Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2012

Giới thiệu về các định dạng video thường gặp

Hiện nay có rất codec sử dụng để encode video cùng hàng tá các chuẩn khác nhau khác để hiệu chỉnh, xem phim có subtitle... etc. Chính vì có quá nhiều thứ nên có lẽ chúng ta phải được tìm hiểu một cách cẩn thận và ghi lại để tiện cho việc tra cứu về sau.

VỀ CODEC:

Codec là từ viết tắt của coder/decoder, nó chỉ là một mẩu chương trình nhỏ. Hay chúng ta có thể gọi nó là một công thức mà mọi chương trình media player cần đến nó. Chương trình sẽ đọc dữ liệu file media, dùng codec để giải mã chúng và đưa ra cho chúng ta nội dụng chính xác = hình ảnh/âm thanh của dữ liệu đó - đây là quá trình giải mã, một quá trình rất thông dụng trong cuộc sống số bình thường. Quá trình mã hoá cũng gần như tương tự có điều theo chiều gần ngược lại (vì có nhiều cách để encode)
Chính vì mỗi loại video/âm thanh có cách ghi theo chuẩn codec mà nó sử dụng nên việc đọc file video/âm thanh cũng cần codec đó để giải mã. Vậy là cũng ko có gì khó khăn khi bạn gặp thông báo lỗi "ko tìm thấy codec" hoặc "ko thể render" một file video nào đó.

Có 3 chuẩn codec MPEG (theo chuẩn MPEG thôi, còn rất nhiều codec khác):
- MPEG-1: sử dụng trong VCD thông thường. Đây có lẽ là codec video cơ bản và cũ nhất của các loại video số. Có vẻ như nó sử dụng một chuỗi các hình ảnh nén bằng định dạng MPEG để tạo phim (Mình ko quan tâm nó lắm nên cũng chả buồn tìm hiểu sâu).
- MPEG-2: sử dụng trong DVD video và SVCD.
- MPEG-4: các loại codec tiên tiến hiện nay. Trong này có rất nhiều dòng codec nhỏ khác nhau, tuy chung gốc MPEG-4 nhưng lại có những quãng đường phát triển khác hẳn nhau.

VỀ CÁC ĐUÔI : .AVI .OGM .MPG .WMV.. etc

Do có rất nhiều codec khác nhau tương ứng với rất nhiều nhà phát triển codec khác nhau nên cách qui ước cũng khác nhau. Có thể tạm chia làm 2 loại:
- Loại đuôi tập tin sẽ chỉ ra loại codec file đó sẽ sử dụng, bao gồm: .WMV .RM .RMVB .MPG .MPEG .MOV..
- Loại đuôi tập tin không chỉ đính xác ra loại codec file đó sẽ sử dụng, chỉ thể hiện đó là file media: .AVI .MKV .OGM .MP4.. (còn rất nhiều loại nữa nhưng không phổ biến)
Nhưng, cả hai loại trên có một điểm chung - chúng chỉ là các container để chứa nội dung mà thôi, còn việc nội dung đó như thế nào, cách ghi ra làm sao chỉ khi trình media player mở ra và đọc nó sẽ biết file đó sử dụng codec gì. Nói cách khác, các file media đều thuộc loại thứ 2 - đuôi tập tin chỉ nói lên chúng là file media mà thôi.
Lấy VD: file "fatcat.avi" là file container, trong đó bao gồm một đoạn video được nén với codec DivX và âm thanh nén với MP3. Cả video và âm thanh có độ dài như nhau. Khi mở file này, Media player sẽ dùng codec DivX để giải mã video và codec MP3 để giải mã âm thanh, phát chúng cùng một lúc để tạo thành bộ phim có cả hình lẫn tiếng.

Từ lý thuyết trên, luận ra rằng: nếu định làm đĩa hình VCD thì cần convert video ra dạng MPEG-1 và MPEG-2 nếu định làm DVD video.

+ MPEG-4

MPEG-4 là một chuẩn nén video được phát triển bởi một nhóm gọi là "Moving Picture Experts Group" (hay gọi là MPEG). MPEG-4 được biết đến như là một "chuẩn nén của hình ảnh & âm thanh bit-rate thấp". Có rất nhiều chuẩn được phát triển bởi nhóm này và đã được chấp nhận bởi tố chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO - International Standards Organization) hay còn gọi là chuẩn-ISO ^^"
MPEG-4 là chuẩn-ISO/IEC #14496. Vì XviD đi theo chuẩn MPEG-2 part 2 nên nó còn được biết đến như là MPEG-4 chuẩn ISO #14496-2 (chuẩn mới nhất của MPEG-4 đó là MPEG-4 part 10/AVC (Advanced Video Coding) hay còn gọi là H.264)

Thực tế, MPEG-4 là một chuẩn nén video với rất nhiều các phần mở rộng mà đặc biệt được thiết kế để đạt tới chất lượng cao nhất của chuẩn nội dung video. Chuẩn nội dung ở đây là chuẩn trong các video trong thế giới thật, nó không được thiết kế để nén video dựng bởi trình 3D, phim hoạt hình trên TV thông thường hay là anime (đó là lý do tại sao các video thuộc thể loại trên nén không tốt lắm khi sử dụng MPEG-4)
Các chuẩn codec thông thường thuộc họ MPEG-4 là DivX, 3ivx, Quicktime MPEG4 và XviD. Mặc dù chúng là họ hàng với nhau, tuy nhiên một phim được nén bởi một trong các codec trên sẽ không thể được giải mã bằng codec anh em của nó. Vì giữa chúng vẫn có những điểm khác nhau cơ bản không thể thay thế. Lấy ví dụ bằng việc xử lý tập tin video có nhiều hơn 1 tỷ frame - đó là việc mà DivX không thể thực hiện được, trong khi XviD lại có thể. Ví dụ khác sẽ là XviD có đến 3 điểm warppoint GMC (Global Motion Compensation) trong khi DivX chỉ có 1 điểm - điều này dẫn đến sự khác biệt trong cấu trúc phần cứng để có thể giải mã được đoạn video được nén bằng codec DivX hay XviD (phần cứng để giải mã DivX sẽ nhẹ nhàng hơn).
Có một số đầu đọc DVD phù hợp chuẩn MPEG-4 có thể đọc được video DivX. Để mở rộng khả năng đọc các chuẩn MPEG-4 khác sẽ không khó khăn mấy. Việc này chỉ cần được thực hiện bằng một số thay đổi nhỏ trong EEPROM liên kết với bộ xử lý video của đầu đọc - hay nói cách khác là flash lại bộ EEPROM của đầu đọc.
Kỹ hơn về MPEG-4, các lý thuyết cơ bản

Để có thể nén được 2h video chất lượng cao mà chỉ nhỏ để đút vừa một đĩa CD đòi hỏi cả một thuật toán phức tạp. MPEG-4 làm việc này bằng cách bỏ bớt những thông tin mà người xem không cảm nhận được bằng cách biến đổi dữ liệu về các điểm ảnh trên video thành công thức toán học gần giống với đoạn dữ liệu đó. Việc biến đổi này gần giống nhau đến mức con người bình thường sẽ rất khó có thể nhận ra sự khác biệt giữa video nguồn và video kết quả (tất nhiên, đó chỉ là lý thuyết).
Đầu tiên, mảng màu của khung hình ban đầu sẽ được biến đổi thành một mảng màu đặc biệt được gọi là YV12. Mắt người thông thường kém nhạy cảm với các màu sắc hơn là với các mức độ sáng tối (liếc nhìn thật nhanh qua bầu trời, bạn sẽ cảm nhận rõ nhất trời sáng hay trời tối hơn là bầu trời có màu gì). Chính vì vậy, MPEG-4 đánh giá độ sáng tối của hình ảnh quan trọng hơn là màu sắc. Điều này đem đến một kết quả là độ sáng tối được ghi lại trong mỗi pixel còn thông tin màu sắc sẽ chỉ được ghi lại sau mỗi 4 pixel.

Trong các codec phổ biến hiện nay, có thể kể đến DivX, XviD và H.264 Ngoài ra còn một số đối thủ cũng khá cạnh tranh khác (có điều cung cách phát triển ích kỷ) là Real Media và Window Media Audio/Video.

+ DivX

Một codec nổi tiếng và rất rất phổ biến trong nhóm MPEG-4, có thể coi đã lên dạng lão làng khi có khá nhiều đầu đọc DVD đọc luôn cả DivX. So sánh giữa chuẩn MPEG-2 và DivX thì chất lượng có thể coi là như nhau có điều DivX trội hơn ở bit-rate thấp, điều này đồng nghĩa với việc chúng ta có thể có một đoạn phim tương tự DVD video nhưng nhẹ hơn chỉ cỡ bằng 1/2 của DVD video.
Tuy phổ biến như vậy nhưng so với các codec chị em của nó gần đây thì DivX bắt đầu tỏ ra yếu thế, đặc biệt là trước XviD và H264 và một số codec đang phát triển khác.

DivX homepage: http://www.divx.com
DivX codec download: http://www.divxmovies.com/codec/

+ XviD

Xvid là một codec theo chuẩn MPEG-4. Nó có thể nén một file video thành những dữ liệu theo chuẩn của MPEG-4 và có thể được lưu trữ dưới dạng .AVI .OGM .MP4 hay khác. Bản thân codec này không thể tự nén video mà nó phải nhờ một công cụ khác giúp nó, VD đó có thể là trình VirtualDub.
Thông thường một codec sẽ đi kèm cả Decoder và Encoder, nhưng cũng có trường hợp một bộ cài chỉ có Decoder mà thôi - với bộ cài đó bạn chỉ có để xem phim dùng codec đó mà không thể nén phim bằng codec đó. Bộ filter chỉ có decoder có thể kể đến là Nic's decoder filter.

Xvid codec là một dự án mã nguồn mở GNU-GPL. Nghĩa là mã nguồn của nó có thể được download bởi bất kỳ ai và chỉnh sửa theo bất kỳ ý thích nào của họ. XviD là chuỗi kí tự viết ngược của DivX (phát triển bởi một công ty thương mại) - có lẽ nó giống như một sự thách thức với codec DivX. Sự thật cho thấy XviD vượt trội về chất lượng nén hơn hẳn DivX.

XviD homepage: http://www.xvid.org
XviD codec download: http://www.koepi.org/XviD-1.1.2-01112006.exe (ver1.1.2 stable)

+ RM/RMVB

Codec rất quen thuộc và phổ biến nhất TQ, nếu bạn bắt gặp 1 phim bộ tiếng Hoa bất kỳ được share trên mạng, thì chắc chắn rằng 99% sẽ là dạng rmvb. Đây là codec riêng từ RealOne. Loại này cho ra ảnh phim rõ nét, sáng đẹp và dung lượng của file khá nhỏ, đặc biệt có chút nhỉnh hơn AVI nếu như là rip từ DVD ..
Phải nói coi 1 tập phim dạng rmvb - dvd rip thật chẳng thua gì DVD chính hiệu, rất tuyệt vời !

+ H.264

H264 là một codec thật sự ấn tượng.
Lần đầu tiên mình chứng kiến sức mạnh của H264 là từ một đoạn anime dài 24 phút, cỡ 704x400 pixel với âm thanh MP3 128kbps mà chỉ có 76.2MB (video bit-rate là 301kbps) - chất lượng của nó gần bằng đoạn anime tương tự như thế nén với DivX nhưng nặng vào cỡ 233MB.
Lần thứ hai là chính tay mình nén một đoạn video 3 phút từ MPEG-1 (gốc) nặng 116MB ra H264 (nặng 32MB) - thật sự mà nói thì xem bản H.264 còn đẹp hơn cả bản gốc T_T Nguyên nhân của sự kỳ cục ấy là do H.264 sử dụng một thuật toán nào đó làm mờ đi các chi tiết mà nó thật sự cần thiết trong các khung hình. Nó giống như là được de-cube, xoá nhoà các vết ô vuông của codec MPEG-1 tạo ra vậy. Thật sự ấn tượng.
Hiện có một project giúp H264 đến người sử dụng miễn phí đó là compressor/decompressor x264. Có thể xem thêm về nó tại: http://www.videolan.org/developers/x264.html

+ VP60, VP72

Dòng codec mới nổi lên với kết quả được đánh giá là nổi trội nhất hiện nay có điều nó đang phát triển, chưa hoàn chỉnh. Nhưng rất có thể chỉ một thời gian nữa thì VP72 sẽ là đối thủ nặng ký nhất đối với H264 và XviD. Riêng DivX và gì gì khác cho về hưu luôn bây giờ kẻo trễ.
Thông tin về codec này mình chưa nắm nhiều lắm, nhưng chắc sẽ phải tìm hiểu thêm về nó để theo kịp thời đại ^^"

LỰA CHỌN:

Để chọn codec nào hay nhất thực ra cũng có nhiều thứ tác động đến quyết định. Nhưng có thể nhận xét ngay rằng, việc chọn codec càng ít phổ biến thì việc edit/playback càng trở nên khó khăn.
Như bên TQ thì toàn chơi RealMedia chẳng hạn ..

Sưu tầm

Một số phương thức báo hiệu cứu nạn



Search mạng không thấy bài nào về khoản này ok cả nên mình mạn phép viết mặc dù chẳng có chuyên môn cũng chưa thử bao giờ. Dưới đây là một vài phương pháp báo hiệu khi bị lạc, tàu gặp nạn trên biển hay đảo hoang .. Những cái này liên quan đến kỹ năng sinh tồn và đã phát thông tin cứu nạn thì cũng thuộc lĩnh vực viễn thông luôn :

Báo hiệu bằng hình ảnh : có vẻ như đây là hình thức được sử dụng nhiều nhất, các phương pháp cũng rất đa dạng.
  • Báo hiệu bằng pháo sáng : thường thấy khi tàu gặp nạn, hiệu quả tốt trong buổi đêm tuy nhiên pháo sáng kéo dài không lâu.
  • Báo hiệu bằng cờ : treo một lá cờ lên vị trí cao hoặc dùng cờ vẫn, cờ có thể in ký hiệu nào đó tùy theo quy ước nhưng mà thường màu sắc càng bắt mắt càng tốt.
  • Dùng khói : cách này cũng là cách hay tuy nhiên cần cẩn thận không sẽ gây hỏa hoạn
  • Dùng đèn : chắc trên tàu biển phải trang bị đèn pha chiếu xa (hoặc đèn loại khác chiếu xa hơn) hay ứng dụng rất thông dụng là ngọn hải đăng, đèn biển ..
  • Dùng gương : thấy trên phim có trường hợp dùng 1 mảnh gương hứng ánh sáng hắt lên máy bay hoặc tàu làm lóa mắt phi công hay vào thân tàu làm nó chói lên để người ở xa có thể phát hiện.
  • Dùng chính thân thể : bạn có thể huơ tay, nhảy nhót hay làm gì đó (khoe body chẳng hạn, đặc biệt tác dụng nếu là các bạn nữ dáng chuẩn ^^ hay theo chiều hướng ngược lại cũng có thể rất nổi bật), khoa học chứng minh rằng loài rắn thị lực rất kém, chỉ phát hiện ra loài vật khi chúng chuyển động -> dù dùng gì thì cũng nên ở trạng thái chuyển động, khoe thì cũng phải đổi tư thế liên tục để dễ được phát hiện. Với các fan bóng đá thì có thể cởi áo ra quay.
  • Để lại vết tích trong 1 diện tích rộng trên mặt đất : đơn giản và dễ bắt gặp nhất thì chúng ta hay thấy mấy diễn viên lạc đảo hoang hay xếp đá thành chữ SOS trên bãi biển, ở trên cao dễ nhìn thấy, hoặc có khi dựng lều ngay tại bờ biển cũng dễ nhận thấy từ xa.
Báo hiệu bằng âm thanh : tác dụng không lâu và có vẻ không thông dụng bằng, mình cũng biết ít hình thức hơn, thấy chủ yếu dùng loa đài, còi, súng, thuốc nổ, gây đổ vỡ hay nổ 1 cái gì đó hoặc không cần thiết bị gì thì hét lên (động cơ sức người)

Báo hiệu bằng mùi : thường là mùi khét của đám cháy hoặc một số loại khác như thức ăn. Báo hiệu này phụ thuộc nhiều vào gió, nếu phát tán theo hướng gió thì có thể truyền tín hiệu được khá xa.

Cách xa nhất vẫn là gửi tín hiệu SOS bằng các thiết bị điện báo, giờ thì không biết thế nào, có khi bây giờ người ta gọi bằng điện thoại vệ tinh hay các thiết bị cao cấp khác.

Bài này mình chỉ múa rìu qua mắt thợ thôi, mục đích là để cho các bạn thấy những khía cạnh khác của viễn thông thay vì những bài giảng nhàm chán hoặc những thứ xa vời phải công nghệ thật hiện đại mới làm được.

Wireless LAN (WLAN) - mạng LAN không dây

Mạng LAN không dây là mạng cục bộ gồm các máy tính liên lạc với nhau bằng sóng radio.
Chuẩn IEEE 802.11 định nghĩa tầng vật lý và tầng MAC cho một mạng nội bộ không dây. Thành tố cơ bản của 802.11 là tế bào (cell) với tên gọi là BSS (basic service set - bộ dịch vụ cơ bản). Mỗi BSS thường gồm một vài máy trạm không dây và một trạm cơ sở trung tâm được gọi là AP (access point - điểm truy cập). Các máy trạm (có thể di động hoặc cố định) và trạm trung tâm liên lạc với nhau bằng giao thức MAC IEEE 802.11 không dây. Có thể kết nối nhiều trạm AP với nhau bằng mạng hữu tuyến Ethernet hoặc một kênh không dây khác để tạo một hệ thống phân tán (DS - distributed system)
Các máy trạm dùng chuẩn IEEE 802.11 có thể nhóm lại với nhau để tạo thành một mạng ad hoc - mạng không có điều khiển trung tâm . Trong trường hợp này, mạng được hình thành tức thời khi một số thiết bị di động tình cờ thấy mình đang ở gần nhau trong khi đang có nhu cầu liên lạc mà không tìm thấy một cơ sở hạ tầng mạng sẵn có tại chỗ (chẳng hạn một BBS 802.11 với một trạm AP). Một ví dụ về mạng ad hoc được hình thành là khi một vài người mang máy tính xách tay gặp nhau tại một bến tầu và muốn trao đổi dữ liệu mà không có một trạm AP ở gần đó.

Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2012

Địa chỉ MAC

Địa chỉ MAC là gì? Làm thế nào để tìm được địa chỉ MAC của card mạng? Ứng dụng của địa chỉ MAC? là những câu hỏi chúng tôi thường xuyên nhận được từ bạn đọc. Đây là những khái niệm mà hầu hết các tài liệu về mạng căn bản đều đề cập đến. Chúng tôi chỉ tổng hợp lại nhằm giúp người dùng gia đình hiểu rõ hơn về địa chỉ MAC và 1 vài ứng dụng của địa chỉ MAC ở mức độ cơ bản.
KHÁI NIỆM

Trong mô hình OSI (Open Systems Interconnection) hay mô hình tham chiếu kết nối các hệ thống mở thì địa chỉ MAC (Media Access Control) nằm ở lớp 2 (lớp liên kết dữ liệu hay Data Link Layer). Nói một cách đơn giản, địa chỉ MAC là địa chỉ vật lý hay còn gọi là số nhận dạng (Identification number) của thiết bị. Mỗi thiết bị (card mạng, modem, router...) được nhà sản xuất (NSX) chỉ định và gán sẵn 1 địa chỉ nhất định; thường được viết theo 2 dạng: MM:MM:MM:SS:SS:SS (cách nhau bởi dấu :) hay MM-MM-MM-SS-SS-SS (cách nhau bởi dấu -). Địa chỉ MAC là một số 48 bit được biểu diễn bằng 12 số hexa (hệ số thập lục phân), trong đó 24bit đầu (MM:MM:MM) là mã số của NSX (Linksys, 3COM...) và 24 bit sau (SS:SS:SS) là số seri của từng card mạng được NSX gán. Như vậy sẽ không xảy ra trường hợp hai thiết bị trùng nhau địa chỉ vật lý vì số nhận dạng ID này đã được lưu trong chip ROM trên mỗi thiết bị trong quá trình sản xuất, người dùng không thể thay đổi được.
MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĐỊA CHỈ MAC VÀ IP

Như đã đề cập ở trên, địa chỉ MAC làm việc ở lớp 2 trong khi địa chỉ IP làm việc ở lớp 3 (lớp mạng hay Network Layer). Địa chỉ MAC là cố định (được thiết lập cứng) trong khi địa chỉ IP có thể thay đổi được (thiết lập mềm). Trong mạng luôn duy trì một ánh xạ giữa địa chỉ IP và địa chỉ MAC của thiết bị. Do đó, các thiết bị thường dùng cơ chế ARP (Address Resolution Protocol) và RARP (Reverse Address Resolution Protocol) để tìm được địa chỉ MAC, IP của các thiết bị khác khi cần thiết lập kết nối. DHCP cũng thường dựa vào địa chỉ MAC để quản lý việc gán địa chỉ IP cho mỗi thiết bị.
CÁCH TÌM ĐỊA CHỈ MAC

Có nhiều cách để xác định địa chỉ MAC, chẳng hạn như dựa vào loại thiết bị đang sử dụng, vào hệ điều hành (HĐH) đang sử dụng.

Với HĐH Windows: Sử dụng lệnh “winipcfg” (Windows 95, 98 và ME) hoặc “ipconfig /all” (Windows NT, 2000, XP, Vista, Windows 7). Cả hai lệnh “winipcfg” và “ipconfig” đều có thể hiển thị nhiều địa chỉ MAC tương ứng với nhiều card mạng khác nhau trên cùng máy tính.

Với HĐH Unix/Linux: Tùy thuộc vào phiên bản HĐH mà lệnh tìm địa chỉ MAC sẽ khác nhau, chẳng hạn trong Linux và 1 vài phiên bản của Unix, lệnh "ifconfig -a" sẽ trả về địa chỉ MAC của thiết bị hoặc có thể tìm địa chỉ MAC trong file log (/var/log/messages hay /var/adm/message). Bên cạnh đó, HĐH cũng hiển thị địa chỉ MAC trên màn hình trong quá trình hệ thống khởi động.

HĐH Macintosh: Trong Macintosh, bạn có thể tìm địa chỉ MAC trong TCP/IP Control Panel. Nếu chạy trên Open Transport, địa chỉ MAC thường xuất hiện bên dưới màn hình "Info" hay "User Mode/Advanced". Nếu chạy trên MacTCP, địa chỉ MAC sẽ ở dưới biểu tượng "Ethernet".
ỨNG DỤNG ĐỊA CHỈ MAC

Quản lý kết nối không dây trên Access Point, Router

Hầu hết các Access Point (AP) và router đều có tính năng quản lý kết nối nhằm tăng cường khả năng bảo mật cho mạng Wi-Fi. Mặc định tính năng này là tắt nên bất kỳ máy khách nào cũng có thể truy cập vào mạng nếu dò được tên mạng (hay còn gọi là SSID) và mật khẩu mã hóa. Để kích hoạt chức năng lọc địa chỉ MAC, trước tiên bạn cần thu thập địa chỉ MAC của từng máy khách (xem lại phần Tìm địa chỉ MAC) cho phép kết nối tới mạng Wi-Fi. Sau đó, bạn chỉ cần điền chúng vào mục lọc địa chỉ MAC trên AP hoặc router, nhấn Ok để xác nhận việc cập nhật danh sách. Sau khi thiết lập, các máy khách không có tên (địa chỉ MAC) trong danh sách sẽ không được phép đăng nhập mạng.

Ghi chú: Việc lọc địa chỉ MAC còn nhiều hạn chế do 1 số phần mềm có thể tạo địa chỉ MAC “ảo" tuy nhiên mạng của bạn vẫn an toàn hơn khi có thêm một lớp bảo mật.
KHỞI ĐỘNG MÁY TÍNH TỪ XA

Để khởi động máy tính từ xa đòi hỏi router và máy tính cùng hỗ trợ chức năng Wake on LAN (WoLAN). Việc thiết lập WoLAN cũng tương đối đơn giản. Cách thực hiện như sau: Trong giao diện cấu hình của router, chọn mục Application và chọn Wake On LAN và nhập địa chỉ MAC của card mạng máy tính cần khởi động. Nếu muốn "đánh thức" 1 máy tính nào đó dựa vào địa chỉ IP, bạn cần kết hợp với tính năng "Bind IP to MAC" - gán cố định địa chỉ IP theo MAC.
Cách đổi địa chỉ MAC
Như đã đề cập bên trên, địa chỉ MAC thường được gán cố định và lưu trong chip ROM trên mỗi thiết bị nhằm tránh trường hợp trùng địa chỉ MAC giữa hai thiết bị. Tuy nhiên trong một số trường hợp cần thiết, bạn vẫn có thể thay đổi địa chỉ MAC để việc cài đặt ứng dụng được thuận tiện hơn, chẳng hạn:
- Với Windows: Địa chỉ MAC thường được lưu trong registry. Do đó, sử dụng lệnh “regedit” để thay đổi địa chỉ MAC. Windows XP có thêm tùy chọn cho phép thay đổi địa chỉ MAC của một số card mạng trong tab Adavanced. Ngoài ra, bạn có thể dùng tiện ích để thực hiện việc này, chẳng hạn tiện ích miễn phí Macshift (http://devices.natetrue.com/macshift).
- Với Mac OS: Sử dụng tính năng MAC Spoofing trên máy tính.
- Với FreeBSD: Sử dụng lệnh theo cú pháp "ifconfig <interface> link <address>" để thay đổi địa chỉ MAC.
- Với Linux: Sử dụng lệnh theo cú pháp "ifconfig <interface> hw <class> <address>" hoặc sử dụng GNU MAC Changer.
- Với Solaris: Sử dụng lệnh theo cú pháp "ifconfig <interface> <ether> <address>".
Minh Thư 

MAC (giao thức mạng)

MAC (tiếng Anh: Media Access Control hay Medium Access Control có nghĩa là "điều khiển truy nhập môi trường") là tầng con giao thức truyền dữ liệu - một phần của tầng liên kết dữ liệu (tầng 2) trong mô hình 7 tầng OSI. Nó cung cấp các cơ chế đánh địa chỉ và điều khiển truy nhập kênh (channel access), các cơ chế này cho phép các trạm cuối (terminal) hoặc các nút mạng liên lạc với nhau trong một mạng, điển hình là mạng LAN hoặc MAN. Giao thức MAC không cần thiết trong liên lạc điểm-tới-điểm song công (full-duplex).
Tầng con MAC hoạt động với vai trò một giao diện giữa tầng con điều khiển liên kết lôgic LLC và tầng vật lý của mạng.
Tầng MAC cung cấp một cơ chế đánh địa chỉ được gọi là địa chỉ vật lý hoặc địa chỉ MAC. Đây là một con số được cấp một cách phân biệt cho từng bo mạch mạng, cho phép chuyển giao các gói dữ liệu tới đích trong một mạng con, nghĩa là một mạng vật lý không có các thiết bị định tuyến, ví dụ một mạng Ethernet.
MAC - Media access control thường được dùng như là một từ đồng nghĩa với giao thức đa truy nhập (multiple access protocol), do tầng con MAC cung cấp giao thức và các cơ chế điều khiển cần thiết cho một phương pháp truy nhập kênh nhất định (channel access method). Việc này cho phép nhiều trạm kết nối tới cùng một môi trường vật lý dùng chung môi trường đó. Ví dụ về các môi trường vật lý dùng chung là bus network, ring network, hub network, mạng không dây và các liên kết điểm-tới-điểm bán song công (half-duplex).
Các ví dụ về các giao thức đa truy nhập kiểu gói tin (packet mode) dành cho các mạng nối dây đa chặng (multi-drop):
  • CSMA/CD (dùng trong Ethernet và IEEE 802.3),
  • Token ring (IEEE 802.4)
  • Token bus (IEEE 802.5)
  • Token passing (dùng trong FDDI).
Các ví dụ về các giao thức đa truy nhập có thể được sử dụng trong các mạng không dây dùng sóng radio gửi dữ liệu theo gói tin:
  • CSMA/CA
  • Slotted ALOHA
  • Dynamic TDMA
  • Reservation ALOHA (R-ALOHA).
  • CDMA
  • OFDMA
Địa chỉ MAC

Các địa chỉ MAC có chiều dài 6bytes, thường bao gồm 3 loại: Unicast: Bit I/G là bit có trọng số lớn nhất trong octet có trọng số lớn nhất được gán bằng 0. Broadcast: Là một địa chỉ tượng trưng cho tất cả các thiết bị trong mạng LAN segment ở một thờI điểm. Địa chỉ này có dạng 0xFFFF.FFFF.FFFF. Multicast: Bit I/G được gán bằng 1.
Các tài liệu IEEE chỉ ra các địa chỉ Ethernet với các bit có trọng số lớn nhất bên trái. Tuy nhiên bên trong mỗi octet, bit nằm bên trái nhất lại là bit có trọng số thấp nhất; bit nằm bên phải nhất thì được gọi là bit có trọng số lớn nhất. Nhiều tài liệu gọi dạng địa chỉ này là non-canonical. Bất chấp thuật ngữ nào được dùng, thứ tự bit bên trong mỗi octet là quan trọng để có thể hiểu được ý nghĩa của hai bit có trọng số lớn nhất trong một địa chỉ Ethernet:
The Individual/Group (I/G) bit: Nếu địa chỉ là unicast, I/G=0, nếu là multicast hay broadcast, I/G=1. The Universal/Local (U/L) bit: nếu bit này = 0, địa chỉ vendor được gán. Nếu bit U/L=1: địa chỉ này đã được người quản trị dùng và ghi đè lên giá trị do nhà sản xuất gán.
Bit I/G sẽ chỉ ra khi nào địa chỉ MAC là tượng trưng 1 một thiết bị đơn lẻ hay một nhóm các thiết bị. Bit U/L sẽ chỉ ra các địa chỉ được cấu hình cục bộ. Ví dụ, địa chỉ multicast được dùng bởi IP Multicast luôn được bắt đầu bằng 0x01005E. Giá trị hex 01 chuyển sang dạng nhị phân là 00000001, với giá trị bit most significant bằng 1, xác nhận việc sử dụng bit I/G.
Như vậy, địa chỉ MAC cho cả ba trường hợp multicast/unicast/broadcast được quyết định dựa trên ý nghĩa của vị trí một số bit trong các octet địa chỉ.
Ở cấp độ ccna, có thể bạn cần nắm thông tin là địa chỉ mac chia thành hai phần, một phần do nhà sản xuất qui định, một phần gọi là OUI, do IEEE qui định dành cho các vendor.

So sánh các giải pháp MAC

Xem trước bài này http://tongquanvienthong.blogspot.com/2012/03/truy-nhap-va-cac-giai-phap-chia-se-moi.html

MAC (tiếng Anh: Media Access Control hay Medium Access Control có nghĩa là "điều khiển truy nhập môi trường")

Aloha & Slotted Aloha
  • Đơn giản & truyền nhanh ở tải thấp
  • Chấp nhận được số lượng lớn người dùng truyền dữ liệu kiểu cụm với lưu lượng thấp
  • Độ trễ thay đổi lớn ở tải thấp
  • Hiệu suất không phụ thuộc vào a (Trễ truyền sóng / Thời gian truyền một frame)
CSMA-CD
  • Truyền nhanh và có hiệu suất cao với tích trễ băng tần thấp
  • Có thể hỗ trợ một số lượng lớn người sử dụng truyền cụm
  • Trễ thay đổi và không dự đoán trước được

Đặt chỗ
  • Truyền theo yêu cầu các dòng dữ liệu kiểu cụm hoặc liên tục
  • Hỗ trợ được số lớn người sử dụng có lưu lượng thấp với phương thức đặt chỗ S-Aloha
  • Có thể tích hợp QoS
  • Xử lý tích trễ-băng thông lớn thông qua việc trao quyền trễ 

Thăm dò
  • Tổng quát hóa của ghép kênh phân chia thời gian
  • Tạo công bằng thông qua các cơ hội truy nhập thường xuyên
  • Có thể cung cấp các giới hạn về trễ truy nhập Phẩm chất suy giảm với tích trễ-băng thông lớn

Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2012

SIM điện thoại tích hợp NFC, công nghệ thanh toán của tương lai


Hiệp hội GSM Association gồm các nhà mạng lớn trên thế giới cho biết đã có đến 45 công ty viễn thông đồng ý sẽ hỗ trợ và tích hợp kết nối NFC vào những chiếc SIM của điện thoại. Điều này có nghĩa là bất cứ điện thoại nào dù cho cao cấp hay bình dân, có hệ điều hành hay không thì đều cũng có thể sử dụng NFC. Trong số 45 công ty kể trên có cả các hãng viễn thông lớn như AT&T, Vodafone, Verizon của Mỹ và một số hãng công ty khác ở châu Á. Họ cùng có chung mục tiêu là làm cho SIM điện thoại tích hợp NFC trở nên phổ biến để nhu cầu thanh toán qua NFC trở nên thuận tiện và dễ dàng hơn.

Một khi NFC trở nên phổ biến thì các dịch vụ thanh toán điện tử tương tự như Google Wallet chắc chắn sẽ xuất hiện nhiều hơn. Việc đưa NFC vào SIM là một bước đi thông minh vì nhờ đó mà bất cứ ai có điện thoại, miễn là có gắn SIM, đều sẽ có thể dùng điện thoại để thanh toán hóa đơn qua NFC chứ không cần họ phải sử dụng các smartphone chạy iOS, Android hay BlackBerry... Tuy mang lại tiềm năng lớn như thế nhưng người to cũng không quên lo ngại việc các hacker có thể ăn cắp thông tin SIM và nhân bản SIM của người khác để sử dụng một cách trái phép.

Người ra lo rằng một khi SIM đã bị nhân bản thì người ta có thể dùng chiếc SIM đó để nghe gọi hoặc thậm chí là dùng nó để mua hàng mà người trả tiền chính là chủ nhân tội nghiệp của chiếc SIM đó. Chưa biết liệu người ta có dùng đến cơ chế xác thực 2 bước, dùng mã PIN hay một cơ chế nào khác để xác thực việc mua bán hay không, nếu không tiến hành xác thực 2 bước thì bất cứ ai cũng có thể dùng điện thoại của bạn để mua hàng một cách rất dễ dàng.

Ngoài ra, GSM Association cũng sẽ làm việc với các đối tác của mình để phát triển các ứng dụng di động có thể dùng NFC để mua vé xem hòa nhạc, làm thẻ ra vào khách sạn hoặc dùng làm thẻ NFC để kích hoạt các loại xe máy. Một số các dự án khác như tạo thẻ khuyến mãi, coupon hay thẻ thành viên dùng NFC cũng đã và đang được phát triển.




Hiện thì công nghệ NFC đã có trong 1 số dòng điện thoại cao cấp tuy nhiên với công nghệ sim tích hợp NFC thì sẽ làm cho việc thanh toán thay thế thẻ ATM, VISA .. hay thậm chí thẻ xe bus, thẻ gửi xe, chứng minh thư hay hộ chiếu điện tử trở nên phổ biến, tiện lợi hơn rất nhiều
Chúng ta đã thấy điện thoại từ 1 công cụ có dây, chuyển sang không dây di động, từ chỉ có tính năng nghe gọi giờ đây đã trở thành máy nghe nhạc, thiết bị trợ giúp cá nhân với nhiều tiện ích, lướt web tích hợp cảm biến tọa độ, gps, la bàn ... giờ lại thay thế cả thẻ thanh toán (hình thức giao dịch không cần tiền mặt), trong tương lai không biết điện thoại sẽ phát triển đến mức nào nữa đây.

CSMA/CA

Carrier Sense Multiple Access with Collision Avoidance (CSMA-CA) : đa truy cập có tránh xung đột
Để hiểu CSMA các bạn nên đọc bài viết CSMA và CSMA/CD trước.

Theo tratu.vn:
Giải thích VN: Là một giao thức điều khiển truy cập mạng giống như CSMA/CD ở chỗ mỗi nút nghe ngóng mạng và chỉ truyền dữ liệu khi rỗi. Nhưng trong CSMA/CA, các nút tránh xung đột bằng cách gửi đi một tín hiệu đặc biệt gọi là 'Yêu Cầu Gửi' để thông báo với toàn mạng về ý định gửi dữ liệu của mình, và chờ sự xác nhận trước khi thực sự gửi dữ liệu đi

Thứ Năm, 5 tháng 4, 2012

CSMA/CD

CSMA/CD là viết tắt của Carrier Sense Multiple Access with Collision Detect trong tiếng Anh, nghĩa là đa truy cập nhận biết sóng mang phát hiện xung đột. Đây là nguyên tắc hoạt động của mạng LAN. Trong mạng LAN, khi một máy tính muốn truyền một gói tin, trước tiên nó sẽ lắng nghe xem trên đường truyền có sóng mang hay không (bằng cách lắng nghe tín hiệu Carrier). Nếu không có, nó sẽ thực hiện truyền gói tin (theo frame). Sau khi truyền gói tin, nó vẫn tiếp tục lắng nghe để xem có máy nào định truyền tin hay không. Nếu không có xung đột, máy tính sẽ truyền gói tin cho đến hết. Nếu phát hiện xung đột, nó sẽ gửi broadcast một gói tin báo hiệu cho các máy trên mạng không nên gửi tin để tránh làm nhiễu đường truyền, và sẽ tiến hành gửi lại gói tin. tiến trình các bước như sau:
  1. Một thiết bị có frame cần truyền sẽ lắng nghe đường truyền cho đến khi nào đường truyền Ethernet không còn bị chiếm.
  2. Khi đường truyền Ethernet không còn bị chiếm, máy gửi bắt đầu gửi frame.
  3. Máy gửi cũng bắt đầu lắng nghe để đảm bảo rằng không có xung đột xảy ra.
  4. Nếu có xung đột, tất cả các máy trạm đã từng gửi ra frame sẽ gửi ra một tín hiệu nghẽn để đảm bảo tất cả các máy trạm đều nhận ra collision.
  5. Sau khi tín hiệu nghẽn là hoàn tất, mỗi máy gửi của của những frame bị xung đột sẽ khởi động một bộ định thờI timer và chờ hết khoản thời gian này sẽ cố gắng truyền lại. Những máy không tạo ra collision sẽ không phải chờ.
  6. Sau khi các thời gian định thời là hết, máy gửi có thể bắt đầu một lần nữa với bước 1.
Nguồn http://vi.wikipedia.org/wiki/CSMA/CD

Cái này hơn CSMA ở chỗ khi cảm nhận xong phát luôn gói tin, nếu xung đột thì mất , còn cái này phát 1 phần gói tin mà thấy xung đột thì ngừng ngay (không mất công phát toàn gói), việc ngừng ngay sẽ giảm xung đột (giảm số trạm phát đụng nhau trên đường truyền) -> hiệu quả cao hơn

Giao thức CSMA

CSMA là viết tắt của từ Carrier Sense Multiple Access : đa truy nhập cảm nhận sóng mang
So với Aloha cứ có dữ liệu là tiến hành truyền, CSMA tìm cách giảm nguy cơ gây va chạm bằng cách trước khi truyền thì cảm nhận xem có sóng mang trên đường truyền không (có tín hiệu đang phát không). Tuy nhiên thì trong lúc phát thì tín hiệu vẫn cần thời gian để đến đich, nếu có trạm nào ở khoảng từ máy phát đến máy thu mà phát (tín hiệu chưa đến nên trạm đó chưa cảm nhận được) thì vẫn có khả năng xảy ra va chạm.

Dựa theo hành động khi kênh bận thì có 3 loại CSMA
  • 1-persistent CSMA (nóng vội nhất):
    Nếu thấy kênh bận thì chờ nhưng rỗi 1 cái là truyền ngay. Độ trễ thấp nhưng hiệu quả thấp
  • Non-persistent CSMA
    Đợi một khoảng thời gian lùi, sau đó cảm nhận lại kênh. Trễ lớn nhưng hiệu suất cao
  • p-persistent CSMA
    Là loại dung hòa giữa 2 loại trên, với 1 xác suất p (0<p<1) thì dùng cái 1-persistent, nếu không thì truyền kiểu Non.

Có một số dạng CSMA cải tiến : CSMA/CD (dùng trong mạng LAN), CSMA/CA (dùng trong WLAN)

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes