Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2012

Đa truy nhập cho mạng không dây

Môi trường không dây là một môi trường thiếu ổn định so với môi trường có dây với nhiều thách thức:
  • Dễ bị lỗi
  • Vấn đế : nút ẩn nút hiện và suy hao.
Các giao thức truy nhập môi trường thì các bạn nên xem trước bài này.
Tuy nhiên ngoại trừ các phương pháp trong di động được trình bày thì các giải pháp khác đều chủ yếu thiết kế cho mạng hữu tuyến.
Nếu là một mạng LAN không dây, thì các phương pháp CSMA/CD không còn phù hợp và sinh ra một loạt giao thức mới để giải quyết các vấn đề ở trên đã nêu : MACA, MACAW, MARCH, DAMA, SMACS ...

Thứ Hai, 7 tháng 5, 2012

So sánh IPv6 và IPv4

So sánh IPv4 và IPv6:

IPv4IPv6
Địa chỉ dài 32 bitĐịa chỉ dài 128 bit
IPSec là tùy chọnIPSec được yêu cầu
Không định dạng được luồng dữ liệuĐịnh dạng được luồng dữ liệu nên hỗ trỗ QoS tốt hơn.
Sự phần mảnh được thực hiện tại các host gửi và tại router, nên khả năng thực thi của router chậm.Sự phân mảnh chỉ xảy ra tại host gửi.
Không đòi hỏi kích thước gói lớp liên kết và phải được tái hợp gói 576 byte.Lớp liên kết hỗ trợ gói 1.280 byte và tái hợp gói 1.500 byte.
Checksum header.Không checksum header.
Header có phần tùy chọn.Tất cả dữ liệu tùy chọn được chuyển vào phần header mở rộng.
ARP sử dụng frame ARP Request để phân giải địa chỉ IPv4 thành địa chỉ lớp liên kết.Frame ARP Request được thay thế bởi message Neighbor Solicitation.
IGMP (Internet Group Management Protocol) được dùng để quản lý các thành viên của mạng con cục bộ.IGMP được thay thế bởi message MLD (Multicast Listener Discovery).
ICMP Router Discovery được dùng để xác định địa chỉ của gateway mặc định tốt nhất và là tùy chọn.ICMPv4 Router Discovery được thay thế bởi message  ICMPv6 Router Discovery và Router Advertisement .
Địa chỉ broadcast để gửi lưu lượng đến tất cả các node.IPv6 không có địa chỉ broadcast, mà địa chỉ multicast đến tất cả các node (phạm Link-Local).
Phải cấu hình bằng tay hoặc thông qua giao thức DHCP cho IPv4.Cấu hình tự động, không đòi hỏi DHCP cho IPv6.
Sử dụng các mẫu tin chứa tài nguyên địa chỉ host trong DNS để ánh xạ tên host thành địa chỉ IPv4.Sử dụng các mẫu tin AAAA trong DNS để ánh xạ tên host thành địa chỉ IPv6.

Chủ Nhật, 6 tháng 5, 2012

IP version 6

IPv6 ra đời do kho địa chỉ ip version 4 hiện giờ đã cạn kiệt, cùng với sự bùng nổ của các thiết bị hiện giờ, tương lai còn khủng khiếp hơn khi các thiết bị không ngừng gia tăng, kết nối liên tục từ máy tính, điện thoại rồi sẽ đến cảm biến trên cúc áo, thiết bị trong nhà .. khi mà thiết bị đã quá rẻ và một người sở hữu nhiều cái thì với số dân trên trái đất hiện nay thì IPv4 nghe 4 tỷ thì to nhưng vẫn không thể đủ được và để truy nhập kết nối với nhau thì cần một cái để đánh dấu địa chỉ mình trong mạng, đó chính là địa chỉ ip.

IPv4 dùng 4 byte, để đánh địa chỉ, nó có thể gán địa chỉ cho max là 2^32 >4 tỷ thiết bị.
Nhiều người lầm tưởng IPv6 thì có nghĩa là nó có 6 byte, nhưng thực ra nó lớn hơn thế rất nhiều, nó dùng 128 bit để đánh địa chỉ, tức là cỡ 340 tỷ tỷ tỷ tỷ địa chỉ, đây là một con số vô cùng lớn, chắc trong một tương lai xa chúng ta cũng không thể dùng hết.

Dễ hình dung hơn, người ta ví von độ lớn của IPv6 như mặt trời so với không gian địa chi của IPv4 chỉ như một quả bóng, mà là bóng gôn nhé.

Vậy IPv6 đã đủ chưa, hiện giờ đã có thông tin về IPv9 rồi, công nghệ phát triển khiếp thật.

Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2012

So sánh mạng không dây và có dây (môi trường vô tuyến và hữu tuyến)

Về cơ bản thì mạng không dây và có dây ngay từ cái tên cũng đã thấy vấn đề khác nhau cốt lõi: một cái có dây còn một cái thì không.

Mạng có dây thì truyền tín hiệu trên cáp tín hiệu, hay gọi là dây tín hiệu cũng được, thường thì không có qui định quá chặt chẽ (mình chưa đi làm chưa biết) nhưng mà nhắc đến dây thì thường là đường truyền nhỏ, còn cáp thì gọi khi dây đó truyền dữ liệu lớn. Cáp thì cũng có nhiều loại lắm, cáp đồng trục, đôi dây xoắn, cáp quang (còn phân ra đơn mode, đa mode liên tục hay gián đoạn)... Thường giờ tốc độ cao thì người ta hay dùng cáp quang thay thế dần cho loại cáp đồng truyền thống vì nó nhẹ, rẻ, nhỏ, ít can nhiễu, tốc độ truyền gấp nhiều lần (rất nhiều lần). Nhưng nói chung đặc điểm là đường truyền tốt hơn nhiều so với mạng không dây. Tốc độ thì tùy loại nhưng nhìn chung là nhanh hơn mạng không dây.

Mạng không dây thì tín hiệu truyền qua đường "không khí" (các môi trường khác không khí như dưới nước hay lòng đất cũng có thể coi là vô tuyến nhé, cứ không cần phải kéo dây thì là không dây hết nhưng mà hầu hết ta bắt gặp là trong môi trường không gian chúng ta đang sống), không cần dây rợ lằng nhằng tuy nhiên môi trường "không khí" thì cái giá phải trả cũng cao đó là vốn là môi trường không tối ưu cho việc truyền, nhiều cái dùng chung (di động, truyền hình, vệ tinh, radio ..) và chắc chắn là ảnh hưởng đến nhau không ít thì nhiều. Tốc độ chậm hơn, các giải pháp kỹ thuật cũng đòi hỏi phức tạp hơn. Một số công nghệ hiện nay cho tốc độ rất cao, thậm chí hơn cả tốc độ mạng đời cũ (4g so với adsl chẳng hạn), tuy nhiên so sánh như thế là khập khiễng vì cần phải so sánh một cách tổng thể với nhau chứ không thể lấy 1 đứa dốt nhất lớp giỏi học thua 1 đứa giỏi nhất lớp dốt rồi kết luận lớp giỏi ngu hơn lớp dốt được. Các mạng di động hiện nay cung cấp dịch vụ không dây, nhưng từ trạm về mạng lõi thì đều có dây cả. Có mạng không cần cơ sở hạ tầng, trạm thu phát, trung tâm như ad-hoc, bluetooth chẳng hạn thì mới không dây hoàn toàn.

Có thể tổng hợp một số so sánh về hai loại mạng như sau
  • Tốc độ: có dây hơn không dây.
  • Độ ổn định: có dây cũng hơn.
  • Tính di động và tự do: bạn thích vừa đi vừa cầm điện thoại có kéo theo dây hay mobile phone ?
  • Triển khai: có dây bị hạn chế bởi không gian lắp đặt, vị trí kết nối, còn không dây thì hơn hẳn tuy nhiên cũng không phải là mọi lúc mọi nơi, thày giáo mình trên lớp có dạy về trường hợp đi trong hầm, chỉ cách vài trăm mét so với cửa hầm mà sóng mất luôn (không rõ tại sao), không dây triển khai nhanh hơn rất nhiều.
  • Chi phí đầu tư ban đầu: không dây rẻ hơn vì đỡ tiền cáp và chi phí lắp đặt, tuy nhiên về lâu về dài thì có dây hiệu quả hơn vì nói chung thiết bị không dây đắt và phức tạp hơn.
  • Khả năng mở rộng: không dây tốt hơn.

Vậy bạn dùng có dây hay không dây
Nếu điện thoại thì giờ xu hướng là điện thoại di động rồi, vì phục vụ liên lạc mọi lúc mọi nơi, điện thoại giờ cũng lắm thứ giải trí, tính năng bổ trợ công việc ghê gớm, không xa được.
Internet: thuê 1 đường có dây, khi nó cho modem thì đừng lấy mà đổi cái đấy lấy tiền cước khuyến mãi ban đầu nhiều hơn rồi mua 1 cái modem có phát wifi, thế là bạn đã có cả 2.
Truyền hình: để tránh bị gián đoạn vì thời tiết thì tốt nhất dùng đường hữu tuyến (truyền hinh cáp, iptv) thì ít bị ảnh hưởng bởi thời tiết hơn, tuy nhiên nhiều lúc cáp không tới, triển khai lằng nhằng thì truyền hình số mặt đất, số vệ tinh cũng khá phổ thông, ngoài ra còn tùy theo hãng nào, mạng nào, bạn có nhu cầu giải trí trên các kênh như thế nào .. Nhà mình dùng truyền hình cáp (analog) rồi dùng bộ chia cho mấy máy cho nó rẻ ^^, giờ dùng anten thường thu theo kiểu truyền thống thì nhà cửa nhiều, bị khuất, bị nhiễu quá mà ít kênh.

Sinh viên thì sao: kéo phim, game, tải app cắm thâu đêm vẫn phải 1 đường có dây, tuy nhiên để cơ động và nhu cầu ít thì 1 cái usb 3g cũng không phải là ý tồi, mình đã từng thử usb3g, tốc độ cũng không phải là thấp đâu nếu trong điều kiện thu tốt, nhưng vẫn thấy đáp ứng chậm và phập phù lúc nhanh lúc chậm rất ngẫu hứng.

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012

EVN Telecom đã về với Viettel

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết đã chính thức hoàn thành việc chuyển giao Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực (EVN Telecom) cho Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel).

Năm 2010, doanh thu của EVN Telecom chỉ đạt hơn 2.000 tỷ đồng và lỗ hơn 1.000 tỷ đồng.
Cụ thể, theo EVN, Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia và 5 tổng công ty điện lực đã hoàn thành ký biên bản bàn giao tài sản viễn thông cho Viettel.

EVNTelecom đã hoàn thành các công tác kiểm đếm, đối soát, thẩm tra tài chính, hoàn thiện biên bản bàn giao và đã ký biên bản bàn giao ngày 26/4/2012.

Ngoài ra, trên cơ sở kết quả bàn giao, EVN đã phối hợp với Viettel hoàn thành dự thảo biên bản bàn giao và tờ trình gửi Bộ Tài chính để ra quyết định về việc bàn giao tài sản viễn thông giữa hai tập đoàn.

Trước đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký quyết định về việc Viettel chính thức tiếp nhận EVN Telecom kể từ ngày 1/1/2012.

Việc quyết định chuyển giao EVN Telecom cho Viettel do doanh nghiệp viễn thông "nhà đèn" này nhiều năm qua hoạt động hiệu quả thấp, kinh doanh triền miên thua lỗ, nợ phải trả lớn lên tới hàng nghìn tỷ đồng.
itGate (theo VNN)

Kiến thức cơ bản về mạng không dây và một số sản phẩm không dây tiêu biểu


Tại sao lại nối mạng: Một hệ thống mạng là 1 tập hợp của các loại máy tính Desktop, Laptop và các thiết bị phần cứng khác như máy in, máy Scanner…được kết nối với nhau nhằm mụch đích cơ bản là giao tiếp và trao đổi dữ liệu. Nối mạng cũng đồng nghĩa với chia xẻ, vì nó cho phép các máy tính nối mạng có thể nói chuyện, giao tiếp với nhau, và cùng chia xẻ các nguồn tài nguyên như máy in hay các file dữ liệu. 
Lợi ích của việc nối mạng: 
Nối mạng tạo ra sự linh hoạt trong cách mà bạn làm việc cũng như sử dụng thời gian với máy tính và các thiết bị điện tử khác. Với 1 hệ thống mạng, bạn có thể:
  • Chia xẻ các kết nối tốc độ cao, băng thông rộng hoặc các kết nối Internet, cho phép tất cả mọi người đều có thể lướt Web đồng thời.
  • Chia xẻ các định dạng file, thiết lập các không gian lưu trữ chung. 
  • Tiết kiệm thời gian và tiền bạc bằng cách chia xẻ với nhau các thiết bị như máy in, máy Scanner và các thiết bị ngoại vi khác… 
So sánh giữa mạng không dây và mạng có dây 
Hiện trên thế giới đang sử dụng hai loại công nghệ mạng là : 
1/Công nghệ không dây (Wireless Technology) :
các thiết bị trong hệ thống mạng giao tiếp với nhau qua sóng Radio. 2/Công nghệ có dây (Wired Technology) : các thiết bị trong hệ thống mạng giao tiếp với nhau thông qua cáp truyền dữ liệu. 
Tại sao nên lựa chọn mạng không dây 
Mạng không dây không dùng cáp cho các kết nối, thay vào đó, chúng sử dụng sóng Radio, cũng tương tự như điện thoại không dây. Ưu thế của mạng không dây là khả năng di động và sự tự do, người dùng không bị hạn chế về không gian và vị trí kết nối. Những ưu điểm của mạng không dây bao gồm : 
  • Khả năng di động và sự tự do – cho phép kết nối từ bất kỳ đâu. 
  •  Không bị hạn chế về không gian và vị trí kết nối. 
  •  Dễ lắp đặt và triển khai. 
  • Không cần mua cáp. 
  • Tiết kiệm thời gian lắp đặt cáp. 
  • Dễ dàng mở rộng. 
 Mạng không dây hoạt động như thế nào 


Một hệ thống mạng không dây đơn giản bao gồm hai hoặc nhiều hơn các máy tính đuợc kết nối với nhau nhằm mụch đích trao đổi dữ liệu và các tài nguyên khác. Mô hình đó cũng tương tự như một hệ thống điện thoại không dây bao gồm một trạm chính cùng với nhiều các điện thoại nhánh. Nối mạng không dây hiện đang được coi là một giải pháp rất thú vị bởi bạn sẽ không gặp nhiều trở ngại như khi dùng cáp và sẽ không mất nhiều thời gian khi có nhu cầu mở rộng.  
Có hai loại mạng không dây cơ bản: 
Kiểu Ad-hoc : Mỗi máy tính trong mạng giao tiếp trực tiếp với nhau thông qua các thiết bị Card mạng không dây mà không dùng đến các thiết bị định tuyến (Wireless Router) hay thu phát không dây (Wireless Access Point). 
Kiểu Infrastructure : Các máy tính trong hệ thống mạng sử dụng một hoặc nhiều các thiết bị định tuyến hay thiết bị thu phát để thực hiện các hoạt động trao đổi dữ liệu với nhau và các hoạt động khác. 
Vài nét về các điểm Hotspot 
Hotspot là gì : 
Hotspot là một địa điểm mà tại đó có cung cấp các dịch vụ kết nối không dây và dịch vụ truy cập Internet tốc độ cao, thông qua hoạt động của các thiết bị thu phát không dây (Wireless Access Point). Nếu bạn đang ở trong một điểm Hotspot và máy tính của bạn đã có trang bị sẵn Card mạng không dây, khi đó bạn hoàn toàn có thể tham gia vào hệ thống mạng ở đó và truy cập vào Internet. Số lượng các điểm Hotspot đang tăng nhanh theo thời gian và bây giờ bạn có thể dễ dàng tìm thấy chúng ở các khu vực như Nhà hàng, Quán Cafe, Sân bay… 
Để tham gia vào một điểm Hotspot thì bạn cần có những gì : 
Đơn giản bạn chỉ cần có máy tính hoặc máy PDA có trang bị tính năng không dây. Còn nếu máy tính hoặc máy PDA của bạn chưa có tính năng đó thì truớc hết bạn cần mua thêm các loại Card mạng không dây phù hợp để lắp vào chúng. Tại thời điểm này thì phần lớn các điểm Hotspot đều sử dụng các thiết bị thu phát không dây chuẩn B (hay 802.11b), tuy nhiên xu hướng chung trong thời gian sắp tới là các thiết bị loại này sẽ được thay thế bởi các thiết bị không dây chuẩn G nhằm đáp ứng 1 tốc độ cao hơn. 
Làm thế nào để tìm thấy các điểm Hotspot : 
Bạn có thể gọi điện trực tiếp đến các nhà cung cấp dịch vụ để hỏi thăm về địa chỉ cụ thể của các điểm Hotspot của họ, hoặc bạn cũng có thể truy cập vào Website : www.wifi-zone.org để tìm hiểu về các điểm Hotspot trên toàn thế giới.
Làm thế nào để tham gia vào một Hotspot : 
Đối với các điểm Hotspot không thu phí, để tham gia vào đó bạn cần được cung cấp các thông tin về SSID của hệ thông mạng hay đơn giản là tên của hệ thống mạng. Còn đối với các điểm Hotspot thương mại, bạn cần thiết lập một Account trước khi tham gia lần đầu tiên, account này sẽ được cung cấp bởi những người chủ của điểm Hotspot đó. 
Vấn đề bảo mật tại các điểm Hotspot : 
Đối với các điểm Hotspot công cộng, vì mụch đích đơn giản hoá quá trình tham gia của người dùng nên hầu hết các tính năng bảo mật đều không được kích hoạt hoặc được dùng rất hạn chế, vì thế nếu bạn có nhu cầu sử dụng bảo mật tại những địa điểm này thì cần tìm hiểu xem điểm Hotspot mà bạn đang tham gia có hỗ trợ tính năng VPN Pass-through hay không ? 
Các chuẩn của mạng không dây 
Chuẩn 802.11b (Chuẩn B) : các thiết bị thuộc chuẩn này hoạt động ở tần số 2.4GHz và có thể truyền dữ liệu với tốc độ tối đa 11Mbps trong phạm vi từ 100 feet đến 150 feet ( từ 35 mét đến 45 mét ) 
Chuẩn 802.11a (Chuẩn A) : các thiết bị thuộc chuẩn này hoạt động ở tần số 5GHz và có thể truyền dữ liệu với tốc độ tối đa 54Mbps nhưng chỉ trong phạm vi khoảng 75 feet ( khoảng 25 mét) 
Chuẩn 802.11g (Chuẩn G) : Các thiết bị này hoạt động ở cùng tần số như các thiết bị chuẩn B, tuy nhiên chúng hỗ trợ tốc độ truyền dữ liệu nhanh gấp 5 lần so với chuẩn B với cùng một phạm vi phủ sóng. Các thiết bị chuẩn B và chuẩn G hoàn toàn tương thích với nhau, tuy nhiên cần lưu ý khi bạn trộn lẫn các thiết bị chuẩn B và chuẩn G với nhau thì các thiết bị sẽ hoạt động theo chuẩn nào có tốc độ thấp hơn. 
Về tốc độ mạng 
Tốc độ mạng liên quan đến việc các máy tính nối mạng có thể giao tiếp và trao đổi thông tin với nhau bao nhanh.
Các tốc độ của chuẩn không dây như 11 Mbps hay 54 Mbps không liên quan đến tốc độ kết nối hay tốc độ download, vì những tốc độ này được quyết định bởi Nhà cung cấp dịch vụ Internet. 
Với 1 hệ thống mạng không dây, dữ liệu được gửi qua sóng Radio nên tốc độ có thể bị ảnh hưởng bởi các tác nhân gây nhiễu hoặc các vật thể lớn. Thiết bị định tuyến không dây sẽ tự động cảm nhận cường độ tín hiệu, nếu thấy tín hiệu yếu thì nó sẽ tự động điều chỉnh xuống các mức tốc độ truyền thấp hơn (Ví dụ như từ 11 Mbps sẽ giảm xuống còn 5.5 Mbps và 2Mbps hoặc thậm chí là 1 Mbps). Dưới đây là một số điều mà người dùng cần lưu ý khi triển khai một mạng không dây để có thể thu được hiệu quả cao nhất : 
  • Nên đặt thiết bị Router không dây ở vị trí trung tâm của hệ thống mạng. 
  •  Lắp đặt sao cho các Antenna của Adapter không dây lắp cho máy tính Desktop hoặc Laptop hướng về phía Router không dây. 
  • ránh đặt Antenna ở gần tường, trừ khi đó là chủ định của bạn, ngoài ra nếu bạn muốn duy trì kết nối ngay cả khi ở bên ngoài căn nhà thì nên lắp thiết bị Router không dây ở gần cửa sổ. 
  • Trang bị thêm các thiết bị Antenna thu phát độc lập để mở rộng phạm vi phủ sóng.
Công nghệ Speedbooster và SRX 
Trong phạm vi của chuẩn G (802.11g), Linksys đã phát triển thêm một số dòng sản phẩm mang lại cho nguời dùng sự cải thiện về tốc độ và khoảng cách. Tất cả các dòng sản phẩm này đều hoạt động tương thích với các thiết bị chuẩn B và chuẩn G. 
Speedbooster : Tốc độ trao đổi dữ liệu tăng thêm 35% so với chuẩn G khi sử dụng với các thiết bị Speedbooster khác. Bạn sẽ thấy được sự khác biệt về tốc độ khi sử dụng chung với các thiết bị chuẩn G khác. 
SRX : Nhanh hơn gấp 8 lần và phạm vi phủ sóng rộng hơn gấp 3 lần so với các thiết bị chuẩn G khi được sử dụng với các thiết bị SRX khác. SRX là viết tắt của các từ Speed (tốc độ) – Range (khoảng cách) và eXpansion (mở rộng), bên cạnh đó SRX sử dụng công nghệ MIMO theo đó thông qua một số lượng lớn các Antenna thu phát trên trạm chính và các Adapter thu phát để cải thiện tốc độ và khoảng cách thu phát. 
SRX200 : Nhanh hơn gấp 6 lần và phạm vi phủ sóng rộng hơn gấp 2 lần so với chuẩn G. Các thiết bị của SRX200 hoàn toàn tương thích với các thiết bị chuẩn B, chuẩn G và SRX khác. 
Chuẩn A+G (802.11a+g) : Các thiết bị thuộc chuẩn này hoạt động đồng thời trên cả hai tần số 2.4GHz và 5Ghz. 
Các thiết bị cần thiết để triển khai một hệ thống mạng không dây 
  • Kết nối Internet tốc độ cao. 
  • Modem. 
  • Wireless Router hoặc Access Point. 
  • Wireless Network Adapter.
Các vấn đề cần lưu ý khi chọn mua các sản phẩm không dây 
Trước hết cần xác định xem máy tính của bạn đã có Card mạng không dây chưa, hầu hết các máy tính Laptop thế hệ mới đều đã được tích hợp sẵn Card mạng không dây, trong khi các máy tính Desktop thì chưa có. Tiếp theo bạn cần xác định rõ nhu cầu nối mạng của bản thân, cụ thể : 
  • Nếu bạn chỉ đơn giản muốn lướt Web và check email thì chỉ nên mua các thiết bị không dây chuẩn B.
  • Nếu bạn muốn chơi các trò Game trực tuyến hoặc làm việc với các files đa phương tiện có dung lượng lớn thì nên dùng chuẩn G, GS hoặc GX.
Các câu hỏi thường gặp và trả lời 
1/Tôi có thể thực hiện các kết nối không dây và có dây trên cùng 1 Router đựơc không? 
Trả lời : Có. Thiết bị định tuyến không dây băng thông rộng của Linksys có tích hợp sẵn 4 cổng Ethernet và hỗ trợ tối đa 32 người dùng không dây truy cập cùng lúc. 
2/Đâu là sự khác nhau giữa thiết bị thu phát không dây (Wireless Access Point) và thiết bị định tuyến không dây (Wireless Broadband Router)? 
Trả lời : Thiết bị thu phát không dây (Wireless Access Point)  dùng để kết nối với Switch hoặc thiết bị định tuyến (Wireless Router) khác cho các truy cập không dây, còn thiết bị định tuyến không dây (Wireless Access Point) vừa bao gồm cả tính năng của một Access Point bên trong, mặt khác nó còn có khả năng định tuyến cho phép chia xẻ các kết nối băng thông rộng. 
3/Làm thế nào để có thể giảm thiểu tình trạng nhiễu sóng gây ra khi sử dụng các thiết bị chuẩn B và G trong cùng 1 môi trường với các điện thoại không dây hoạt động tần số 2.4Ghz? 
Trả lời : Bạn có thể lựa chọn các cách sau đây: 
·        Thay đổi kênh truyền của điện thoại hoặc của thiết bị định tuyến không dây, để cho hai thiết bị sử dụng hai kênh truyền khác nhau. ·        Thay đổi vị trí của thiết bị định tuyến không dây, sao cho nó cách xa thiết bị điện thoại. ·        Trang bị 1 hệ thống điện thoại hoạt động ở tần số khác.
4/Router có thay thế cho Modem được không? 
Trả lời : Không. Thiết bị Router phải được kết nối với Modem Cable hoặc Modem ADSL. 
5/Làm cách nào để trang bị thêm tính năng không dây cho hệ thống mạng có dây hiện tại? 
Trả lời : Bạn cần mua 1 thiết bị thu phát không dây và kết nối nó đến thiết bị Router hiện tại của bạn. Bênh cạnh đó bạn cần mua thêm các thiết bị Card mạng không dây thích hợp cho các máy tính trong hệ thống mạng. 
6/Các thiết bị chuẩn 802.11a, 802.11b và 802.11g có thể làm việc với nhau không? 
Trả lời : Các thiết bị thuộc chuẩn 802.11a chỉ có thể làm việc với các thiết bị thuộc cùng chuẩn. Các thiết bị thuộc chuẩn 802.11b và 802.11g có thể làm việc với nhau vì hoạt động ở cùng tần số. 
7/Để có thêm các thông tin chi tiết về giải pháp và thiết bị, xin vui lòng liên hệ: 
Phòng kinh doanh Thiết bị mạng – Công ty Âu Lạc 
Địa chỉ      : Số 155 Đông Các - Đống Đa – Hà Nội. Điện thoại : (84-4) 511 9880 (06 lines) Fax           : (84-4) 511 9880 YiM           : Aulacco2@yahoo.comWebsite     : www.Aulacco.net Liên hệ      : Mr Cường
Các sản phẩm không dây tiêu biểu của Linksys  
Model 
Description 
Picture 
AG241
ADSL2 Gateway with 4-Port Switch : 
Modem ADSL tốc độ cao, tích hợp chức năng Router bên trong và 4 cổng Switch. 
  • Tích hợp tường lửa và các tính năng bảo mật khác. 

  

WAG354G
Wireless-G ADSL Home Gateway : Modem ADSL có tích hợp tính năng Wireless Access Point chuẩn 802.11g. Hỗ trợ 4 cổng switch tốc độ 10/100.
Hỗ trợ tường lửa và các tính năng bảo mật tiên tiến. 


WAP54G
Wireless-G Access Point :  Thiết bị thu phát không dây chuẩn 802.11g. Hỗ trợ các tính năng bảo mật 128-bit WPA và MAC FilteringTốc độ truyền tối đa 54 Mbps, hoàn toàn tương thích với các thiết bị chuẩn B. 

WRT54G
Wireless-G Broadband Router : Thiết bị định tuyến không dây chuẩn G, tích hợp 4 cổng switch tốc độ 10/100. Tốc độ truyền dữ liệu tối đa 54 Mbps, hoàn toàn tương thích với các thiết bị không dây chuẩn B. Hỗ trợ các tính năng bảo mật WPA, MAC Filtering và SPI Firewall. 

WRT54GS
Wireless-G Broadband Router with Speedbooster : Thiết bị định tuyến không dây chuẩn GS, tích hợp 4 cổng switch tốc độ 10/100. Tốc độ truyền tăng thêm 35% so với chuẩn G, hoàn toàn tương thích với các thiết bị chuẩn B va chuẩn G. Hỗ trợ các tính năng bảo mật WPA2, 802.1x và SPI Firewall. 

WPC54G
Wireless-G Notebook Adapter : Card mạng không dây dùng cho máy Laptop, chuẩn G, tốc độ truyền tối đa 54 Mbps. Hỗ trợ các tính năng bảo mật WPA và hoàn toàn tương thích với các thiết bị chuẩn B.  

WMP54G
Wireless-G PCI Adapter : Card mạng không dây dùng cho máy PC, chuẩn G, tốc độ truyền tối đa 54 Mps. Hỗ trợ các tính năng bảo mật WPA, hoàn toàn tương thích với các thiết bị chuẩn B. 

WUSB54G
Wireless-G USB Adapter: Card mạng không dây cắm cổng USB 2.0 dùng cho máy Laptop hoặc máy PC, chuẩn G, tốc độ truyền tối đa 54 Mbps.
Hỗ trợ tính năng bảo mật WPA, hoàn toàn tương thích với các thiết bị chuẩn B.  



Theo Quản Trị Mạng

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012

Chuyển giao

Trong thông tin di động, chuyển giao là quá trình chuyển một kết nối thoại (cuộc gọi) hoặc kết nối dữ liệu từ kênh này sang kênh khác. Cell là vùng phủ sóng của một trạm phát sóng hay một sector của một trạm phát sóng.
Chuyển giao xảy ra trong nhiều trường hợp, sau đây là một số trường hợp:
  • Thuê bao di chuyển từ cell này sang cell khác. Khi chuyển giao được thực hiện thì kết nối đó không bị kết thúc khi thuê bao di chuyển ra khỏi một cell nào đấy.
  • Dung lượng kết nối của một cell (A) đã dùng hết, thì kết nối của những thuê bao nào nằm trong vùng giao nhau của cell này với một cell khác (B) sẽ được chuyển sang cell đó (B) nhằm giảm bớt kết nối ở cell A để các thuê bao khác có thể thực hiện cuộc gọi.
Chuyển giao intra-cell là khi kết nối được chuyển từ kênh này (có thể bị nhiễu,...) sang kênh khác trong cùng một cell. Inter-cell là chuyển giao giữa các cell.
Hai loại chuyển giao cơ bản là:
  • Chuyển giao cứng: kênh của một kết nối bị ngắt trước khi kênh mới được thiết lập.
  • Chuyển giao mềm: kênh mới được thiết lập trước khi kênh cũ bị ngắt.

Chuyển giao rất quan trọng trong di động vì không có chuyển giao thì làm gì còn "di động" nữa, các điện thoại chỉ lanh quanh 1 trạm và khi di chuyển sang trạm khác thì bị đứt kết nối.
Bổ xung thêm 1 loại chuyển giao nữa là chuyển giao mềm hơn (giữa các cluster của 1 tế bào) UE được kết nối đến ít nhất là hai đoạn ô của cùng một trạm.

Ngoài ra thì người ta còn phân ra nhiều loại như
Chuyển giao trong nội hệ thống (phân nhỏ nữa thì còn có cùng tần số, khác tần số), chuyển giao giữa các hệ thống khác nhau ..

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

Hoán vị (interleaving) có tác dụng gì ?

Trên các kênh truyền vô tuyến, việc lỗi bit thường xảy ra theo từng cụm (do tác động biến đổi nhất thời nào đó của kênh truyền, ví dụ như một khoảng thời gia bị deep fading) hơn là xảy ra từng bit lỗi riêng lẻ. Nếu một cụm lỗi bit quá nhiều vượt quá khả năng sửa lỗi của mã sửa sai thì dẫn đến giải mã sai--> lỗi bit. Để khắc phục điều này trước khi truyền bên phát interleave data, trên kênh truyền có bị lỗi cụm thì sang bên thu, sau khi deinterleave, các lỗi cũng không nằm cạnh nhau thành một cụm nữa, kết hợp với khả năng sửa lỗi của mã sửa sai, giảm được bit lỗi.

Nói chung có thể hiểu là các mã sửa lỗi chỉ có thể sửa được lỗi nếu lỗi đó ít hơn 1 mức cho phép, nếu nhiều lỗi tập trung vào 1 chỗ thì không sửa được (có khi giải ra còn lỗi nhiều hơn), nên việc xáo trộn để các lỗi cụm rải rác ra nhiều nơi, mỗi chỗ gánh 1 tí thì sẽ có khả năng sửa lỗi cụm đó.

Thực ra thì não người cũng có thể coi là một hệ thống sửa sai, với văn bản nội dung bị sai ta vẫn có thể nhận dạng nếu sai ít và các chỗ sai không phải các ký tự quan trọng, còn sai nhiều thì cũng tịt, ta có thể làm 1 ví dụ như sau:
I have a __arm.
so với
I hav_ a drea_

Thì sẽ thấy nhận dạng câu I have a dream ở ví dụ 2 dễ dàng hơn.

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2012

DVB-S2 – CÔNG NGHỆ TRUYỀN DẪN VỆ TINH CỦA TƯƠNG LAI


DVB-S2 là thế hệ truyền dẫn thứ hai cho phát quảng bá vệ tinh. Sự ra đời của DVB-S2 là một bước đột phá về công nghệ so với thế hệ thứ nhất DVB-S bởi những cải tiến trong mã sửa sai mới (BCH & LPDC) và kết hợp với các kiểu điều chế và mã hoá cấp cao. Ứng dụng công nghệ DVB-S2 sẽ làm tăng đáng kể hiệu suất sử dụng băng thông trong truyền dẫn vệ tinh: từ 30% đến 131% so với DVB-S đồng thời giảm giá thành thuê transponder vệ tinh.
Bài viết này giới thiệu về công nghệ DVB-S2, điểm khác biệt giữa hai hệ thống DVB-S2 và DVB-S, tại sao nên sử dụng DVB-S2, mã sửa sai BCH & LDPC, điều chế và mã hoá cấp cao ( VCM & ACM) đồng thời phân tích hiệu quả của công nghệ DVB-S2 so với công nghệ DVB-S hiện tại.
1. Giới thiệu.

    Kỷ nguyên truyền dẫn thông tin bằng vệ tinh thực sự có hiệu quả vào những năm 80. Khi đó, truyền dẫn qua vệ tinh đã tiết kiệm băng thông và giá thành khi sử dụng các kiểu điều chế QPSK và BPSK. Những năm 90, công nghệ phát quảng bá qua vệ tinh đã phát triển rộng rãi sau khi ETSI công bố chuẩn DVB-S đầu tiên, kết hợp điều chế QPSK với mã sửa lỗi hướng truyền trong và ngoài (Viterbi và Reed-Solomon).
    Cuộc cách mạng về mã sửa lỗi kết hợp với các cấu hình điều chế mới và một loạt các đặc tính mới là nền tảng làm nên tiêu chuẩn DVB-S2. Đây là tiêu chuẩn mới nhất trong các tiêu chuẩn của ETSI về truyền dẫn thông tin vệ tinh. Kiểu điều chế này cũng đã khép lại con đường tiệm cận giới hạn về mặt lý thuyết (giới hạn shannon).
    DVB-S2 với hiệu suất sử dụng băng thông tăng từ 30% đến 131% so với DVB-S đang được kỳ vọng sẽ đem lại hiệu quả to lớn khi được ứng dụng, với khả năng truyền dẫn đồng thời nhiều dịch vụ có tốc độ lớn như truyền hình có độ phân giải cao HDTV, Internet tốc độ cao, truyền số liệu và các ứng dụng chuyên nghiệp… trên cùng một bộ phát đáp của vệ tinh mà hệ thống DVB-S trước đó khó có thể thực hiện được.

2. Công nghệ DVB-S2.

    Nhìn thoáng qua (Hình 1) thì tiêu chuẩn DVB-S2 (ETSI TR 102 376) có ít sự thay đổi đáng kể nào khi so sánh với tiêu chuẩn DVB-S (EN-301210 và EN-300421): Mã sửa sai trong Viterbi và ngoài Reed-Solomon được thay thế bằng mã sửa sai LDPC (Low-Density Parity Check) và BCH (Bose-Chaudhuri-Hocquenghem) tương ứng.



    Ngoài ra, điều chế phức tạp hơn và số lượng bit hữu ích / hertz tăng lên. Tiêu chuẩn mới cung cấp các kiểu điều chế QPSK (2 bit/hz), 8PSK (3 bit/Hz), 16APSK (4 bit/Hz) và thậm chí là 32APSK (5 bit/Hz). So sánh với kiểu điều chế QAM, các cấu hình điều chế APSK (Amplitude and Phase-Shift Keying ) cho phép việc bù dễ dàng với bộ phát đáp-transponder phi tuyến.
    Sự khác nhau chính và cũng là hiệu quả của DVB-S2 khi so sánh với DVB-S là khả năng kết hợp các dòng dữ liệu vào một sóng mang, điều chế, mã hoá  thay đổi và tương thích (VCM và ACM) và cấp bên trong dòng dữ liệu không phải MPEG (non-MPEG2).
    Sự kết hợp các dòng dữ liệu khác nhau sẽ làm tăng số lượng tín hiệu truyền tải trên một sóng mang. Trong thực tế, điều này có thể xem như việc sử dụng bộ ghép kênh (MUX), nhưng lại không phải chịu những bất lợi từ việc định lại tham chiếu  thời gian chương trình PCR và sự thay đổi thông tin dịch vụ - thông tin đặc trưng chương trình (SI-PSI).
    Chức năng điều chế và mã hoá thay đổi -VCM (Variable Coding and Modulation) cho phép xác định một cấu hình điều chế khác nhau và mức sửa lỗi cho mỗi dòng dữ liệu trên cùng một sóng mang.
    Chức năng điều chế và mã hoá tương thích - ACM (Adaptive Coding and Modulation) cho phép thay đổi động cấu hình điều chế và mức bảo vệ lỗi cho mỗi khung dữ liệu. Khi kết hợp các dòng dữ liệu với các đầu cuối thu có cơ cấu hồi tiếp, tính năng ACM đặc biệt thích hợp cho việc tối ưu băng thông cho một mạng tương tác: Các thông số truyền dẫn có thể được tối ưu cho mỗi bộ đầu cuối và các ảnh hưởng do thời tiết như là fading do mưa có thể được bù dễ dàng và an toàn.   
    DVB-S2 được ví như là một bộ công cụ cho các dịch vụ tương tác: Điều chế và mã hoá cao cấp, truyền tải bất kì dạng (format) dữ liệu nào. Mục tiêu của bộ công cụ DVB-S2 là một hệ thống đơn phục vụ cho các ứng dụng khác nhau.

2.1. Điều chế và mã sửa sai cao cấp.

a.     Điều chế: Có 4 kiểu điều chế QPSK, 8PSK, 16APSK và 32APSK (Hình 2). Tất cả đã được tối ưu để hoạt động với các transponder phi tuyến. Bộ điều chế sử dụng bộ lọc băng gốc (B.B filter) và điều chế vuông góc (Quadrature Modulation) tạo ra các dạng phổ tín hiệu và tín hiệu cao tần RF. Đây là bộ lọc dạng cosin tăng có 3 dạng phổ ứng với 3 hệ số roll-off (α): 0,20; 0,25 và 0,35. Giảm hệ số α sẽ làm tăng độ suy giảm bên ngoài kênh phi tuyến (do nhiễu ISI tăng lên), phổ tín hiệu ra sẽ “vuông” hơn.

b.     Mã sửa sai cao cấp: DVB-S2 sử dụng phương pháp mã hoá khối BCH và LDPC.
-    Kích thước khối mã hoá: 64800 bit (hoặc 16200).
-    Tỷ lệ mã sửa sai: 1/4, 1/3, 2/5, 1/2, 3/5, 2/3, 3/4, 4/5, 5/6, 8/9, 9/10.



c.     Quá trình tạo khung (Frame):
    Truyền dẫn tín hiệu được tổ chức thành các khung nối tiếp nhau. Có thể hình dung các khung này như những toa tầu chở hàng nối đuôi nhau, Trên mỗi khung (toa tầu) gồm phần mào đầu-Header (H), trong mỗi Header chứa các bit đồng bộ và báo hiệu (điều chế, mã hoá...) và khối mã hoá mang thông tin (Code block). Với ACM quá trình bảo vệ có thể thay đổi từng khung một (16APSK, 8PSK, QPSK2/3…) tuỳ theo điều kiện truyền dẫn (trời nắng, có mây mù hay mưa…).



2.2. DVB-S2 truyền tải bất cứ định dạng dữ liệu nào.

- DVB-S2 có thể tiếp nhận dòng truyền tải đơn chương trình hoặc đa chương trình, dạng MPEG-TS hay dạng generic (ví dụ như IP...).
- DVB-S2 tương thích tốt với các loại mã hoá MPEG-2, HDTV cũng như các hệ thống mã hoá mới (như H.264AVC, VC1…).
-  Mỗi dòng tín hiệu đầu vào có thể được bảo vệ bằng các cách khác nhau. Khi qua hệ thống truyền dẫn DVB-S2, tín hiệu sau giải mã đúng như ban đầu.

3. Tại sao nên sử dụng DVB-S2?

    Sử dụng tiêu chuẩn DVB-S2 hiện là hướng đi hoàn thiện trong thực tế. Hoàn thiện ở đây muốn nói đến sự tiết kiệm đáng kể về dải thông, tăng hiệu quả công suất của quá trình truyền dẫn, được thiết kế với các tính năng tối ưu và yêu cầu tỷ số C/N thấp khi thu. 

3.1. Tăng dung lượng truyền dẫn trên cùng một băng thông.

    So sánh với tiêu chuẩn DVB-S trước đây với cùng điều kiện truyền dẫn: DVB-S2 có khả năng truyền dữ liệu lớn hơn tới 30% so với DVB-S trong cùng điều kiện băng thông [1]. Hay nói cách khác một tín hiệu truyền dẫn theo tiêu chuẩn DVB-S2 yêu cầu băng thông ít hơn 30% so với khi sử dụng tiêu chuẩn DVB-S. Đặc biệt khi ứng dụng điều chế, mã hoá VCM và ACM hiệu suất sử dụng băng thông tăng tương ứng 66% và 131% [4]. Điều này có nghĩa là giá thành thuê transponder sẽ thấp hơn.

3.2. Tăng hiệu quả công suất của quá trình truyền dẫn. 

    Sử dụng DVB-S2 còn làm tăng hiệu quả công suất của quá trình truyền dẫn. Trong vùng phủ sóng, một tín hiệu DVB-S2  yêu cầu thu được ở mức thấp hơn khoảng 2.5 dB so với một tín hiệu DVB-S trong cùng điều kiện bảo vệ lỗi. Ngoài ra, DVB-S2 còn có thể tương thích được bất kì đặc tính transponder vệ tinh với sự khác nhau lớn của các tần số phổ (từ 0.5 đến 4.5 bit/s trên một đơn vị băng thông) và yêu cầu về tỷ số C/N kết hợp (từ -2dB đến +16dB).
    Khi DVB-S2 được ứng dụng với các ứng dụng điểm-điểm như IP unicasting, gain của tín hiệu DVB-S2 còn lớn hơn DVB-S. Chức năng điều chế và mã hoá thay đổi (VCM) cho phép thực hiện điều chế và mức bảo vệ lỗi khác nhau để sử dụng hoặc thay đổi trên cơ sở từng frame một. Chức năng này còn có thể kết hợp với việc sử dụng kênh đường về (return channel) để đạt được điều chế mã hoá tương thích khoá vòng (closed-loop).
    Vì vậy các thông số truyền dẫn được tối ưu cho mỗi thuê bao riêng biệt phụ thuộc vào điều kiện đường truyền.    
    ACM cho phép sử dụng lại từ 4 đến 8 dB phần công suất thường dùng để dự phòng cho suy hao do mưa (clear sky margins) trong các truyền dẫn thông tin vệ tinh thông thường DVB-S. Do đó vùng phủ sóng vệ tinh tăng gấp 2 hoặc 3 lần dẫn tới giá thành dịch vụ giảm đột ngột.

3.3. DVB-S2 được thiết kế với các tính năng tối ưu.

    DVB-S2 đã được tối ưu cho các ứng dụng vệ tinh băng rộng như:

-  Các dịch vụ quảng bá: Truyền dẫn các chương trình SDTV hoặc HDTV.
- Các dịch vụ tương tác bao gồm cả truy nhập internet.
- Các ứng dụng chuyên nghiệp: phân phối tín hiệu truyền hình số tới các trạm phát hình số mặt đất, truyền số liệu và các ứng dụng chuyên nghiệp khác (DSNG, Internet Truncking, Cable Feeds…).

    DVB-S2 không bị hạn chế với kiểu mã hoá video và audio MPEG-2 mà có thể tương thích với các kiểu mã hoá MPEG-2, MPEG-4 và HDTV. Tiêu chuẩn này cũng mềm dẻo hơn khi chấp nhận bất kì dạng đầu vào, bao gồm dòng bit liên tục, dòng truyền tải MPEG đơn hoặc đa chương trình, IP hay ATM. Đặc tính này cho phép các dòng dữ liệu khác và các cấu hình dữ liệu trong tương lai có thể sử dụng được với DVB-S2 mà không cần tới một tiêu chuẩn mới.

3.4. Yêu cầu về tỷ số C/N thấp.

    Các mode truyền dẫn của DVB-S2 đòi hỏi tỷ số C/N khi thu thấp. Kết quả đạt được bởi mô phỏng máy tính trên kênh nhiễu trắng (Hình 4).



    Mối liên hệ giữa dung lượng kênh và băng thông của các kênh nhiễu trắng được xác định bởi công thức nổi tiếng do Shannon tìm ra, đó là:
    C  = W log2(1 + P/N)
    Se = C/W
    Trong đó:
    Se : Hiệu quả phổ (bit/s/Hz).
    C : là dung lượng kênh (bit/giây).
    W: là băng thông của kênh (Hz).
     P : là công suất máy phát (w).
     N: là công suất nhiễu (w).
    So sánh DVB-S2 với DVB-S chúng ta có thể thấy độ lợi (gain) dung lượng tốc độ bit của tín hiệu DVB-S2 đạt tới 25-35 % so với DVB-S (cùng tỷ số C/N và tốc độ symbol) tuỳ thuộc vào mode truyền dẫn và ứng dụng. DVB-S2 có tính linh hoạt rất lớn, nó có thể tương thích với bất kì đặc tính của transponder nào:  Hiệu suất phổ có thể đạt từ 0.5 đến 4.5 bit/s/Hz, C/N trong khoảng từ -2 đến +16 dB trong môi trường có nhiễu trắng.
    Nhìn trên hình 4, chúng ta thấy DVB-S2 chỉ còn cách đường giới hạn Shannon từ 0.7 đên 1 dB, điều này có nghĩa rằng với DVB-S2“Từ nay về sau, chúng ta sẽ không bao giờ phải thiết kế một hệ thống khác cho phát quảng bá vệ tinh” [2].

4. Mã sửa sai BCH & LDPC.

    Mã sửa sai kiểm tra độ ưu tiên cường độ thấp LDPC (low-density parity check code) là một lớp các mã khối tuyến tính tương ứng là một ma trận kiểm tra độ ưu tiên H. Ma trận H chỉ gồm các số 0 và 1 nằm rải rác. Điều đó có nghĩa rằng cường độ của các số 1 trong ma trận này rất thấp. Việc mã hoá được thực hiện bằng các phương trình biến đổi từ ma trận H để tạo ra các bit kiểm tra độ ưu tiên. Việc giải mã được thiết lập bằng cách sử dụng “các đầu vào mềm” (soft-inputs) kết hợp với các phương trình này để tạo ra các ước lượng mới cho các giá trị thông tin đã được gửi. Mã LDPC có thể loại trừ được các tầng lỗi. Để xác định được tầng lỗi, một mã phía ngoài (mã ngoại) được thêm vào trong công nghệ LDPC, đó là mã BCH. Mã ngoại BCH có hiệu quả với tầng lỗi thấp. Vì vậy, tổ chức DVB đã chọn phương pháp mã ngoại BCH và mã nội LDPC là  mã sửa sai của tiêu chuẩn DVB-S2.



5. Điều chế và mã hoá thay đổi VCM.

    Một đặc tính nổi bật của công nghệ DVB-S2  là các dịch vụ khác nhau có thể phát trên cùng một sóng mang. Mỗi dịch vụ vẫn giữ cấu hình điều chế và tỷ lệ mã sửa sai riêng. Đây là một kiểu ghép kênh trên lớp vật lý được gọi là điều chế và mã hoá thay đổi – VCM (Variable Coding and Modulation). VCM thực sự phát huy hiệu quả khi các dịch vụ khác nhau không cần tỷ lệ mã sửa sai giống nhau (chẳng hạn có thể chấp nhận mất một kênh thứ hai trong trường hợp fading do mưa) hoặc các dịch vụ khác nhau được chỉ định cho các trạm khác nhau trong những điều kiện thu thông thường khác nhau. 

6. Điều chế và mã hoá tương thích ACM.

    Hiện nay các dịch vụ DVB IP/Unicast cung cấp bởi vệ tinh sử dụng tiêu chuẩn DVB-S cho đường truyền dẫn. DVB-S được phát triển cho các ứng dụng quảng bá ở đó quá trình bảo vệ tín hiệu khi xuyên qua các lớp vật lý của bầu khí quyển đối với tất cả các dịch vụ là hằng số và nó không đổi suốt thời gian truyền dẫn (quá trình tối ưu đường truyền dẫn chỉ thực hiện cho trường hợp xấu nhất: dịch vụ tồi nhất, phút tồi nhất và vị trí tồi nhất).
    DVB-S2 sử dụng công nghệ ACM (Adaptive Coding and Modulation) cho phép điều chế và mã hoá sửa lỗi thích nghi tuỳ thuộc vào các điều kiện truyền dẫn: bầu trời trong xanh hay mưa, chảo thu nằm ở trung tâm hay ở mép của búp sóng (beam) phát từ vệ tinh...



    Mỗi đầu cuối DVB-S2 có thể hoạt động với một ngưỡng (margin) C/N rất thấp vì vậy làm tăng số lượng chương trình trên cùng một băng thông của vệ tinh.



    Hệ số khuếch đại (gain) của các bộ phát đáp trên vệ tinh ứng dụng ACM sẽ tăng lên khi tần số tăng (băng C, Ku và Ka). Do đó băng tần Ku và Ka thích hợp hơn cả với ACM. Băng Ka ít chật trội hơn vì thế nên sử dụng ACM.
    DVB-S2 thực hiện quá trình truyền dẫn thích nghi này với từng người sử dụng độc lập và chỉ với các dịch vụ điểm-điểm (hình 8). Tín hiệu được đưa vào điều chế ACM ở phía phát, truyền dẫn qua vệ tinh bằng DVB-S2.



    Tại phía thu, sau  giải điều chế có máy đo tỷ số C/N+I và truyền tín hiệu đo này về trung tâm điều khiển tốc độ bit để chuyển đổi kiểu truyền dẫn đường xuống với mức bảo vệ thấp (8PSK, FEC 5/6) khi trời nắng không có mây hoặc mức bảo vệ cao (QPSK, FEC 1/2) khi trời nhiều mây có mưa.

7. Hiệu quả của công nghệ DVB-S2 so với DVB-S.

    Để thấy được hiệu quả của công nghệ DVB-S2 so với DVB-S, ta xét ví dụ so sánh về số lượng các chương trình SDTV và HDTV được truyền dẫn bằng 2 công nghệ DVB-S và DVB-S2 trong cùng điều kiện công suất và băng thông vệ tinh (transponder 36 MHz): Chảo thu 60 cm; trường hợp thứ nhất sử dụng nén MPEG-2, tốc độ nén video là 4.4 Mbit/s với chương trình SDTV và 18 Mbit/s với chương trình HDTV; trường hợp thứ hai sử dụng nén video cao cấp Advanced Video Coding (AVC), tốc độ nén với chương trình SDTV là 2.2 Mbit/s và 9 Mbit/s với chương trình HDTV.
    Yêu cầu về tỷ số C/N của hai hệ thống DVB-S và DVB-S2 là bằng nhau trong việc khai thác các mode truyền dẫn khác nhau và trong quá trình vi chỉnh hệ số roll-off, tốc độ symbol của hệ thống DVB-S2. Kết quả kiểm chứng cho thấy độ lợi về dung lượng của hệ thống DVB-S2 so với DVB-S là khoảng 30 %. Hơn nữa bằng việc kết hợp hệ thống DVB-S2 với mã hoá AVC (H.264/AVC hoặc VC1…), mỗi transponder 36Mhz của vệ tinh có thể truyền dẫn 21-26 kênh SDTV, hoặc 5-6 chương trình HDTV trên một Transponder. điều này sẽ làm giảm giá thành thuê trên một kênh của vệ tinh.



8. Kết luận.

    DVB-S2 là tiêu chuẩn mới nhất trong hệ thống tiêu chuẩn DVB cho các ứng dụng vệ tinh băng rộng, với hiệu suất sử dụng băng thông tăng từ 30% đến 131% so với công nghệ DVB-S hiện nay. Công nghệ này thực sự là bộ công cụ hữu hiệu cho các dịch vụ tương tác qua vệ tinh.
    Tổ chức DVB không cho rằng DVB-S2 sẽ thay thế DVB-S trong một thời gian ngắn trong lĩnh vực quảng bá truyền hình thông thường. Hàng triệu bộ giải mã DVB-S đang hoạt động tin cậy và đóng góp vào những thành công của thương mại vệ tinh số trên toàn cầu. Các ứng dụng mới đã được dự tính phát qua vệ tinh như truyền dẫn HDTV và phân phối các dịch vụ dựa trên nền IP sẽ thực hiện hiệu quả dựa trên hệ thống DVB-S2.     Việc kết hợp DVB-S2 và cấu hình mã hoá video và audio mới (ví dụ như H.264/AVC/VC-9) có thể phát 21-26 chương trình SDTV hoặc 5-6 chương trình HDTV trên một transponder 36Mhz. Trong các ứng dụng truyền dẫn chuyên nghiệp, DVB-S2  có khả năng cung cấp điều chế và mã hoá tương thích (ACM), tính năng này có hiệu quả lớn với các dịch vụ điểm-điểm như là các trạm DSNG nhỏ. Trong các ứng dụng mới này, hệ thống DVB-S2 sẽ làm được những điều mà hệ thống DVB-S không thể làm được. Hiện nay, DVB-S2 đang được ứng dụng phát thử nghiệm truyền hình có độ phân giải cao HDTV tại Châu Âu trên 2 vệ tinh ASTRA và EUTELSAT. Theo kế hoạch trong World Cup 2006 diễn ra tại Đức và Thế vận hội OLYMPIC 2008 diễn ra tại Trung Quốc các chương trình thi đấu tại các đại hội này sẽ được truyền dẫn bằng HDTV tại Châu Âu sử dụng công nghệ DVB-S2.

Thứ Hai, 30 tháng 4, 2012

FOMA

FOMA (viết tắt của Freedom of Mobile Multimedia Access) là thương hiệu của dịch vụ viễn thông 3G dựa trên công nghệ W-CDMA đang được phát triển bởi nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động Nhật Bản NTT DoCoMo. Nó được xây dựng theo Hệ thống viễn thông di động toàn cầu (UMTS) và là dịch vụ điện thoại di động mang tính thương mại đầu tiên trên thế giới ứng dụng truyền thông di động 3G.
NTT DoCoMo cũng cung cấp dịch vụ HSPA gọi là FOMA High-Speed (Nhật: FOMAハイスピード?), trong đó tốc độ đường truyền tải xuống lên đến 7,2 Mbit/giây tốc độ tải lên lên đến 5,7 Mbit/giây

Trước đây mình cứ nhầm là HSPA ( gồm HSDPA và HSUPA) chỉ hỗ trợ cho WCDMA UMTS, giờ mới biết FOMA cũng được hỗ trợ

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes