảnh vệ tinh Vinasat-2 trên bệ phóng> 4.700 tỷ đồng bảo hiểm cho vệ tinh Vinasat-2

Phát biểu tại buổi lễ phóng Vinasat-2, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, đây là sự kiện đánh dấu bước tiến lớn của ngành viễn thông Việt Nam
Phát biểu tại buổi lễ phóng Vinasat-2, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, đây là sự kiện đánh dấu bước tiến lớn của ngành viễn thông Việt Nam
Hành trình kéo dài 36 phút của Ariane 5 và 2 vệ tinh kết thúc thành công vào lúc 5h49 sau khi Vinasat-2 được tách khỏi tên lửa đẩy và tiến chính xác vào vị trí 131,8 độ Đông trên quỹ đạo địa tĩnh. Trước đó, với sự hỗ trợ của 2 tên lửa phụ, Ariane 5 đã rời khỏi mặt đất lúc 5h13.
Clip: Hồi hộp theo dõi Vinasat-2 lên quỹ đạo
Trong vòng 30 giây, 2 tên lửa phụ đã đốt hơn 100 tấn nhiên liệu ở nhiệt độ 3.000 độ C để đưa 2 vệ tinh thoát khỏi lực hút bề mặt Trái đất. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, 2 tên lửa phụ tách khỏi phần chính giúp Ariane 5 nhẹ bớt ba phần tư trọng lượng. Tên lửa chuyển hướng Tây và bay nhanh hơn vào quỹ đạo.
Đến 5h16, tên lửa Ariane xuyên qua tầng khí quyển trái đất và vượt Đại Tây Dương trong khoảng 20 phút. Tại bờ Tây châu Phi, Ariane kết thúc thành công giai đoạn đầu của quá trình phóng bằng việc cho tách JCSAT-13. Tên lửa tiếp tục hành trình đưa Vinasat 2 về vị trí đã định.
Đến 5h49, Vinasat-2 được tách khỏi vỏ bảo vệ và hành trình về quỹ đạo địa tĩnh 131,8 độ Đông. Vụ phóng vệ tinh được tuyên bố chính thức thành công trong sự vui mừng của các nhân viên trung tâm ArianeSpace tại Kourou cũng như đại diện phái đoàn Việt Nam, Nhật Bản tại Guyana.
Tên lửa Ariane 5 đưa 2 vệ tinh rời mặt đất. Ảnh: ArianeSpace
Tên lửa Ariane 5 đưa 2 vệ tinh rời mặt đất. Ảnh: ArianeSpace
Theo dõi trực tiếp qua cầu truyền hình tại trụ sở Tập đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam (VNPT), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định việc phóng thành công Vinasat-2 là một sự kiện quan trọng, đánh dấu bước tiến lớn của ngành viễn thông Việt Nam. "Đây là dự án quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội, khẳng định chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên không gian vũ trụ", Thủ tướng nói.

Thủ tướng cho rằng, đây là bước khởi đầu quan trọng nhưng trước mắt vẫn còn nhiều việc phải làm để phát triển hệ thống viễn thông của Việt Nam. Do vậy, người đứng đầu Chính phủ yêu cầu VNPT sớm đưa Vinasat-2 vào sử dụng, khai thác hiệu quả, cùng với Vinasat-1 đưa thông tin đến vùng sâu, vùng xa, hải đảo, đảm bảo an ninh quốc phòng…
Vụ phóng tên lửa được truyền trực tiếp về trụ sở của VNPT. Ảnh: Nhật Minh
Vụ phóng tên lửa được truyền trực tiếp về trụ sở của VNPT. Ảnh: Nhật Minh
Trước đó, Vinasat-2 được triển khai trong hơn 2 năm, từ tháng 10/2009. Đây là vệ tinh thứ 2 của Việt Nam, có tổng kinh phí khoảng 260-280 triệu USD, sản xuất trên nền tảng khung A2100, tuổi thọ thiết kế là 15 năm. Với 30 bộ phát đáp 36MHz trên băng tần Ku, Vinasat-2 có khả năng phủ sóng khu vực Đông Nam Á và một số nước lân cận.
Vinasat-2 cùng với Vinasat-1 được phóng thành công lên quỹ đạo ngày 19/4, đã tạo ra một hệ thống các vệ tinh có khả năng dự phòng về dung lượng và rủi ro, góp phần tăng cường độ an toàn, ổn định trong quá trình cung cấp dung lượng cho khách hàng. Cả 2 dự án này đều do Tập đoàn Bưu chính Việt Nam (VNPT) làm chủ đầu tư, hợp tác với Lockheed Martin (Mỹ) để triển khai.
Vinassat-2 được phóng từ Kourou ở Guyana (Nam Mỹ). Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân và Bộ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông Nguyễn Bắc Son đã đến chứng kiến lễ phóng Vinasat-2 qua cầu truyền hình ở đầu cầu Việt Nam.

Sóng địa chấn

Sóng địa chấn là những dạng sóng năng lượng hình thành và lan truyền bởi sự va chấn của các lớp địa tầng khi xảy ra động đất. Sóng địa chấn có nhiều dạng với nhiều cách lan truyền khác nhau. Trong đó, có thể phân ra hai nhóm lớn: sóng khối (body wave) và sóng bề mặt (surface wave). Sóng khối có thể lan truyền trong các tầng đất phía sâu, còn sóng bề mặt chỉ có thể lan truyền ở lớp đất phía trên của vỏ quả đất.
1. Sóng khối
Khi động đất xảy ra, sóng khối di chuyển xuyên qua các lớp đất và truyền lên mặt đất. Sóng khối có tần số cao hơn và vận tốc lan truyền từ tâm chấn nhanh hơn sóng bề mặt. Có hai dạng sóng khối chính: 
Sóng P (P Waves)
P là viết tắt của “primary” có nghĩa là sóng sơ cấp. Đây là sóng địa chấn có vận tốc nhanh nhất, vì thế nó được ghi nhận sớm nhất khi có động đất xảy ra. Sóng P có thể di chuyển qua các lớp đá rắn và các lớp vật chất lỏng trong vỏ quả đất, như lớp mắc ma, nước biển hay nước ngầm. Sóng P truyền theo phương dọc, tương tự như sóng âm thanh. Sóng P còn được gọi là sóng nén (compression waves) vì tác dụng đẩy và kéo lên lớp đất đá. Hướng lan truyền của sóng P đặc trưng cho hướng phân tán năng lượng địa chấn.

Mặt phẳng truyền sóng P

Sóng P tỏa ra từ tâm chấn
Sóng S (S Waves)
S là viết tắt của “secondary” có nghĩa là sóng thứ cấp. Vận tốc lan truyền của sóng S nhỏ hơn sóng P, do đó sóng S được ghi nhận sau sóng P, và vì thế được gọi là sóng thứ cấp. Sóng S chỉ có thể lan truyền trong lớp đá rắn mà không thể di chuyển qua các lớp vật chất lỏng. Chính tính chất này của sóng S giúp các nhà địa chấn khẳng định lớp vỏ quả đất có chứa mắc ma. Sóng S truyền theo phương ngang, tức là vuông góc với phương truyền năng lượng địa chấn (cũng là phương của sóng P).
Mặt phẳng truyền sóng S
Mặt phẳng truyền sóng S
Sóng S lan truyền từ tâm chấn
Sóng S lan truyền từ tâm chấn
2. Sóng bề mặt
Dạng sóng này có tần số thấp hơn sóng khối, chỉ di chuyển trong lớp đất phía trên sát mặt đất. Mặc dù dạng sóng này “đến” sau sóng khối, nhưng hầu như sóng bề mặt mới là nguyên nhân chính gây ra phá hoại nhà cửa trong các trận động đất. Khi tâm chấn ở độ sâu lớn, thì cường độ sóng cũng như nguy cơ phá hoại do sóng này gây ra mới giảm bớt.
Sóng Love (Love Waves)
Đây là dạng sóng đầu tiên của sóng bề mặt, được đặt tên theo nhà toán học người Anh A.E.H. Love, là người đầu tiên đề xuất mô hình toán học cho kiểu sóng này vào năm 1911. Sóng Love lan truyền theo phương ngang và có tốc độ nhanh nhất trong các sóng bề mặt. Sóng Love là nguyên nhân chủ yếu gây nên chuyển động ngang của bề mặt vỏ quả đất.
Sóng Rayleigh (Rayleigh Waves)
Đây là dạng thứ hai của sóng bề mặt, được đặt theo tên của Lord Rayleigh, người đã dùng công thức toán học tiên đoán sự tồn tại của dạng sóng này vào năm 1885. Sóng Rayleigh cuộn tròn dọc theo mặt đất, tương tự như sóng nước cuộn trên mặt biển. Vì thế, mặt đất bị di chuyển lên xuống, qua lại theo phương truyền của sóng này. Phần lớn sự rung lắc cảm nhận được trong các trận động đất là từ sóng Rayleigh, với cường độ lớn hơn tất cả các dạng sóng địa chấn khác.
Hiểu biết về sóng địa chấn giúp hình dung rõ ràng về cơ chế hoạt động và phá hoại của động đất gây ra đối với con người và nhà cửa. Những bài viết sau sẽ tiếp tục cung cấp những kiến thức khác về động đất.
Tuấn Nam (tổng hợp)
***************************************************************************************************hình Hình ảnh động minh họa cách lan truyền của các thành phần sóng địa chấn:
 

Nguồn http://trantuannam.wordpress.com

Sóng địa chấn có thể do thiên nhiên tạo ra (động đất, sóng thần, núi lửa) hay do nhân tạo như nổ mìn.
Thường thì 1 tác động rất nhỏ cũng tạo ra sóng như chúng ta dậm chân, nhưng đã gọi là sóng địa chấn thì thường phải có phạm vi ảnh hưởng lớn thì mới xét đến.
 
Sóng địa chấn có thể dùng để khảo sát lòng đất, thăm dò mỏ khoáng sản, người ta cũng dùng các dụng cụ thu sóng này để dự báo động đất, sóng thần, núi lửa

Thứ Tư, 16 tháng 5, 2012

Tuyệt chiêu tăng sóng wifi bằng vỏ lon bia

Chỉ với 1 chiếc vỏ lon nước ngọt và khoảng 10 phút xử lý bạn đã có thể giúp sóng wifi truyền đi được xa hơn.

Chuẩn bị nhé:
- 1 vỏ lon bia hay nước ngọt loại thông thường.
- Dao rọc giấy.
- Kéo.

Posted Image
Các vật dụng đều rất dễ kiếm và rẻ tiền
Tiến hành thôi.

Posted Image
Đầu tiên bạn ngắt bỏ phần móc giật nắp lon

Posted Image
Rồi rừa sạch lon bằng nước

Posted Image
Tiếp theo bạn dùng dao rọc giấy cắt rời phần đáy lon theo đường màu đỏ như hình.
Cố gắng tránh làm bẹp vỏ.

Posted Image
Với phần nắp bạn cũng cắt tương tự nhưng không cắt đứt mà để dính lại 1 đoạn
khoảng 2 đến 3cm gần phần lỗ.

Posted Image

Posted Image
Và cắt 1 đường dọc thân lon ở vị trí xa lỗ nhất, sau đó mở 2 cánh ra, bạn sẽ được
1 chiếc Parabol 1 chiều tự chế cực đơn giản.
Cuối cùng độn thêm 2 miếng đất sét hoặc giấy bìa vào phần nắp lon để đặt được trên mặt modem. Nếu cảm thấy xấu bạn có thể dùng luôn băng dính 2 mặt rồi dán trực tiếp lên mặt modem. Nhớ xoay hướng của parabol về phía cần phát đi xa nhất bạn sẽ thấy được hiệu quả khi sử dụng.

Posted Image
Nếu bạn muốn phát khắp căn nhà 4 tầng, bạn có thể đặt router ở tầng 1 và hướng chảo lên trên hoặc đặt router trên tầng 4 rồi hướng chảo xuống dưới. Tốt nhất là bạn nên đặt ở tầng 4 vì nếu đặt tầng 1 thì sóng đáng ra được phát ở tầng 1 sẽ bị parabol hứng hết và phản lên trên khiến tầng dưới cùng gần modem nhất sóng sẽ không phải tốt nhất.
Theo VTC

Sóng wifi hay di động hay truyền hình gì của chúng ta đều có cơ chế phản xạ, khúc xạ, nhiễu xạ nhiều lần

Thứ Ba, 15 tháng 5, 2012

Truyền thông dưới nước và xuyên lòng đất dùng neutrino

Các nhà vật lí ở Mĩ vừa đạt được sự truyền thông tin đầu tiên bằng một chùm neutrino. Minh chứng mang tính rất sơ bộ - nó hoạt động chưa tới 1 bit/s – và sẽ cần rất nhiều phát triển trước khi nó có bất kì ứng dụng thực tế nào. Tuy nhiên, nghiên cứu chứng minh cho một khái niệm mà các nhà vật lí đã suy ngẫm trong nhiều năm qua và cuối cùng có thể dùng trong những tình huống trong đó những phương tiện truyền thông khác không triển khai được.

Bức xạ điện từ - nhất là những bước sóng nhìn thấy, vi sóng và vô tuyến – là sóng mang được chọn để truyền nhận thông tin hiện nay. Nó dễ truyền đi, dễ phát hiện và có thể mang rất nhiều thông tin. Tuy nhiên, có một số tình huống trong đó nó không hoạt động tốt cho lắm. Một ví dụ là sự truyền thông tin đến các tàu ngầm hạt nhân, đối tượng có thể ở dưới nước hầu như vô hạn định. Vấn đề là nước biển không trong suốt đối với bức xạ điện từ ở những bước sóng đủ ngắn để truyền thông tin ở một tốc độ có ích. Vì thế, các tàu ngầm thường phải có một dây anten nổi lên trên mặt nước, làm hạn chế tốc độ và độ sâu của chúng, khiến chúng dễ bị phát hiện ra hơn.


[IMG]
Máy dò hạt MINERvA tại Fermilab là thiết bị đầu tiên nhận được một tin nhắn truyền đi bởi các neutrino. Ảnh: Fermilab

Một giải pháp ma quái
Để truyền thông tin qua mọi chất liệu, kể cả nước biển, mà không bị ràng buộc, không gì có thể sánh với neutrino. Hạt ma quái này chỉ bị ảnh hưởng bởi lực hạt nhân yếu và lực hấp dẫn, nhưng rất yếu. Hệ quả là nó có thể truyền qua hầu như mọi thứ và hầu như chẳng tương tác với cái gì hết. Một neutrino có thể dễ dàng đi xuyên qua 1000 năm ánh sáng chì, cho nên một đại dương đối với nó chẳng là vấn đề gì. Thật vậy, một số nhà khoa học từng đề xuất rằng những nền văn minh tiên tiến ngoài địa cầu có thể truyền thông tin xuyên những khoảng cách bao la trong không gian bằng cách sử dụng những chùm neutrino.

Mặc dù các hệ thống gốc neutrino đã được đề xuất trên Trái đất này kể từ thập niên 1970, nhưng chúng đều gặp phải một trở ngại giống nhau: làm thế nào phát hiện các neutrino tại đầu nhận khi mà phần lớn những hạt này sẽ đi thẳng qua bất kì máy dò hạt nào. Để phát hiện đủ số neutrino để truyền nhận thông tin ở một tốc độ hợp lí, hoặc là cần có một nguồn phát neutrino cực mạnh hoặc là một máy dò neutrino rất lớn (hoặc cả hai). Ví dụ, vào năm 2009, Patrick Huber ở trường Đại học Công nghệ Virginia đã đi tới quan điểm sử dụng vỏ bọc của tàu ngầm hạt nhân để phát hiện ra bức xạ giải phóng khi các neutrino tương tác với nước biển xung quanh. Tuy nhiên, Huber thừa nhận rằng một kế hoạch đòi hỏi một nguồn phát neutrino mạnh như thế sẽ tiêu tốn vài tỉ đô la đầu tư xây dựng.

Trong khi đó, Daninel Stancil tại trường Đại học Bắc Carolina đang suy nghĩ làm thế nào xây dựng một kế hoạch truyền thông giống như vậy dựa trên các axion – những hạt tương tác yếu trên giả thuyết có thể bao gồm vật chất tối. Trong khi hiện nay chẳng có nguồn axion, nhưng cựu học trò của Stancil tại trường Đại học Carnegie Mellon cho biết rằng quan điểm trên có thể kiểm tra tại Fermilab bằng cách sử dụng chùm neutrino NuMI và máy dò hạt MINERvA. NuMI tạo ra chùm neutrino năng lượng cao cường độ mạnh nhất thế giới, rồi nó truyền đi 1 km đến MINERvA. Mục đích chính của đường dẫn hạt MINERvA–NuMI là để nghiên cứu chính các neutrino, nhưng quan điểm của Downey là sử dụng thí nghiệm trên là một hệ thống truyền nhận dữ liệu.

Mã hóa “neutrino” với neutrino
Stancil mang đề xuất trên đến Fermilab và, sau khi được chấp thuận, các nhà nghiên cứu đã má hóa từ “neutrino” thành mã nhị phân. Sau đó, họ điều biến mã này với chùm neutrino với tốc độ bit 0,1 bit/s. Tin nhắn được nhận với tỉ lệ sai số bit chỉ 1%, cho phép tin nhắn được giải mã dễ dàng sau một lần truyền. Tuy nhiên, với khoảng cách truyền tin ngắn như thế, tốc độ truyền dữ liệu thấp như thế và công nghệ đồ sộ cần thiết để đạt tới nó (bản thân MINERvA nặng tới vài tấn), neutrino rõ ràng không phải là phương pháp truyền thông có giá trị tương thời gian ngắn trước mắt.

Tuy nhiên, Huber cảm thấy phấn chấn trước nghiên cứu trên. “Tôi nghĩ đặc điểm quan trọng nhất của nghiên cứu này là nó khiến người ta muốn bắt tay vào thực hiện nó,” ông nói.

KaDick – thuvienvatly.com

Theo physicsworld.com

Nguồn: thuvienvatly.com

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2012

Truyền thông Internet trên đường dây điện lực


Công nghệ truyền thông trên đường dây điện lực PLC (Power Line Communication) mở ra hướng phát triển mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông. Trước đó, con người đã có thể tận dụng đường dây tải điện để làm các ứng dụng đơn giản như truyền các tín hiệu đo lường, giám sát, điều khiển. Với sự phát triển nhanh chóng của các công nghệ hỗ trợ trong lĩnh vực truyền thông và công nghệ thông tin thì hiện nay công nghệ PLC đã cho phép cung cấp dịch vụ truyền tải điện kết hợp với truyền dữ liệu trực tiếp tới người sử dụng.

Giới thiệu
Công nghệ truyền thông PLC sử dụng mạng lưới đường dây cung cấp điện năng cho mục đích truyền tải thông tin nhằm tiết kiệm chi phí đầu tư. Để có thể truyền thông tin qua phương tiện truyền dẫn là đường dây dẫn điện, cần phải có các thiết bị đầu cuối là PLC modem, các modem này có chức năng biến đổi tín hiệu từ các thiết bị viễn thông truyền thống như máy tính, điện thoại sang một định dạng phù hợp để truyền qua đường dây dẫn điện. Hiện nay, công nghệ PLC được sử dụng cho các ứng dụng thương mại trong nhà như hệ thống giám sát, cảnh báo, tự động hoá...Các ứng dụng truyền tin dựa trên PLC hiện đang còn rất nhiều tiềm năng cần được tiếp tục khai phá

tthong_tren_dz_dien_luc
Hệ thống truyền thông tin trên đường dây điện lực
Hệ thống đo lường, giám sát, điều khiển trên đường dây điện lực
Khởi đầu của công nghệ truyền thông tin trên đường dây điện lực là hệ thống hỗ trợ đọc công tơ điện. Sau đó hệ thống này được phát triển bổ sung thêm các chức năng giám sát, cảnh báo và điều khiển. Từ chức năng ban đầu là tự động đọc số công tơ, ghi lại và chuyển số liệu về trung tâm, các chức năng giám sát hoạt động, cảnh báo và điều khiển đã được phát triển.
mach_dien
Ở Việt Nam hiện nay, người sử dụng internet gia đình có thể kết nối thông qua đường dây điện thoại (tốc độ chậm 56Kbps) hoặc qua ADSL (chi phí tuy có giảm nhưng vẫn ở mức cao). Vì thế PLC sẽ có thể là 1 lựa chọn tốt vì những ưu điểm sau:
·  Cung cấp khả năng kết nối tới mạng truy nhập, đây là một tính năng rất hấp dẫn của PLC.
·  Cung cấp tốc độ truy cập dữ liệu cao (10 - 45Mbps) trong dải tần (1,7 - 30Mhz).
Tuy nhiên đứng về mặt đường truyền thì đường dây điện không phải được thiết kế để truyền tải thông tin vì vậy kỹ thuật PLC ra đời chính là để giải quyết vấn đề này.
Hiện nay PLC chia làm hai lớp chính PLIC và PLOC
PLIC (Powerline Indoor Telecoms)
Đây chính là công nghệ PLC để sử dụng trong nhà, tức là chúng ta có thể sử dụng mạng điện lưới trong nhà để thiết lập một mạng trao đổi thông tin giữa các thiết bị dùng trong nhà với nhau.
PLOC (Powerline Ourdoor Telecoms)
Đây là kỹ thuật PLC sử dụng để trao đổi thông tin giữa các trạm điện với nhau và với mạng gia đình. BPL chính là ứng dụng của PLOC có khả năng cung cấp cho người sử dụng khả năng truy cập Internet băng rộng với tốc độ vượt trội so với ADSL (40Mbps).
Hệ thống truyền thông tin trên đường dây điện lực
hthong_truyen_tt
Mạng đường dây điện hạ thế có thể sử dụng như một hệ thống truyền thông. Mạng gồm nhiều kênh, mỗi kênh là một đường truyền vật lý nối giữa trạm con và một hộ dân, có các đặc tính và chất lượng kênh truyền khác nhau và thay đổi theo thời gian. Tín hiệu được truyền trên sóng điện xoay chiều 50 Hz sau đó có thể được trích ra bởi một connector kết nối vào đường dây.
Phân chia tần số
sdo_phan_chi_tan_so


Theo tiêu chuẩn của châu Âu năm 1991 (EN 50065-1 standard) xác định chuẩn tín hiệu trên đường hạ thế nằm trong khoảng từ 3Khz tới 148,5Khz (băng tần không cần đăng ký). Trong băng tần này được chia thành 5 băng con. Trong đó, hai băng đầu 3 - 9 và 9 - 95Khz là dành cho nhà cung cấp điện lực và ba băng còn lại dành cho khách hàng. Băng A, sóng mang có thể từ 9Khz tới 95Khz dùng cho việc trao đổi thông tin giữa khách hàng và nhà cung cấp. Băng C được dùng cho khách hàng sử dụng các giao thức truy nhập, băng B cũng được dùng cho khách hàng tuy nhiên không có giao thức truy nhập nên có thể coi băng này là băng thông tin tự do. Các hệ thống PLC hoạt động ở dải tần đến 30MHz được xem xét như là hệ thống PLC băng rộng.
Kỹ thuật điều chế và mã hoá kênh
Với kỹ thuật PLC, vấn đề ta quan tâm là làm thế nào có thể truyền dữ liệu trong môi trường nhiễu cao, trong khi mức tín hiệu nhỏ và với tần số dòng xoay chiều là 50 hoặc 60 Hz. Các kỹ thuật điều chế và mã hoá khuyến nghị sử dụng trong PLC: OFDM (Orthogonal Frequency Division Multiplexing) Ghép kênh phân chia theo tần số trực giao, SS - FFH ( Spread Spectrum - Fast Frequency Hopping) Trải phổ nhảy tần nhanh, DS - SS (Direct Sequence Spread Spectrum) Trải phổ trực tiếp.
Môi trường truyền thông trên đường dây điện lực tương tự như môi trường truyền thông vô tuyến, đây là một môi trường truyền thông rất khắt khe. Kỹ thuật trải phổ và kỹ thuật ghép kênh phân chia theo tần số trực giao (OFDM) được sử dụng để tăng dung lượng và tăng số kênh truyền dẫn. Kỹ thuật OFDM truyền các bit dữ liệu trên một tập các tần số, các tần số này trực giao với nhau. OFDM là một kỹ thuật rất tốt để chống nhiễu fading và nhiễu đa đường. Các mã sửa lỗi như mã xoắn và mã Reed - Solomon có thể kết hợp với nhau trong hệ thống để cải thiện chất lượng hệ thống.
Đặc tính kênh truyền PLC
Đường dây truyền tải điện không phải được thiết kế để dành cho truyền dữ liệu, do đó có rất nhiều vấn đề cần được khắc phục. Công suất nhiễu trên đường dây điện lực là tập hợp tất cả các nhiễu loạn khác nhau thâm nhập vào đường dây và vào máy thu. Các tải được kết nối vào mạng như ti vi, máy tính, máy hút bụi… phát nhiễu và truyền bá qua đường dây điện; các hệ thống truyền thông khác cũng có thể đưa thêm nhiễu vào máy thu.
Đường dây điện được ra đời phục vụ cho việc truyền năng lượng điện chứ không nhằm mục đích truyền thông tin. Khi đưa thông tin truyền trên đó, ta sẽ gặp phải rất nhiều yếu tố gây nhiễu cho tín hiệu. Nhiễu trên đường dây điện có thể quy về 4 loại sau:
·  Nhiễu nền (Background noise),
·  Nhiễu xung ( Impulse noise),
·  Nhiễu băng hẹp (Narrow band noise),
·  Nhiễu họa âm (Harmonic noise).
Thực tế đường dây điện lực là một môi trường truyền thông rất nhạy cảm, các đặc tính của kênh thay đổi theo thời gian tuỳ thuộc vào tải và vị trí, cho đến nay các đặc tính cụ thể của kênh vẫn là những vấn đề được nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp xử lý hiệu quả.
Xu hướng phát triển
·  Khả năng đáp ứng đa dịch vụ: Mạng phải thiết kế cho phép PLC có khả năng truy cập Internet tốc độ cao, Voice Over IP, và tương lai có khả năng cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng như SIP, VLAN, IP-PBX….
·   Khả năng mở rộng: Mạng phải có khả năng phát triển và mở rộng trên cơ sở khách hàng, kết quả đánh giá đầu tư và nhằm giảm rủi ro trong quá trình nâng cấp mạng.
nDễ dàng mở rộng lên băng thông cao hơn: Mạng phải có khả năng cho phép mở rộng từ băng thông hiện tại lên băng thông cao hơn trong tương lai mà không cần nâng cấp mạng.
·  Tương thích với các công nghệ mạng khác: Mạng phải có khả năng cho phép triển khai song song với các công nghệ mạng khác như Wireless Local Loop, cáp quang, xDSL….
·  Triển khai ở các vùng đô thị và các vùng nông thôn: Mạng được thiết kế phải có khả năng hỗ trợ triển khai PLC ở cả vùng đô thị lẫn các vùng nông thôn với giá thành hợp lý và nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường.


Theo: Hiện đại hóa

Chủ Nhật, 13 tháng 5, 2012

Giới thiệu Internet trên mạng truyền hình cáp

Chúng ta đã biết trước đây, khách hàng thuê bao các kênh truyền hình qua cáp chỉ có được một dịch vụ duy nhất là xem các kênh truyền hình cáp (cable) nhưng nay mọi chuyện đã khác hoàn toàn vì ngoài truyền hình, ta có thể sử dụng dịch vụ Internet trên chính các hệ thống cáp đồng trục (Coaxial Network), hệ thống cáp quang (Optical Fiber ) cũng như hệ thống cáp lai giữa cáp đồng trục và cáp quang HFC (Hibrid Fiber Coaxial ). Ta có thể lướt web và sử dụng nhiều dịch vụ khác trên nền Internet với tốc độ rất cao. Với sự kết hợp giữa cáp quang và cáp đồng trục, mạng truyền hình cáp hữu tuyến đáp ứng các yêu cầu về băng thông rộng với tốc độ cao. Với dịch vụ này, thay vì phải kéo đường dây điện thoại, khách hàng chỉ cần lắp đặt cable modem chuyên dụng vào đường cáp của truyền hình CATV có thể vừa xem các kênh truyền hình cáp vừa truy nhập Internet tốc độ cao.
Chúng ta có thể hiểu Internet trên mạng truyền hình cáp là quá trình truyền dẫn tín hiệu Internet từ nhà cung cấp dịch vụ Internet đến người tiêu dùng, sử dụng chung đường dây với mạng truyền hình cáp. Điều này được thực hiện thông qua thiết bị CMTS(Thiết bị đầu cuối modem cáp), nó chuyển đổi dữ liệu từ giao thức mạng thành tín hiệu số để truyền đi trên mạng cáp và sau đó tín hiệu được giải điều chế nhờ modem cáp phía khách hàng. Mỗi CMTS cung cấp một kênh dữ liệu tải xuống 42Mbps (với công nghệ điều chế QAM 64 và 56Mbps với công nghệ QAM 256) được chia sẻ cho khoảng 50 đến 1000 khách hàng được phục vụ bởi một nốt quang hoặc một nhóm nốt. Băng thông tải lên khoảng 3-36 Mbps.
Dịch vụ Internet trên truyền hình cáp có nhiều gói cước khác nhau phục vụ theo nhu cầu của các hộ gia đình, văn phòng, doanh nghiệp và các đại lý Internet.
Dịch vụ Internet trên truyền hình cáp có một số ưu điểm sau:
- Truy cập Internet 24/24 h, và chỉ phải trả tiền theo lưu lượng sử dụng  (với thuê bao tháng cực rẻ)
- Có nhiều gói giá cước đáp ứng mọi yêu cầu sử dụng của khách hàng. Đặc biệt có gói cước cực rẻ dành cho các hộ gia đình.
- Không bị mất line điện thoại, không phải trả cước phí điện thoại
- Hệ thống cáp mới, chất lượng tốt với băng thông kết nối lớn
- Thời gian lắp đặt nhanh chóng
 

Nói chung thì đây là dịch vụ internet tương tự adsl nhưng tận dụng cơ sở hạ tầng của truyền hình cáp và giá cả cũng tương đương, nhưng trong thực tế mấy năm gần đây thì cái này không phổ biến bằng adsl (dùng cơ sở hạ tầng của điện thoại), modem thì chắc chắn không phổ biến bằng rồi, mấy kiểu như modem tích hợp wifi thì không thấy được nhắc tới. 
Hiện bên CMC triển khai một dịch vụ tương tự thế này chung cho truyền hình cáp và internet nhưng mà cơ sở hạ tầng là cáp quang.

Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2012

Cáp quang


Budowa swiatlowodu-8 zyl.svg
Cáp quang là một loại cáp viễn thông làm bằng thủy tinh hoặc nhựa, sử dụng ánh sáng để truyền tín hiệu.
Cáp quang dài, mỏng thành phần của thủy tinh trong suốt bằng đường kính của một sợi tóc. Chúng được sắp xếp trong bó được gọi là cáp quang và được sử dụng để truyền tín hiệu trong khoảng cách rất xa. Không giống như cáp đồng truyền tín hiệu bằng điện, cáp quang ít bị nhiễu, tốc độ cao (đây là tốc độ truyền dữ liệu, phân biệt với tốc độ tín hiệu) và truyền xa hơn. 

Cấu tạo
Cáp quang có cấu tạo gồm dây dẫn trung tâm là sợi thủy tinh hoặc plastic đã được tinh chế nhằm cho phép truyền đi tối đa các tín hiệu ánh sáng. Sợi quang được tráng một lớp lót nhằm phản chiếu tốt các tín hiệu.
Cáp quang gồm các phần sau:
  • Core: Trung tâm phản chiếu của sợi quang nơi ánh sáng đi
  • Cladding: Vật chất quang bên ngoài bao bọc lõi mà phản xạ ánh sáng trở lại vào lõi.
  • Buffer coating: Lớp phủ dẻo bên ngoài bảo vệ sợi không bị hỏng và ẩm ướt
  • Jacket: Hàng trăm hay hàng ngàn sợi quang được đặt trong bó gọi là Cáp quang. Những bó này được bảo vệ bởi lớp phủ bên ngoài của cáp được gọi là jacket. 
Phân loại

    Phân loại Cáp quang: Gồm hai loại chính: 
    Multimode (đa mode)
    • Multimode stepped index (chiết xuất bước): Lõi lớn (100 micron), các tia tạo xung ánh sáng có thể đi theo nhiều đường khác nhau trong lõi: thẳng, zig-zag… tại điểm đến sẽ nhận các chùm tia riêng lẻ, vì vậy xung dễ bị méo dạng.
    • Multimode graded index (chiết xuất liên tục): Lõi có chỉ số khúc xạ giảm dần từ trong ra ngoài cladding. Các tia gần trục truyền chậm hơn các tia gần cladding. Các tia theo đường cong thay vì zig-zag. Các chùm tia tại điểm hội tụ, vì vậy xung ít bị méo dạng. 
    Single mode (đơn mode)Lõi nhỏ (8 mocron hay nhỏ hơn), hệ số thay đổi khúc xạ thay đổi từ lõi ra cladding ít hơn multimode. Các tia truyền theo phương song song trục. Xung nhận được hội tụ tốt, ít méo dạng. 

    Đặc điểm
    • Phát: Một điốt phát sáng (LED) hoặc laser truyền dữ liệu xung ánh sáng vào cáp quang.
    • Nhận: sử dụng cảm ứng quang chuyển xung ánh sáng ngược thành data.
    • Cáp quang chỉ truyền sóng ánh sáng (không truyền tín hiệu điện) nên nhanh, không bị nhiễu và bị nghe trộm.
    • Độ suy dần thấp hơn các loại cáp đồng nên có thể tải các tín hiệu đi xa hàng ngàn km.
    • Cài đặt đòi hỏi phải có chuyên môn nhất định
    • Cáp quang và các thiết bị đi kèm rất đắt tiền so với các loại cáp đồng 

    Ứng dụng 
    Multimode
    Sử dụng cho truyền tải tín hiệu trong khoảng cách ngắn, bao gồm:
    • Step index: dùng cho khoảng cách ngắn, phổ biến trong các đèn soi trong
    • Graded index: thường dùng trong các mạng LAN

    Single mode

    Dùng cho khoảng cách xa hàng nghìn km, phổ biến trong các mạng điện thoại, mạng truyền hình cáp.đường kính 8um,truyền xa hàng trăm km mà không cần khuếch đại

    Ưu điểm

    • Mỏng hơn - Cáp quang được thiết kế có đường kính nhỏ hơn cáp đồng.
    • Dung lượng tải cao hơn - Bởi vì sợi quang mỏng hơn cáp đồng, nhiều sợi quang có thể được bó vào với đường kính đã cho hơn cáp đồng. Điều này cho phép nhiều kênh đi qua cáp của bạn.
    • Suy giảm tín hiệu ít - Tín hiệu bị mất trong cáp quang ít hơn trong cáp đồng.
    • Tín hiệu ánh sáng - Không giống tín hiệu điện trong cáp đồng, tín hiệu ánh sáng từ sợi quang không bị nhiễu với những sợi khác trong cùng cáp. Điều này làm cho chất lượng tín hiệu tốt hơn.
    • Sử dụng điện nguồn ít hơn - Bởi vì tín hiệu trong cáp quang giảm ít, máy phát có thể sử dụng nguồn thấp hơn thay vì máy phát với điện thế cao được dùng trong cáp đồng.
    • Tín hiệu số - Cáp quang lý tưởng thích hợp để tải thông tin dạng số mà đặc biệt hữu dụng trong mạng máy tính.
    • Không cháy - Vì không có điện xuyên qua Cáp quang, vì vậy không có nguy cơ hỏa hạn xảy ra.

    Nhược điểm

    • Nối cáp khó khăn, dây cáp dẫn càng thẳng càng tốt.
    • Chi phí - Chi phí hàn nối và thiết bị đầu cuối cao hơn so với cáp đồng.

    Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2012

    Truyền tin bằng ánh sáng thường

    Một buổi hòa nhạc giờ đây không còn đồng nghĩa với sự ầm ĩ. Công nghệ đã cho phép như vậy. Chỉ cần những bóng đèn LED chiếu ánh sáng thường và một bộ giải mã gồm 1 sensor quang nho nhỏ gắn trên mỗi headphone là bạn có thể thưởng thức một buổi hòa nhạc mà không nhất thiết phải làm ảnh hưởng đến những người xung quanh.
    Bạn cần cài đặt bổ trợ Adobe Flash để xem nội dung này trên trình duyệt.
     
    Nhưng không chỉ có như vậy, công nghệ truyền tin không dây này còn hứa hẹn nhiều ứng dụng hơn thế...
    Một buổi trình diễn phương pháp truyền tin bằng áng sáng thường
    Có thể bạn đã biết đến các phương thức truyền tín hiệu bằng ánh sáng hồng ngoại (ví dụ như trong các remote control, cổng IR trên laptop của bạn...) hay ánh sáng laser (ví dụ như trong các hệ thống thông tin dùng cáp quang), hoặc có thể bạn đã quen với khái niệm dùng sóng vô tuyến để truyền tin, nhưng dùng ánh sáng thường để truyền tin thì chắc chưa có nhiều người biết. Không hề gây ra các vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe con người khi làm việc với công suất cao, truyền tin bằng ánh sáng thường (visible light communciation) đang là một ứng cử viên sáng giá thay thế cho hệ thống thông tin không dây trong nhà.
    Thực ra ý tưởng về photophone hay các cỗ máy truyền tin bằng ánh sáng đã được một cái tên rất nổi tiếng là Alexander Graham Bell đưa ra vào tháng 6 năm 1880. Tuy nhiên do độ nhiễu quá lớn,cộng với sự phụ thuộc quá chặt chẽ vào thời tiết mà cỗ máy này chưa thực sự chiếm được sự quan tâm đúng mức của cộng đồng khoa học lúc bấy giờ.
    Nguyên lý hoạt động của Photophone do Bell phát minh vào năm 1880
    Gần đây, với việc phát minh ra các bóng đèn sử dụng LED và đưa chúng vào cuộc sống, các nhà khoa học Nhật Bản đã giải quyết được một lúc 2 vấn đề : Tiết kiệm năng lượng trong chiếu sáng và tạo ra các loại bóng đèn có khả năng chớp tắt ở tần số cao dùng trong phương thức truyền tin này.
    Đèn chiếu sáng dùng LED
    Sẽ rất ngạc nhiên nếu để ý rằng băng thông của ánh sáng thường lên tới 300 THz (450 THz - 750 THz). So sánh với băng thông của phương thức truyền tin vô tuyến hiện nay là khoảng 300 GHz ta mới thấy tiềm năng của phương thức truyền tin này là rất lớn.
    Hãy nghĩ đến các ứng dụng trong nhà với sự kết hợp giữa bóng đèn bàn dùng LED, PLC (truyền tin trên đường điện). Căn nhà bạn sẽ được hỗ trợ không dây một cách hoàn hảo trong tương lai gần. Lúc ấy bạn sẽ chỉ việc đặt laptop dưới ngọn đèn bàn và truy cập vào internet. Một số ứng dụng quan trọng khác là trong hệ thống giao thông thông minh ITS (Intelligent Transport System) nơi VLC có thể thực hiện các chức năng hỗ trợ việc thu vé cầu phà ngay tại các trụ đèn giao thông hay trợ giúp thông tin cho người đi bộ trong các bục thông tin đặt trên vỉa hè. Trong các môi trường mà việc truyền sóng vô tuyến là rất hạn chế như bệnh viện, hay trong ngành hàng không thì vlc tỏ ra có rất nhiều ưu thế.
    Tuy nhiên hạn chế lớn nhất hiện nay là phải xây dựng được một hệ thống chuẩn quốc tế của công nghệ này.
    Visible light communication được nghiên cứu và phát triển bởi Nakagawa lab, Keio University, Nhật Bản.

    Thứ Năm, 10 tháng 5, 2012

    Hiện tượng gần xa trong mạng không dây

    Hiệu ứng xa gần (near-far effect) được nhắc đến chủ yếu trong các hệ thống CDMA, trong đó máy di động ở gần trạm gốc nếu không được điều chỉnh giảm công suất phát sẽ "át" các máy ở xa, làm cho nhiễu đa truy nhập MAI (Multiple Access Interference) trở nên lớn đến mức không chịu được đối với các máy di động ở xa. Điều này làm giảm rất mạnh số người sử dụng đồng thời trong cell.

    Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

     
    Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes