Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Thứ Bảy, 16 tháng 6, 2012

Kinh nghiệm làm slide thuyết trình

Mình đã chia sẻ đồ án của mình ở đây kèm file bảo vệ và kịch bản nói.

Kinh nghiệm làm slide thuyết trình thì trên mạng nói rất nhiều nhưng mình sẽ chỉ chú trọng xoay quanh cái slide của mình và trong hoàn cảnh cụ thể của mình thôi.

Dung lượng nội dung
Đồ án : "Tìm hiểu lớp vật lý trong HSDPA", thời gian trình bày 15 phút nhưng theo thày bảo vệ thì chỉ nên trình bày xung quanh khoảng 12 phút thôi, và mình thì trình bày dao động trong khoảng 10.5 -12 phút (nhiều lần tự đo thời gian).

Với khoảng thời gian đó thì lượng slide của mình khoảng 15-20 là vừa (có những đứa thậm chí chỉ hơn 10 slide), nhưng không rõ ý thày là 15 slide là toàn bộ hay chỉ phần nội dung.
Để chắc ăn mình làm nội dung là 15 slide, thêm 1 slide bìa, 1 cái kết luận, 1 cái cảm ơn thành ra 18 slide -> quá đẹp.

Về slide thì mình thấy có rất nhiều bạn đều biết là slide phải ít chữ thôi nhưng mà các bạn đấy lược đi vẫn gấp từ 2 lần đến 3 lần số lượng chữ trong slide của mình, có lẽ cần phải biết ít chữ là như thế nào.
Mình đã từng tham dự vài hội thảo về làm giàu, tiếng anh, công nghệ thông tin nên chắc thạo hơn mấy bạn đấy, theo mình thì slide của mình lượng chữ là ổn, có phần kết luận hơi nhiều chữ 1 tí, các bạn chỉ nên thiết kế slide chữ cỡ mình trở xuống, nên tham khảo mấy slide của những người điểm cao khóa trên hoặc đã thuyết trình đi làm.

Tránh suy nghĩ viết ít thì biết đọc gì, tuyệt đối không lên bảo vệ mà đọc slide, slide chỉ là các ý, nội dung ở đâu, nội dung ở trong đầu, trong đầu không nghĩ ra được gì thì sao, bỏ ra vài ngày viết kịch bản rồi học thuộc chứ còn làm sao nữa, thường 1 slide 15 phút này nên bỏ ra khoảng 6 trang học thuộc (không cần học thuộc từng chữ mà chỉ nên khoảng 70-80% còn lại là ngẫu hứng để vừa có tính trôi chảy, vừa có tính tự nhiên khi nói).

Theme và hiệu ứng
Rất nhiều bạn lên bảng chỉ để nền trắng xóa, và cũng có 1 số lượng các bạn để hiệu ứng bay nhảy quá nhiều.
Theo mình thì cần theme đẹp (kiếm trên mạng rất nhiều), nếu không kiếm được theme giống chủ đề của mình thì tìm một theme nào đó đơn giản chủ đề chung chung, tốt nhất nên làm nhiều phương án và khảo trước slide bọn khác để khỏi bị "đụng hàng".
Hiệu ứng không phải sinh ra chỉ để cho vui. Ở những slide thường thì các bạn dùng các hiệu ứng chuyển trang thật nhẹ hoặc không, ở những chỗ cần chú trọng, các hình vẽ mô tả quan trọng và các ghi chú xuất sau slide thì lúc này mới nên dùng mấy cái bay nhảy.


Những vấn đề phụ nhưng cũng rất quan trọng
  • Cần ghi số trang / tổng số trang (để người nghe dễ theo dõi và biết đến bao giờ thì hết
  • Phần kết luận không nên viết thành câu dài mà tốt nhất vạch ra thành các ý thôi
  • Cần lời cảm ơn cuối cùng
  • Nếu bạn soạn bằng office cao (2007, 2010) thì khi trình bày tốt nhất dùng máy có office cao cỡ đó trở lên vì office cũ sẽ làm mất một số hiệu ứng và có thể sai lệch định dạng đi.
  • Không phải máy chiếu nào cũng tốt, nhiều khi chiếu lên cứ nhờ nhờ, chữ các bạn không nên dùng time new roman (font chữ mảnh) mà nên dùng arial, tahoma, calibri .. to, đen, font nền sáng.

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2012

Các chuẩn bảo mật không dây cơ bản (wep, wpa, wpa2)

Các chuẩn bảo mật không dây cơ bản hiện có (theo Tý biết) bao gồm:
  1. WEP (Wired Equivalent Privacy) - xem thêm tại wiki
  2. WPA (Wi-Fi Protected Access)
  3. WPA2

Chúng ta sẽ đi tìm hiểu từng chuẩn:

1. WEP. - Xem thêm (http://en.wikipedia.org/wiki/Wired_Equivalent_Privacy)
WEP là một hệ thống mã hóa dùng cho việc bảo mật dữ liệu cho mạng Wireless, WEP là một phần của chuẩn 802.11 gốc và dựa trên thuật toán mã hóa RC4, mã hóa dữ liệu 40bit để ngăn chặn sự truy cập trái phép từ bên ngoài.

1.a. Cơ chế chứng thực của chuẩn WEP (Authentication)

1.a.1. Open Authentication
Open Authentication là phương thức chấp nhận mọi yêu cầu truy cập của bất kỳ Client nào nằm trong phạm vi phục vụ của AP. Mục đích của phương thức này là nhanh chóng cho phép Client truy cập vào mạng.

Phương thức này dựa trên việc cấu hình trước khóa WEP ở Client và AP. Client và AP phải có cùng khóa WEP để có thể giao tiếp với nhau. Bất kỳ thiết bị nào cũng có thể gia nhập vào mạng nếu cấu hình đúng khóa WEP và không bật tính năng mã hóa dữ liệu. Nếu khóa WEP được cấu hình ở Client và AP khác nhau thì Client sẽ không thể mã hóa và giải mã chính xác dữ liệu, và các frame dữ liệu sẽ bị Client hoặc AP loại bỏ.

1.a.2. Shared Key Authentication
Trong phương thức này, AP gửi một chuỗi ký tự chưa được giải mã cho các bất kỳ thiết bị nào muốn giao tiếp với AP. Khi đó thiết bị muốn giao tiếp với AP sẽ yêu cầu chứng thực bằng cách dùng key được cung cấp của mình giải mã chuỗi ký tự và gửi lại cho AP.
Nếu chuỗi ký tự đã giải mã này đúng, nghĩa là key đúng, thì AP sẽ chứng thực cho thiết bị này.

Việc mã hóa và giải mã chuỗi ký tự này hoàn toàn có thể bị giám sát từ bên ngoài (Attacker), Attacker có thể kết hợp chuỗi ký tự đã giải mã và chưa giải mã để tính toán ra khóa WEP. Chính vì nhược điểm này mà Shared Key Authentication bảo mật kém hơn Open Authentication.

1.b. Cơ chế mã hóa dữ liệu
(chờ ai đó lấp chỗ này)

2. WPA  Xem thêm (http://en.wikipedia.org/wiki/Wi-Fi_Protected_Access)
WPA được thiết kế nhằm thay thế cho WEP vì có tính bảo mật cao hơn. WPA bảo mật mạnh hơn WEP rất nhiều vì WPA sử dụng hệ thống kiểm tra và bảo đảm tính toàn vẹn của dữ liệu tốt hơn WEP.

2.a.Cơ chế chứng thực

2.a.1. EAP -Extensible Authentication Protocol
EAP authentication cung cấp key động cho các Client. Key động thì bảo mật hơn nhiều so với key tĩnh.
Phương pháp chứng thực này cần kết hợp với một RAIDUS server

RADIUS server

RADIUS – Remote Access Dial-up User Service là một công nghệ thường được dùng cho các doanh nghiệp có quy mô lớn để bảo vệ và quản lý việc truy cập trong mạng không dây.
RADIUS là danh sách những Username và password. Trước khi muốn truy cập vào mạng thì User phải nhập Username và password và gửi đến RADIUS server, server sẽ kiểm tra tài khoản của User, nếu đúng thì cho phép truy cập, ngược lại thì không.

RADIUS server được cài đặt để cung cấp những cấp độ và lớp truy cập khác nhau. Ví dụ như những User truy cập vào mạng, người thì chỉ được phép truy cập Internet, người khác thì chỉ được xem mail, người khác thì có thể đầy đủ các quyền…

Cũng giống như tất cả các công nghệ bảo mật phức tạp khác, RADIUS cũng là một công nghệ đa dạng về loại và cấp độ. Bạn có thể sử dụng RADIUS miễn phí do Microsoft cung cấp cho một hệ thống bảo một tiêu chuẩn, hoặc bạn có thể dùng những giải pháp bảo mật về phần cứng và phần mềm.

2.a.2. LEAP Authentication
LEAP Authentication là một trong những loại chứng thực dùng cho mạng WLAN được Cisco đề xuất.
LEAP hổ trợ rất mạnh việc chứng thực giữa Client và RADIUS Server.
LEAP cung cấp động khóa được mã hóa.
LEAP Authentication hổ trợ mạng sử dụng WPA và WPA2.
LEAP Authentication được phát triển rộng rãi, hổ trợ nhiều loại Client, nhiều thiết bị của các nhà sản xuất.

Một vài đặc tính của LEAP hổ trợ như :
• Đăng nhập và chứng thực Username và password trên mội trường Active Directory WinNT/2000
• Đơn giản và giá thành thấp cho người quản trị mạng
• Quản trị, bảo mật tiện lợi, linh động, tập trung
• Hiệu suất bảo mật cao, có thể nâng cấp lên cấp độ bảo mật cao hơn
• LEAP hổ trợ chạy trên nhiều môi trường khác nhau : Microsoft Windows, Mac OS, Linux, DOS và Window CE

2.a.3. MAC Address Authentication
AP sẽ chuyển tiếp địa chỉ MAC của các Client đến đến RADIUS server trên mạng, RADIUS server sẽ so sánh địa chỉ nhận được với bảng danh sách địa chỉ MAC mà cho phép truy cập vào mạng.

Nếu không có RADIUS server bạn có thể tạo một danh sách các địa chỉ MAC cho phép truy cập trên AP. Khi đó những Client nào không có địa chỉ MAC phù hợp thì không được chứng thực.

2.b. Cơ chế mã hóa
TKIP - Temporal Key Integrity Protocol
TKIP sử dụng thuật toán RC4 để mã hóa với 128bit cho mã hóa và 64bit cho chứng thực.
...
(Xem thêm ở Wiki (http://en.wikipedia.org/wiki/Temporal_Key_Integrity_Protocol))

3. WPA2
WPA2 là một chuẩn ra đời sau WPA và được kiểm định lần đầu tiên và ngày 1/9/2004. WPA2 được National Institute of Standards and Technology (NIST) khuyến cáo sử dụng.

WPA2 cũng có cấp độ bảo mật rất cao tương tự như chuẩn WPA, nhằm bảo vệ cho người dùng và người quản trị đối với tài khoản và dữ liệu.

Nhưng trên thực tế WPA2 cung cấp hệ thống mã hóa mạnh hơn so với WPA, và đây cũng là nhu cầu của các tập đoàn và doanh nghiệp có quy mô lớn. WPA2 sử dụng rất nhiều thuật toán để mã hóa dữ liệu như TKIP, RC4, AES và một vài thuật toán khác. Những hệ thống sử dụng WPA2 đều tương thích với WPA.

3.a. Chứng thực:
Giống WPA

3.b. Mã hóa:
AES - Advanced Encryption Standard
...
Xem thêm ở Wiki (http://en.wikipedia.org/wiki/AES_%28cipher%29)


Thực tế thì người ta hay dùng wpa2 vì có độ bảo mật cao.

Thứ Năm, 14 tháng 6, 2012

Cách chia địa chỉ IP

Trong quá trình học mạng, chắc hẳn bạn đã học về cách chia địa chỉ IP. Tuy nhiên, cách chia IP rất dễ quên. Vì vậy mình xin giới thiệu về cách tính IP của mình, mong được sự đóng gớp ý kiến từ các bạn.

1. Chia IP ở lớp C :

1A. Chia 192.168.10.0 / 24 thành 2 mạng con
Bước 1 Xác định số bit cần lấy : 2^1 = 2 mạng (số bit cần lấy phải > hoặc = số mạng ví dụ chia 3 mạng thì phải lấy 2 bit)
- Ta lấy 1 bit từ HostID cho NetID :
192.168.10.0 / 24
255.255.255.0 tức là 11111111.11111111.11111111 . 0 0 0 0 0 0 0 0 theo kiểu nhị phân, phần địa chỉ lớp C thì chỉ dùng được 8 bit để mã hóa các mạng và địa chỉ từng máy, ta dùng 1 bit để mã hóa mạng vậy còn 7 bit để mã hóa địa chỉ máy từng mạng.

Ta lấy bit ở vị trí thứ 7
- Đối với lớp C : ta có 24 bit cho NetID và 8 bit cho HostID.
- Ta đã lấy 1 bit ở HostID nên số bit còn lại ở HostID là 7 bit.
- Ta có số bit ở NetID là 25 bit.
Bước 2 Xác định số host mỗi mạng : Số host = 2^số bit còn lại của HostID
- Số host mỗi mạng là : 2 ^ 7 = 128 host ( bao gồm địa chỉ mạng và broadcast )
- Số host thực là : 128 – 2 ( trừ đi địa chỉ đầu là địa chỉ mạng
và địa chỉ cuối là broadcast)
Bước 3 Xác định dãy IP :
- Vì lấy đi 1 bit nên số bit còn lại ở hostID là 7 : => 2^7 = 128. (mỗi lần cộng thêm 128)
- Ta có dãy IP là : ( 25bit )
Network | Range | Broadcast
192.168.10.0 | 192.168.10.1 – 192.168.10.126 | 192.168.10.127
192.168.10.128 | 192.168.10.129 – 192.168.10.254 | 192.168.10.255

Bước 4 Xác đinh subnet masks
- Subnet masks ban đầu có 24 bit :
255.255.255.0 => 11111111.11111111.11111111. 0 0 0 0 0 0 0 0
- Ta lấy đi 1 bit :
11111111.11111111.11111111. 1 0 0 0 0 0 0 0
- Ta có :
1*2^7 + 0*2^6 + 0*2^5 + 0*2^4 + 0*2^3 + 0*2^2 + 0*2^1 + 0*2^5 = 128
- Kết quả : 255.255.255.128 / 25

1B. Chia 192.168.10.0 / 24 thành 4 mạng con
Bước 1 Xác định số bit cần lấy : 2^2 = 4 mạng
- Ta lấy 1 bit từ HostID cho NetID :
192.168.10.0 / 24
255.255.255.0 ó 11111111.11111111.11111111 . 0 0 0 0 0 0 0 0


Ta lấy bit ở vị trí thứ 7,6
- Đối với lớp C : ta có 24 bit cho NetID và 8 bit cho HostID.
- Ta đã lấy 2 bit ở HostID nên số bit còn lại ở HostID là 6 bit.
- Ta có số bit ở NetID là 26 bit.
Bước 2 Xác định số host mỗi mạng : Số host = 2^số bit còn lại của HostID
- Số host mỗi mạng là : 2 ^6 = 64 host ( bao gồm địa chỉ mạng và broadcast )
- Số host thực là : 64 – 2 ( trừ đi địa chỉ đầu là địa chỉ mạng
và địa chỉ cuối là broadcast)
Bước 3 Xác định dãy IP :
- Vì lấy đi 2 bit nên số bit còn lại ở hostID là 6 : => 2^6 = 64. (mỗi lần cộng thêm 64)
- Ta có dãy IP là : ( 26bit )
Network Range Broadcast
192.168.10.0 192.168.10.1 – 192.168.10.62 192.168.10.63
192.168.10.64 192.168.10.65 – 192.168.10.126 192.168.10.127
192.168.10.128 192.168.10.129 – 192.168.10.190 192.168.10.191
192.168.10.192 192.168.10.193 - 192.168.10.254 192.168.10.255

Bước 4 Xác định subnet masks
- Subnet masks ban đầu có 24 bit :
255.255.255.0 => 11111111.11111111.11111111. 0 0 0 0 0 0 0 0
- Ta lấy đi 1 bit :
11111111.11111111.11111111. 1 1 0 0 0 0 0 0
- Ta có :
1*2^7 + 1*2^6 + 0*2^5 + 0*2^4 + 0*2^3 + 0*2^2 + 0*2^1 + 0*2^5 = 192
- Kết quả : 255.255.255.192 / 26

2. Chia IP ở lớp B :
2A. Chia 172.16.0.0 / 16 thành 2 mạng con
Bước 1 Xác định số bit cần lấy : 2^1 = 2 mạng
- Ta lấy 1 bit từ HostID cho NetID :
172.16.0.0 / 16
255.255.0.0 ó 11111111.11111111. 0 0 0 0 0 0 0 0 . 0 0 0 0 0 0 0 0


Ta lấy bit ở vị trí thứ 7
- Đối với lớp B : ta có 16 bit cho NetID và 16 bit cho HostID.
- Ta đã lấy 1 bit ở HostID nên số bit còn lại ở HostID là 15 bit.
- Ta có số bit ở NetID là 17 bit.
Bước 2 Xác định số host mỗi mạng : Số host = 2^số bit còn lại của HostID
- Số host mỗi mạng là : 2^15 = 32768 ( bao gồm địa chỉ mạng và broadcast )
- Số host thực là : 2^15 – 2 ( trừ đi địa chỉ đầu là địa chỉ mạng
và địa chỉ cuối là broadcast)
Bước 3 Xác định dãy IP :
- Vì lấy đi 1 bit nên số bit còn lại ở hostID là 7 : => 2^7 = 128. (mỗi lần cộng thêm 128)
(tính trong từng obtain)
- Ta có dãy IP là : ( 25bit )
Network Range Broadcast
172.16.0.0 172.16.0.1 – 172.16.127.254 172.16.127.255
172.16.128.0 172.16.128.1 – 172.16.255.254 172.16.255.255

Bước 4 Xác đinh subnet masks
- Subnet masks ban đầu có 16 bit :
255.255.0.0 => 11111111.11111111. 0 0 0 0 0 0 0 0 . 0 0 0 0 0 0 0 0
- Ta lấy đi 1 bit :
11111111.11111111. 1 0 0 0 0 0 0 0 . 0 0 0 0 0 0 0 0
- Ta có :
1*2^7 + 0*2^6 + 0*2^5 + 0*2^4 + 0*2^3 + 0*2^2 + 0*2^1 + 0*2^5 = 128
- Kết quả : 255.255.128.0 / 17

2B. Chia 172.16.0.0 / 16 thành 8 mạng con
Bước 1 Xác định số bit cần lấy : 2^3 = 8 mạng
- Ta lấy 3 bit từ HostID cho NetID :
172.16.0.0 / 16
255.255.0.0 ó 11111111.11111111. 0 0 0 0 0 0 0 0 . 0 0 0 0 0 0 0 0

Ta lấy bit ở vị trí thứ 7, 6, 5
- Đối với lớp B : ta có 16 bit cho NetID và 16 bit cho HostID.
- Ta đã lấy 3 bit ở HostID nên số bit còn lại ở HostID là 13 bit.
- Ta có số bit ở NetID là 19 bit.
Bước 2 Xác định số host mỗi mạng : Số host = 2^số bit còn lại của HostID
- Số host mỗi mạng là : 2^ 13 = 8192 ( bao gồm địa chỉ mạng và broadcast )
- Số host thực là : 2^13 – 2 ( trừ đi địa chỉ đầu là địa chỉ mạng
và địa chỉ cuối là broadcast)
Bước 3 Xác định dãy IP :
- Vì lấy đi 3 bit nên số bit còn lại ở hostID là 5 : => 2^5 = 32. (mỗi lần cộng thêm 32)
(tính trong từng obtain)
- Ta có dãy IP là : ( 25bit )
Network Range Broadcast
172.16.0.0 172.16.0.1 – 172.16.31.254 172.16.31.255
172.16.32.0 172.16.32.1 – 172.16.63.254 172.16.63.255
172.16.64.0 172.16.64.1 – 172.16.127.254 172.16.127.255
172.16.128.0 172.16.128.1 – 172.16.159.254 172.16.159.255
172.16.160.0 172.16.160.1 – 172.16.191.254 172.16.191.255
172.16.192.0 172.16.192.1 – 172.16.223.254 172.16.223.255
172.16.224.0 172.16.224.1 – 172.16.255.254 172.16.255.255

Bước 4 Xác đinh subnet masks
- Subnet masks có 16 bit : 11111111.11111111. 0 0 0 0 0 0 0 0 . 0 0 0 0 0 0 0 0
- Ta lấy đi 3 bit 11111111.11111111. 1 1 1 0 0 0 0 0 . 0 0 0 0 0 0 0 0
- Nên 1*2^7 + 1*2^6 + 0*2^5 + 1*2^4 + 0*2^3 + 0*2^2 + 0*2^1 + 0*2^5 = 224
- Kết quả : 255.255.224.0 / 19

3. Chia IP ở lớp A :
3A. Chia 10.0.0.0 / 16 thành 4 mạng con
Bước 1 Xác định số bit cần lấy : 2^2 = 4 mạng
- Ta lấy 2 bit từ HostID cho NetID :
172.0.0.0 / 8
255.0.0.0 ó 11111111. 0 0 0 0 0 0 0 0 . 0 0 0 0 0 0 0 0 . 0 0 0 0 0 0 0 0

Ta lấy bit ở vị trí thứ 7, 6
- Đối với lớp B : ta có 8 bit cho NetID và 24 bit cho HostID.
- Ta đã lấy 2 bit ở HostID nên số bit còn lại ở HostID là 22 bit.
- Ta có số bit ở NetID là 10 bit.
Bước 2 Xác định số host mỗi mạng : Số host = 2^số bit còn lại của HostID
- Số host mỗi mạng là : 2^ 22 = 4194304 ( bao gồm địa chỉ mạng và broadcast )
- Số host thực là : 2^22 – 2 ( trừ đi địa chỉ đầu là địa chỉ mạng
và địa chỉ cuối là broadcast)
Bước 3 Xác định dãy IP :
- Vì lấy đi 2 bit nên số bit còn lại ở hostID là 6 : => 2^6 = 64. (mỗi lần cộng thêm 64)
(tính trong từng obtain)
- Ta có dãy IP là : ( 10bit )
Network Range Broadcast
10.0.0.0 10.0.0.1 – 10.63.255.254 10.63.255.255
172.64.0.0 10.64.0.1 – 10.127.255.254 10.127.255.255
172.128.0.0 10.128.0.1 – 10.191.255.254 10.191.255.255
172.192.0.0 10.192.0.1 – 10.255.255.254 10.255.255.255

Bước 4 Xác đinh subnet masks
- Subnet masks có 8 bit : 11111111.0 0 0 0 0 0 0 0. 0 0 0 0 0 0 0 0. 0 0 0 0 0 0 0 0
- Ta lấy đi 11111111.1 1 0 0 0 0 0 0. 0 0 0 0 0 0 0 0 .0 0 0 0 0 0 0 0
- Nên 1*2^7 + 1*2^6 + 0*2^5 + 0*2^4 + 0*2^3 + 0*2^2 + 0*2^1 + 0*2^5 = 192
- Kết quả : 255.255.192.0 / 10

4. Supper Subnet – CIDR :
- Dùng để kết hợp nhiều subnet khác nhau thành 1 subnet chung, có thể truyền thông được với nhau.
- Cách thực hiện : theo qui tắc 2^1, 2^2, 2^3, 2^4 ….. \
- Nếu có 2 mạng -> qui tắc 2^1.
- Nếu có 4 mạng -> qui tắc 2^2……
4.A. Cách tính supper subnet :
- Ví dụ : có 8 mạng sau đây
> 194.10.1.0 / 24 (255.255.255.0)
> 194.10.2.0 / 24
> 194.10.3.0 / 24
> 194.10.4.0 / 24
> 194.10.5.0 / 24
> 194.10.6.0 / 24
> 194.10.7.0 / 24
> 194.10.8.0 / 24
- Ta áp dụng qui tắc 2^3. Vì 2^3 = 8 mạng è 24 bit – 3 = 21 bit
- Như vậy, tất cả các mạng trên sẽ có subnet là 21 bit.
> 24 bit có dạng : 255.255.255.0
7 6 5 4 3 2 1 0
ó 11111111.11111111.1 1 1 1 1 1 1 1.00000000
> Ta bỏ đi 3 bit : (tính từ 0 => ta bỏ bit : 0, 1, 2)
> Ta được :
2^7 + 2^6 + 2^5 + 2^4 + 2^3 + 2^2 + 2^1 + 2^0 - 2^2 + 2^1 + 2^0 = 248
- Kết quả cuối cùng : 255.255.248.0 / 21 bit

Thứ Tư, 13 tháng 6, 2012

Số IMEI

IMEI - Viết tắt của tiếng Anh International Mobile Equipment Identity (tạm dịch là "Số nhận dạng thiết bị di động trên toàn thế giới"), mã số nhận dạng quốc tế của từng điện thoại di động.

Đặc điểm

Đặc diểm chung

Số IMEI là một chuỗi số duy nhất được gán duy nhất cho mỗi máy GSM hay máy UMTS. Thường dãy số này được in trên tem máy nằm phía dưới Pin hay có thể bấm *#06# sẽ hiện ra trên màn hình. Số IMEI thường được sử dụng trong mạng GSM để nhận dạng sự hợp pháp của máy đầu cuối nhờ đó mạng có thể không cho các máy ăn cắp có thể gọi. Ví dụ nếu một máy điện thoại bị mất cắp, người chủ có thể gọi tới tổng đài yêu cầu tổng đài chặn máy điện thoại sử dụng số IMEI này. Do đó máy này sẽ không thể gọi được cho dù có thay thế SIM card khác.

So sánh với ESN

Không giống như số ESN trong mạng CDMA hay các mạng khác. Số IMEI chỉ dùng để nhận dạng thiết bị đầu cuối, nó không liên quan gì đến thuê bao. Vì trong mạng GSM thuê bao được nhận dạng bằng chuỗi số IMSI chuỗi này chứa trong SIM. Tuy nhiên có nhiều mạng họ có thể kích hoạt chức năng vừa xác định IMSI vừa xác định bằng IMEI.
Không giống như số ESN của mạng CDMA và các mạng không dây khác, số IMEI chỉ được dùng để xác định thiết bị, và không có mối liên kết thường trực hoặc bán thường trực với phía thuê bao. Thay vào đó, phía thuê bao được xác định thông qua việc truyền phát một số IMSI, số này được lưu giữ trên một thẻ SIM, về nguyên tắc có thể được truyền tới bất kỳ thiết bị di động cầm tay nào. Tuy nhiên, nhiều tính năng mạng và bảo mật có thể được kích hoạt thông qua việc nắm rõ thiết bị hiện do bên thuê bao sử dụng.

Cấu trúc của số IMEI

Số IMEI là một dãy số gồm 15 số nó chứa thông tin xuất xứ, Model và số serial của máy. Model và xuất xứ bao gồm 8 số trong phần đầu được hiểu là TAC (viết tắt của Type Allocation Code: Mã model và xuất xứ). Các phần còn lại của số IMEI được định nghĩa bởi nhà sản xuất, và cuối cùng là số Luhn Check Digit số này không gửi đi tới mạng.

Cấu trúc cũ

Trước năm 2002 thì số IMEI có dạng như sau :
AAAAAA-BB-CCCCCC-D (TAC – FAC – SNR – D ).
Trong đó thì TAC có độ dài 6 số theo sau đó là 2 số cho biết máy được ráp ở đâu gọi là (FAC: Final Assembly Code) tùy theo đó nhà sản xuất sẽ ghi các số này để cho biết máy được ráp ở nước nào. Và sau cùng cũng là chuỗi số serial của máy do nhà sản xuất quy định.
Ví dụ 352099-00-176148-1 cho biết các thông số sau : TAC: 352099 nó được đưa ra bởi BABT và theo số 2099.
FAC: 00 số này là thời điểm chờ chuyển từ số theo định dạng cũ sang số mới (vì sao là 00 sẽ được mô tả chi tiết sau).
SNR: 176148
CD: 1 Có nghĩa là GSM Phase 2 hay cao hơn.
Định dạng sẽ thay đổi bắt đầu từ 1 tháng 4 năm 2004 khi mà số FAC: Final Assembly Code chuyển từ định dạng cũ sang định dạng theo kiểu 8 số theo định dạng TAC: Type Allocation Code. Thì bắt đầu từ ngày một tháng một năm 2003 cho tới ngày đổi thoàn bộ số FAC sẽ là 00.

Kể từ 2004

Kể từ năm 2004 định dạng của số IMEI sẽ theo chuẩn sau : AABBBBBB-CCCCCC-D (Có thể được viết liền AABBBBBBCCCCCCD). Trong đó:
  • AA Là số Reporting Body Identifier, nó chỉ ra rằng nhóm GSMA thuộc nhóm nào xem bảng danh sách số Reporting Body Identifier ở phía dưới.
  • BBBBBB Là phần còn lại của chuỗi TAC.
  • CCCCCC Là số serial của từng máy do nhà sản xuất quy định.
  • D Là số cuối cùng được tạo ra từ các số trước theo luật Luhn check digit hoặc có thể là số 0.

Sử dụng IMEI để tra cứu thông tin máy điện thoại di động

Các dạng thức

Tùy thuộc vào năm sản xuất mà số IMEI (International Mobile Equipment Identity) có những dạng khác nhau, nhưng tựu trung thì có 2 dạng phổ biến:
  • aabbbb-cc-dddddd-e: dạng này là dành cho những máy sản xuất trước 1/4/2004
trong đó dãy aabbbb: TAC: Type approval code
cc: FAC: Final assembly code
dddddd: SNR: Serial number
e: SP: check digit (thường là số 0)
phần aa: nước sản xuất
phần cc: số hiệu của nhà sản xuất
ví dụ 01,02 = AEG ---- 60 = Alcatel
07,40 = Motorola ----- 61 = Ericsson
10,20 = Nokia ---- 65 = AEG
30 =Ericsson ----- 70 = Sagem
40,41,44 =Siemens ---- 75 = Dancall
50 =Bosch ---- 80 = Philips
51 =Sony, Siemens, Ericsson ----- 85 = Panasonic
Tuy nhiên, kể từ 1/1/2003 phần cc này đã được đồng loạt set về 00
  • xxxxxxxx-dddddd-e: dạng này là dành cho những máy sx sau thời điểm trên
trong đó xxxxxxxx: Type Allocation Code (cũng viết là TAC), và 2 chữ xx đầu cũng là ký hiệu nước sản xuất (tất nhiên bây giờ nhiều máy cũng kg ghi số IMEI theo kiểu có dấu cách như vậy mà thường ghi liền thành 1 dãy 15 số).
2 chữ số đầu tiên cho biết xuất xứ của nước sản xuất (country of origin). Nó vốn căn cứ trên mã điện thoại của mỗi quốc gia, nhưng nói chung là chỉ ở mức tương đối.
2 chữ số đầu tiên trong dãy số IMEI có tên gọi chính thức là Reporting Body Identifier. 2 chữ số này biểu thị tên tổ chức đã cấp số đăng ký cho phone. Và những con số này thường dựa trên mã quốc gia của tổ chức đó. Ví dụ: 35: British Approvals Board of Telecommunications (BABT).
  • Ví dụ: 01: USA; 35: UK; 33: Pháp; 45: Đan Mạch; 49, 50, 51: Đức v.v.
Cuối cùng, nếu bạn muốn phân tích những thông tin ẩn chứa trong IMEI, hãy vào đây và nhập số IMEI để khám phá nhiều điều thú vị.
Với các số IMEI mới chúng ta không thể dựa vào số IMEI để biết nước s/x điện thoại được. Vì dải số IMEI giờ không còn được cấp phát theo Quốc Gia nữa, mà được cấp phát theo tập đoàn/ CT s/x Điện thoại, và như chúng ta biết thì các tập đoàn s/x ĐT lớn đều đặt nhà máy s/x tại rất nhiều Quốc Gia, vì vậy các bạn check số IMEI mới, sẽ chỉ thấy - Made by Nokia, SE, Moto ...etc...

Ví dụ

Sau đây là đường dẫn hữu ích cho bạn - Phân tích 1 số IMEI xem thử thông tin của máy bạn như thế nào: http://www.numberingplans.com/?page=analysis&sub=imeinr
Bạn truy cập vào và nhập số IMEI sau đó sẽ biết được thông tin của máy mình ví dụ :
357308-00-0140802
Information on IMEI 357308000140802
Mobile equipment brand / model O2 XDA mini
GSM Implementation Phase 2/2+
Country of Approval United Kingdom

Thứ Ba, 12 tháng 6, 2012

Hiện tượng lan sai

Tiếng anh: phenomenon of error propagation hoặc error propagation phenomenon.
Đây là một hiện tượng mình gặp đầu tiên trong môn truyền dẫn với các thuật toán mã hóa sau PCM.
Nguyên tắc của các thuật toán tiết kiệm mã hóa bit là thay vì mỗi trạng thái lấy mẫu người ta mã hóa 1 lần thì ở đây người ta lấy mẫu theo kiểu các giá trị sau ước lượng dựa trên sự sai lệch của giá trị trước (hoặc các giá trị trước) và dựa trên các đặc tính của giọng con người là biến đổi không ngay lập tức mà từ từ -> giá trị sau chỉ thay đổi 1 chút so với giá trị trước -> chỉ cần ít bít để mã hóa sự thay đổi đó thôi.

Và hiện tượng lan sai xảy ra khi vì lý do nào đó sự thay đổi này bị mã hóa nhầm (truyền lỗi, đột ngột có tín hiện tăng giảm bất chợt vượt quá khả năng mã hóa thay đổi) -> giá trị sau mã hóa nhiều hoặc ít hơn giá trị trước khi sai 1 lượng. Tiếp tục giá trị sai này lại làm sai lệch giá trị sau nữa (vì mã hóa dựa trên sự thay đổi mà, bám theo sự thay đổi của giá trị sai thì cứ sai thôi) và lỗi cứ lan ra mãi. Tuy nhiên với PCM thì sự thay đổi biên độ này chỉ làm tăng hoặc giảm âm, không ảnh hưởng lắm, nhưng với các trường hợp khác thì ...

Thứ Hai, 11 tháng 6, 2012

Thủ tục bắt tay 3 bước (three way - handshake)

Ở tầng Transport có 2 giao thức quan trọng là UDP và TCP
- TCP là giao thức thuộc dạng connection-oriented (hướng kết nối). Có nghĩa là nó thiết lập kênh kết nối trước khi truyền data đi.

- UDP là giao thức thuộc dạng connectionless (nghĩa là không hướng kết nối). Nó không cần thiết lập kênh truyền trước khi truyền dữ liệu đi.

TCP thiết lập kết nối bằng 3 bước bắt tay (3-way handshake)

sender ___________ receiver

SYN seq=X ----------> SYN received (step 1)

SYN received <--------send ACK X+1 and SYN Y (step 2)

Send ACK Y+1 --------> (step 3)


Một gói dữ liệu TCP chứa các code bits (6) dùng để xác định các loại segment. Có 6 loại segment: URG, ACK, PSH, RST, SYN, FIN

* SYN (synchronization) dùng để bắt đầu một connection.
* ACK (acknowledgement).
* FIN (finish) dùng để ngắt một connection.
* URG và PSH là gói tin ưu tiên
* RST là gói tin cắt ngang


Bây giờ là các bước thực hiện việc thiết lập kết nối (giả sử A là người gởi và B là người nhận)
- Bước 1. A gởi cho B một SYN segment, trong đó chứa Sequence number của A
- Bước 2. Khi B nhận được B sẽ gởi lại một SYN – ACK Segment, trong đó chứa Sequence number của B và vùng ACK= Sequence number của B + 1
- Bước 3. Khi A nhận được sẽ gởi lại một ACK Segment chứa Sequence number A bằng giá trị vùng ACK của B gởi tới và vùng ACK của A có giá trị bằng Sequence number +1
Sau bước 3, kết nối được thiết lập và sẵn sàng truyền Data. Mục đích là để trao đổi Sequence Number và ACK Number.

Mục đích của Phương pháp bắt tay 3 bước là để thiết lập kết nối giữa bên gởi và bên nhận để tránh bị mất dữ liệu


Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2012

Bấm cáp thẳng và bấm cáp chéo

Quy tắc nhớ rất đơn giản thôi, coi các thiết bị làm 2 loại :
  • Loại 1: Router, PC, Server
  • Loại 2: Switch, Hub và các thiết bị khác
  • Nếu cùng loại thì dùng cáp chéo, khác loại thì dùng cáp thẳng. 
Thực tế ở mức độ dân dụng ta hầu hết chỉ sử dụng cắm cáp từ PC/lap đến switch hoặc modem (đa số là 4 cổng, đáng ra là phải dùng cáp thẳng, nhưng không rõ do nó đảo cổng hay tự động nhận mà cho cáp thẳng hay cáp chéo đều nhận được hết. Và với đa số các thiết bị hiện giờ thì bấm thẳng hay bấm chéo đều nhận -> bấm thẳng cho nó dễ, cứ cùng màu thì nối với nhau, hết.

Tuy nhiên một số dòng switch cũ (cùng loại 2) nếu dây thẳng thì nó không nhận, cứ phải bấm chéo -> để đảm bảo 100% các thiết bị đều nhận, cách tốt nhất là bấm chéo tất -> dù khó người ta vẫn toàn bấm chéo cho chắc -> cuộc đời lắm thứ oái oăm thế đấy ^_^.

Cách bấm cáp các bạn có thể xem ở đây

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012

Cách bấm đầu cáp LAN (RJ45) để nối mạng cho máy vi tính

Bài viết này sẽ hướng dẫn bạn về màu sắc các cặp dây đồng trong 2 chuẩn cáp cũng như kỹ thuật bấm cáp để nối 2 máy vi tính với nhau, hoặc nối máy vi tính với hub.
Trong một dây cáp đạt chuẩn qui định bao gồm tám sợi dây đồng trong đó mỗi hai sợi xoắn với nhau thành từng cặp theo qui định nâu - trắng nâu, cam - trắng cam - xanh lá - trắng xanh lá, xanh dương - trắng xanh dương và một sợi dây kẽm. Sợi dây kẽm này chỉ có chức năng làm cho sợi dây cáp chắc chắn hơn, các bạn không cần quan tâm đến nó mà chỉ cần quan tâm đến tám sợi dây đồng mà thôi.

Sợi dây cáp này sẽ được nối với một đầu RJ45, nhiệm vụ của các bạn là bấm tám sợi dây đồng nói trên vào các điểm tiếp xúc bằng đồng trong đầu RJ45 này.

Để làm được việc này bạn cần có một cái kìm bấm cáp mạng (kìm này bạn có thể dễ dàng tìm thấy trong các cửa hàng tin học tại các thành phố lớn) và hiểu được các chuẩn bấm cáp. Hiện nay có hai chuẩn bấm cáp là T568A và T568B, hai chuẩn bấm cáp này đều do Intel qui định.

T568A:

1. Trắng xanh lá

2. Xanh lá

3. Trắng cam

4. Xanh dương

5. Trắng xanh dương

6. Cam

7. Trắng nâu

8. Nâu

T568B:

1. Trắng cam

2. Cam

3. Trắng xanh lá

4. Xanh dương

5. Trắng xanh dương

6. Xanh lá

7. Trắng nâu

8. Nâu





Nếu các bạn muốn bấm một sợi dây cáp dùng để kết nối giữa các thiết bị cùng loại, ví dụ như giữa hai PC với nhau hoặc giữa hai switch (hub) với nhau, các bạn dùng kỹ thuật bấm cáp chéo (crossover cable). Một đầu sợi cáp các bạn bấm chuẩn T568A và đầu còn lại các bạn bấm chuẩn T568B.

Còn nếu như các bạn muốn một sợi dây cáp dùng để kết nối các thiết bị khác loại với nhau ví dụ như từ PC nối đến switch (hub) hoặc từ switch (hub) nối đến PC các bạn dung kỹ thuật bấm cable thẳng (straight-through cable). Nếu một đầu sợi cáp các bạn bấm chuẩn T568A thì đầu còn lại cũng bấm chuẩn T568A, tương tự như vậy nếu một đầu bạn bấm chuẩn T568B thì đầu còn lại các bạn cũng bấm chuẩn T568B.

Và đây là các bước thực hiện: Đầu tiên các bạn cắt bỏ lớp nhựa bảo vệ để được các sợi dây đồng (các bạn nên cắt vừa đủ để các sợi dây đồng tiếp xúc với các lá đồng trong đầu RJ45, nếu cắt dài quá sẽ rất dễ bị đứt do đầu RJ45 không bấm chắc vào sợi cáp). Tiếp theo đó các bạn tháo xoắn giữa các sợi dây đồng, và tuốt lớp nhựa bao quanh các sợi đồng. Bước tiếp theo các bạn chỉ cần đưa từng sợi dây đồng có màu tương ứng theo chuẩn bấm T568A hoặc T568B từ pin 1 đến pin 8 (qui định từ trái qua phải). Bây giờ các bạn chỉ việc đưa vào kìm bấm “rắc” là hoàn tất.


Trên mạng còn có kiểu bấm cáp LAN 1Gb nhưng theo phản ánh thì bấm kiểu cũ này (cho mạng 100 Mbps) thì nó vẫn cứ nhận như thường miễn là máy gửi, máy nhận, switch đều cùng hỗ trợ 1 Gbps cả nên các bạn cứ yên tâm mà bấm theo nhé.

Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2012

So sánh 2 giao thức TCP và UDP

UDP (User Datagram Protocol) là một trong những giao thức cốt lõi của giao thức TCP/IP. Dùng UDP, chương trình trên mạng máy tính có thể gởi những dữ liệu ngắn được gọi là datagram tới máy khác. UDP không cung cấp sự tin cậy và thứ tự truyền nhận mà TCP làm; các gói dữ liệu có thể đến không đúng thứ tự hoặc bị mất mà không có thông báo. Tuy nhiên UDP nhanh và hiệu quả hơn đối với các mục tiêu như kích thước nhỏ và yêu cầu khắt khe về thời gian. Do bản chất không trạng thái của nó nên nó hữu dụng đối với việc trả lời các truy vấn nhỏ với số lượng lớn người yêu cầu.

TCP (Transmission Control Protocol - "Giao thức điều khiển truyền vận") là một trong các giao thức cốt lõi của bộ giao thức TCP/IP. Sử dụng TCP, các ứng dụng trên các máy chủ được nối mạng có thể tạo các "kết nối" với nhau, mà qua đó chúng có thể trao đổi dữ liệu hoặc các gói tin. Giao thức này đảm bảo chuyển giao dữ liệu tới nơi nhận một cách đáng tin cậy và đúng thứ tự. TCP còn phân biệt giữa dữ liệu của nhiều ứng dụng (chẳng hạn, dịch vụ Web và dịch vụ thư điện tử) đồng thời chạy trên cùng một máy chủ.

So sánh một cách đơn giản :

Giống nhau : đều là các giao thức mạng TCP/IP, đều có chức năng kết nối các máy lại với nhau, và có thể gửi dữ liệu cho nhau....

Khác nhau (cơ bản):
các header của TCP và UDP khác nhau ở kích thước (20 và 8 byte) nguyên nhân chủ yếu là do TCP phải hộ trợ nhiều chức năng hữu ích hơn(như khả năng khôi phục lỗi). UDP dùng ít byte hơn cho phần header và yêu cầu xử lý từ host ít hơn
TCP :
- Dùng cho mạng WAN
- Không cho phép mất gói tin
- Đảm bảo việc truyền dữ liệu
- Tốc độ truyền thấp hơn UDP
UDP:
- Dùng cho mạng LAN
- Cho phép mất dữ liệu
- Không đảm bảo.
- Tốc độ truyền cao, VolP truyền tốt qua UDP


TCP hoạt động theo hướng kết nối (connection-oriented), trước khi truyền dữ liệu giữa 2 máy, nó thiết lập một kết nối giữa 2 máy theo phương thức "bắt tay 3 bước (three-way-hand-shake)" bằng cách gửi gói tin ACK từ máy đích sang máy nhận, trong suốt quá trình truyền gói tin, máy gửi yêu cầu máy đích xác nhận đã nhận đủ các gói tin đã gửi, nếu có gói tin bị mất, máy đích sẽ yêu cầu máy gửi gửi lại, thường xuyên kiểm tra gói tin có bị lỗi hay ko, ngoài ra còn cho phép qui định số lượng gói tin được gửi trong một lần gửi (window-sizing), điều này đảm bảo máy nhận nhận được đầy đủ các gói tin mà máy gửi gửi đi --> truyền dữ liệu chậm hơn UDP nhưng đáng tin cậy hơn UDP

UDP hoạt động theo hướng ko kết nối (connectionless), ko y/c thiết lập kết nối giữa 2 máy gửi và nhận, ko có sự đảm bảo gói tin khi truyền đi cũng như ko thông báo về việc mất gói tin, ko kiểm tra lỗi của gói tin
--> truyền dữ liệu nhanh hơn UDP do cơ chế hoạt động có phần đơn giản hơn tuy nhiên lại ko đáng tin cậy bằng TCP




TCP và UDP là 02 Protocol hoạt động ở lớp thứ 04 (Transport Layer) của mô hình OSI và ở lớp thứ 02 (Transport Layer) mô hình TCP/IP
(xin lưu ý: mô hình TCP/IP (TCP/IP Model ) khác hoàn toàn với chồng giao thức TCP/IP (TCP/IP Suite)

TCP là giao thức truyền tin cậy và phải bắt tay ba bước (three-way-hand-shake) nên khi Server không nhận được bất kỳ gói tin ACK từ Client gửi trả lời thì Server sẽ gửi lại gói tin đã thất lạc. Server sẽ gửi cho đến khi nhận được ACK của Client mới thôi => Điều này cũng là một nhân tố làm chậm và ngốn băng thông đường truyền.



Ý chủ bài viết muốn nói lên TCP dành cho các ứng dụng secure. đối với các ứng dụng không cần secure thì dùng UDP là được, lợi hơn về performance. finding DC thì không cần secure, LDAP tất nhiên cần secure.

Mặc dù tổng lượng lưu thông của UDP trên mạng thường chỉ vài phần trăm, nhưng có nhiều ứng dụng quan trọng dùng UDP, bao gồm DNS, SNMP, DHCP và RIP, dễ thấy hơn là điện thoại IP, xem truyền hình trực tiếp...



Thực tế UDP dùng nhiều cho việc truyền tải Games Online. Như các bạn biết đó...việc nâng cấp sửa lỗi games các nhà quản trị Games và Bảo mật thường xuyên cập nhật bản vá lỗi của games, hoặc các thông tin dẫn truyền trong games đều dùng UDP rất nhiều. Nói TCP bảo mật hơn thì cũng đúng, nhưng UDP cũng rất bảo mật điều này phụ thuộc vào mức độ mã hóa của các Package trong liên kết truyền thông. Nghiên cứu thêm trong An Toàn Bảo Mật Thông Tin...hehe
Để biết máy tính có dùng UDP hay TCP thi banjn có thể thao khảo Sys Tools...những công cụ kiểm tra hệ thống và xem trên Router, check Port Connection....(Tất cả nằm trên anh Google...)



"Tiền nào của nấy". Sử dụng TCP có rất nhiều ưu điểm, nhưng ngược lại chi phí đắt.
Khi mà ứng dụng không yêu cầu quá cao về chất lượng, có thể chấp nhận việc mất thông tin và trễ về thời gian (như điện thoại internet, media...) thì việc sử dụng UDP thay vì TCP sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí.
- Ngoài ra:
+ UDP có độ trễ nhỏ, do không có giai đoạn thiết lập đường truyền
+ UDP nó đơn giản: Phía gửi và phía nhận không phải ghi nhớ trạng thái gửi/nhận.
+ small segment header
+ Không có cơ chế kiểm soát tắc nghẽn, do đó bên gửi có thể gửi dữ liệu với tốc độ tối đa

Các bạn có thể thấy UDP được sd nhiều trong : NTP, DNS, MDNS, BOOTP, DHCP, SysLog, NFS, ISAKMP, Cisco HSRP, Cisco MGCP,...



Hai ứng dụng phổ biến là Yahoo Messenger sử dụng TCP/IP và Skype sử dụng UDP.
 

Thứ Năm, 7 tháng 6, 2012

Spanning Tree Protocol (STP)

802.1D Spanning tree Protocol

STP dùng các thông điệp giữa các switch để giúp ổn định hệ thống mạng về một sơ đồ không bị vòng lặp. Để làm được như cậy, STP sẽ đưa vài cổng của switch về trạng thái blocking, cổng sẽ không truyền hay nhận dữ liệu. Các cổng còn lại sẽ ở trạng thái forwarding. Tất cả các loại cổng này sẽ giúp hình thành một sơ đồ mạng không bị loop.

Các bước diễn tiến của hoạt động của spanning tree


Bầu chọn root switch: Switch có bridge-ID nhỏ nhất sẽ được bầu chọn. Thông thường, bridgeID được hình thành gồm giá trị priority (2 bytes) và MAC của switch. Xác định root port: là cổng trên những non-root switch có kết nối ngắn nhất về rootswitch. Xác định designated port trên từng segment: Khi có nhiều switch kết nối vào một segment, đây là cổng của switch chịu trách nhiệm đẩy traffic ra khỏi segment.

Bầu chọn root switch

Chỉ một switch có thể là root của một cây spanning tree. Để tìm ra root, các switch phải bầu chọn. Từng switch sẽ bắt đầu hoạt động spanning tree của nó bằng cách tạo và gửi các gói STP BPDU, trong đó thông báo chính nó là root. Nếu một switch nghe một BPDU tốt hơn (tức là BPDU có bridgeID nhỏ hơn), switch đó sẽ không khai báo nó là root nữa. Thay vào đó, switch sẽ bắt đầu gửi ra các BPDU nhận được từ switch ứng cử viên tốt hơn. Cuối cùng, tất cả các switch ngoại trừ switch có bridge ID tốt nhất sẽ ngừng gửi BPDU. Switch chiến thắng trong quá trình bầu cử trở thành root switch.

Giá trị bridgeID nguyên thủy của 802.1D có hai trường:


- Trường priority 2 bytes: được thiết kế để cấu hình trên các switch khác nhau để ảnh hưởng đến kết quả của quá trình bầu của spanning tree.
- Một trường có độ dài 6-bytes chứa địa chỉ MAC, được dùng để so sánh trong trường hợp độ ưu tiên của các switch là bằng nhau. Chắc chắn là sẽ có một switch thắng quá trình bầu chọn. Định dạng của bridgeID ở dạng nguyên thủy và dạng đã định nghĩa lại:



Định dạng của BPDU bị thay đổi là do việc phát minh ra các phiên bản PVST+ và MST. Với kiểu bridgeID cũ, một bridgeID của một switch cho mỗi phiên bản spanning tree là giống nhau nếu switch dùng một MAC. Nếu dùng nhiều spanningtree, việc mỗi switch chỉ có một bridgeID có thể gây ra nhầm lẫn. Vì vậy Cisco dùng một địa chỉ MAC khác nhau cho từng vlan khi tạo ra bridgeID. Điều này dẫn đến các giá trị bridgeID khác nhau mỗi VLAN, nhưng cũng sẽ làm tốn nhiều địa chỉ MAC trong từng switch.

Trường SystemID mở rộng cho một mạng dùng nhiều phiên bản spanningtree, mà không cần dùng các địa chỉ MAC riêng biệt cho từng switch. Trường này cho phép các VLAN-ID được đặt trong 12 bit cuối cùng của trường priority. Một switch có thể dùng một địa chỉ MAC để xây dựng nên bridgeID và với chỉ số vlan trong trường SystemID, switch này vẫn có một bridgeID duy nhất trong từng VLAN. Việc sử dụng trường systemID mở rộng còn được gọi là cơ chế giảm địa chỉ MAC (MAC address reduction).

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes