Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Chủ Nhật, 13 tháng 5, 2012

Giới thiệu Internet trên mạng truyền hình cáp

Chúng ta đã biết trước đây, khách hàng thuê bao các kênh truyền hình qua cáp chỉ có được một dịch vụ duy nhất là xem các kênh truyền hình cáp (cable) nhưng nay mọi chuyện đã khác hoàn toàn vì ngoài truyền hình, ta có thể sử dụng dịch vụ Internet trên chính các hệ thống cáp đồng trục (Coaxial Network), hệ thống cáp quang (Optical Fiber ) cũng như hệ thống cáp lai giữa cáp đồng trục và cáp quang HFC (Hibrid Fiber Coaxial ). Ta có thể lướt web và sử dụng nhiều dịch vụ khác trên nền Internet với tốc độ rất cao. Với sự kết hợp giữa cáp quang và cáp đồng trục, mạng truyền hình cáp hữu tuyến đáp ứng các yêu cầu về băng thông rộng với tốc độ cao. Với dịch vụ này, thay vì phải kéo đường dây điện thoại, khách hàng chỉ cần lắp đặt cable modem chuyên dụng vào đường cáp của truyền hình CATV có thể vừa xem các kênh truyền hình cáp vừa truy nhập Internet tốc độ cao.
Chúng ta có thể hiểu Internet trên mạng truyền hình cáp là quá trình truyền dẫn tín hiệu Internet từ nhà cung cấp dịch vụ Internet đến người tiêu dùng, sử dụng chung đường dây với mạng truyền hình cáp. Điều này được thực hiện thông qua thiết bị CMTS(Thiết bị đầu cuối modem cáp), nó chuyển đổi dữ liệu từ giao thức mạng thành tín hiệu số để truyền đi trên mạng cáp và sau đó tín hiệu được giải điều chế nhờ modem cáp phía khách hàng. Mỗi CMTS cung cấp một kênh dữ liệu tải xuống 42Mbps (với công nghệ điều chế QAM 64 và 56Mbps với công nghệ QAM 256) được chia sẻ cho khoảng 50 đến 1000 khách hàng được phục vụ bởi một nốt quang hoặc một nhóm nốt. Băng thông tải lên khoảng 3-36 Mbps.
Dịch vụ Internet trên truyền hình cáp có nhiều gói cước khác nhau phục vụ theo nhu cầu của các hộ gia đình, văn phòng, doanh nghiệp và các đại lý Internet.
Dịch vụ Internet trên truyền hình cáp có một số ưu điểm sau:
- Truy cập Internet 24/24 h, và chỉ phải trả tiền theo lưu lượng sử dụng  (với thuê bao tháng cực rẻ)
- Có nhiều gói giá cước đáp ứng mọi yêu cầu sử dụng của khách hàng. Đặc biệt có gói cước cực rẻ dành cho các hộ gia đình.
- Không bị mất line điện thoại, không phải trả cước phí điện thoại
- Hệ thống cáp mới, chất lượng tốt với băng thông kết nối lớn
- Thời gian lắp đặt nhanh chóng
 

Nói chung thì đây là dịch vụ internet tương tự adsl nhưng tận dụng cơ sở hạ tầng của truyền hình cáp và giá cả cũng tương đương, nhưng trong thực tế mấy năm gần đây thì cái này không phổ biến bằng adsl (dùng cơ sở hạ tầng của điện thoại), modem thì chắc chắn không phổ biến bằng rồi, mấy kiểu như modem tích hợp wifi thì không thấy được nhắc tới. 
Hiện bên CMC triển khai một dịch vụ tương tự thế này chung cho truyền hình cáp và internet nhưng mà cơ sở hạ tầng là cáp quang.

Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2012

Cáp quang


Budowa swiatlowodu-8 zyl.svg
Cáp quang là một loại cáp viễn thông làm bằng thủy tinh hoặc nhựa, sử dụng ánh sáng để truyền tín hiệu.
Cáp quang dài, mỏng thành phần của thủy tinh trong suốt bằng đường kính của một sợi tóc. Chúng được sắp xếp trong bó được gọi là cáp quang và được sử dụng để truyền tín hiệu trong khoảng cách rất xa. Không giống như cáp đồng truyền tín hiệu bằng điện, cáp quang ít bị nhiễu, tốc độ cao (đây là tốc độ truyền dữ liệu, phân biệt với tốc độ tín hiệu) và truyền xa hơn. 

Cấu tạo
Cáp quang có cấu tạo gồm dây dẫn trung tâm là sợi thủy tinh hoặc plastic đã được tinh chế nhằm cho phép truyền đi tối đa các tín hiệu ánh sáng. Sợi quang được tráng một lớp lót nhằm phản chiếu tốt các tín hiệu.
Cáp quang gồm các phần sau:
  • Core: Trung tâm phản chiếu của sợi quang nơi ánh sáng đi
  • Cladding: Vật chất quang bên ngoài bao bọc lõi mà phản xạ ánh sáng trở lại vào lõi.
  • Buffer coating: Lớp phủ dẻo bên ngoài bảo vệ sợi không bị hỏng và ẩm ướt
  • Jacket: Hàng trăm hay hàng ngàn sợi quang được đặt trong bó gọi là Cáp quang. Những bó này được bảo vệ bởi lớp phủ bên ngoài của cáp được gọi là jacket. 
Phân loại

    Phân loại Cáp quang: Gồm hai loại chính: 
    Multimode (đa mode)
    • Multimode stepped index (chiết xuất bước): Lõi lớn (100 micron), các tia tạo xung ánh sáng có thể đi theo nhiều đường khác nhau trong lõi: thẳng, zig-zag… tại điểm đến sẽ nhận các chùm tia riêng lẻ, vì vậy xung dễ bị méo dạng.
    • Multimode graded index (chiết xuất liên tục): Lõi có chỉ số khúc xạ giảm dần từ trong ra ngoài cladding. Các tia gần trục truyền chậm hơn các tia gần cladding. Các tia theo đường cong thay vì zig-zag. Các chùm tia tại điểm hội tụ, vì vậy xung ít bị méo dạng. 
    Single mode (đơn mode)Lõi nhỏ (8 mocron hay nhỏ hơn), hệ số thay đổi khúc xạ thay đổi từ lõi ra cladding ít hơn multimode. Các tia truyền theo phương song song trục. Xung nhận được hội tụ tốt, ít méo dạng. 

    Đặc điểm
    • Phát: Một điốt phát sáng (LED) hoặc laser truyền dữ liệu xung ánh sáng vào cáp quang.
    • Nhận: sử dụng cảm ứng quang chuyển xung ánh sáng ngược thành data.
    • Cáp quang chỉ truyền sóng ánh sáng (không truyền tín hiệu điện) nên nhanh, không bị nhiễu và bị nghe trộm.
    • Độ suy dần thấp hơn các loại cáp đồng nên có thể tải các tín hiệu đi xa hàng ngàn km.
    • Cài đặt đòi hỏi phải có chuyên môn nhất định
    • Cáp quang và các thiết bị đi kèm rất đắt tiền so với các loại cáp đồng 

    Ứng dụng 
    Multimode
    Sử dụng cho truyền tải tín hiệu trong khoảng cách ngắn, bao gồm:
    • Step index: dùng cho khoảng cách ngắn, phổ biến trong các đèn soi trong
    • Graded index: thường dùng trong các mạng LAN

    Single mode

    Dùng cho khoảng cách xa hàng nghìn km, phổ biến trong các mạng điện thoại, mạng truyền hình cáp.đường kính 8um,truyền xa hàng trăm km mà không cần khuếch đại

    Ưu điểm

    • Mỏng hơn - Cáp quang được thiết kế có đường kính nhỏ hơn cáp đồng.
    • Dung lượng tải cao hơn - Bởi vì sợi quang mỏng hơn cáp đồng, nhiều sợi quang có thể được bó vào với đường kính đã cho hơn cáp đồng. Điều này cho phép nhiều kênh đi qua cáp của bạn.
    • Suy giảm tín hiệu ít - Tín hiệu bị mất trong cáp quang ít hơn trong cáp đồng.
    • Tín hiệu ánh sáng - Không giống tín hiệu điện trong cáp đồng, tín hiệu ánh sáng từ sợi quang không bị nhiễu với những sợi khác trong cùng cáp. Điều này làm cho chất lượng tín hiệu tốt hơn.
    • Sử dụng điện nguồn ít hơn - Bởi vì tín hiệu trong cáp quang giảm ít, máy phát có thể sử dụng nguồn thấp hơn thay vì máy phát với điện thế cao được dùng trong cáp đồng.
    • Tín hiệu số - Cáp quang lý tưởng thích hợp để tải thông tin dạng số mà đặc biệt hữu dụng trong mạng máy tính.
    • Không cháy - Vì không có điện xuyên qua Cáp quang, vì vậy không có nguy cơ hỏa hạn xảy ra.

    Nhược điểm

    • Nối cáp khó khăn, dây cáp dẫn càng thẳng càng tốt.
    • Chi phí - Chi phí hàn nối và thiết bị đầu cuối cao hơn so với cáp đồng.

    Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2012

    Truyền tin bằng ánh sáng thường

    Một buổi hòa nhạc giờ đây không còn đồng nghĩa với sự ầm ĩ. Công nghệ đã cho phép như vậy. Chỉ cần những bóng đèn LED chiếu ánh sáng thường và một bộ giải mã gồm 1 sensor quang nho nhỏ gắn trên mỗi headphone là bạn có thể thưởng thức một buổi hòa nhạc mà không nhất thiết phải làm ảnh hưởng đến những người xung quanh.
    Bạn cần cài đặt bổ trợ Adobe Flash để xem nội dung này trên trình duyệt.
     
    Nhưng không chỉ có như vậy, công nghệ truyền tin không dây này còn hứa hẹn nhiều ứng dụng hơn thế...
    Một buổi trình diễn phương pháp truyền tin bằng áng sáng thường
    Có thể bạn đã biết đến các phương thức truyền tín hiệu bằng ánh sáng hồng ngoại (ví dụ như trong các remote control, cổng IR trên laptop của bạn...) hay ánh sáng laser (ví dụ như trong các hệ thống thông tin dùng cáp quang), hoặc có thể bạn đã quen với khái niệm dùng sóng vô tuyến để truyền tin, nhưng dùng ánh sáng thường để truyền tin thì chắc chưa có nhiều người biết. Không hề gây ra các vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe con người khi làm việc với công suất cao, truyền tin bằng ánh sáng thường (visible light communciation) đang là một ứng cử viên sáng giá thay thế cho hệ thống thông tin không dây trong nhà.
    Thực ra ý tưởng về photophone hay các cỗ máy truyền tin bằng ánh sáng đã được một cái tên rất nổi tiếng là Alexander Graham Bell đưa ra vào tháng 6 năm 1880. Tuy nhiên do độ nhiễu quá lớn,cộng với sự phụ thuộc quá chặt chẽ vào thời tiết mà cỗ máy này chưa thực sự chiếm được sự quan tâm đúng mức của cộng đồng khoa học lúc bấy giờ.
    Nguyên lý hoạt động của Photophone do Bell phát minh vào năm 1880
    Gần đây, với việc phát minh ra các bóng đèn sử dụng LED và đưa chúng vào cuộc sống, các nhà khoa học Nhật Bản đã giải quyết được một lúc 2 vấn đề : Tiết kiệm năng lượng trong chiếu sáng và tạo ra các loại bóng đèn có khả năng chớp tắt ở tần số cao dùng trong phương thức truyền tin này.
    Đèn chiếu sáng dùng LED
    Sẽ rất ngạc nhiên nếu để ý rằng băng thông của ánh sáng thường lên tới 300 THz (450 THz - 750 THz). So sánh với băng thông của phương thức truyền tin vô tuyến hiện nay là khoảng 300 GHz ta mới thấy tiềm năng của phương thức truyền tin này là rất lớn.
    Hãy nghĩ đến các ứng dụng trong nhà với sự kết hợp giữa bóng đèn bàn dùng LED, PLC (truyền tin trên đường điện). Căn nhà bạn sẽ được hỗ trợ không dây một cách hoàn hảo trong tương lai gần. Lúc ấy bạn sẽ chỉ việc đặt laptop dưới ngọn đèn bàn và truy cập vào internet. Một số ứng dụng quan trọng khác là trong hệ thống giao thông thông minh ITS (Intelligent Transport System) nơi VLC có thể thực hiện các chức năng hỗ trợ việc thu vé cầu phà ngay tại các trụ đèn giao thông hay trợ giúp thông tin cho người đi bộ trong các bục thông tin đặt trên vỉa hè. Trong các môi trường mà việc truyền sóng vô tuyến là rất hạn chế như bệnh viện, hay trong ngành hàng không thì vlc tỏ ra có rất nhiều ưu thế.
    Tuy nhiên hạn chế lớn nhất hiện nay là phải xây dựng được một hệ thống chuẩn quốc tế của công nghệ này.
    Visible light communication được nghiên cứu và phát triển bởi Nakagawa lab, Keio University, Nhật Bản.

    Thứ Năm, 10 tháng 5, 2012

    Hiện tượng gần xa trong mạng không dây

    Hiệu ứng xa gần (near-far effect) được nhắc đến chủ yếu trong các hệ thống CDMA, trong đó máy di động ở gần trạm gốc nếu không được điều chỉnh giảm công suất phát sẽ "át" các máy ở xa, làm cho nhiễu đa truy nhập MAI (Multiple Access Interference) trở nên lớn đến mức không chịu được đối với các máy di động ở xa. Điều này làm giảm rất mạnh số người sử dụng đồng thời trong cell.

    Thứ Tư, 9 tháng 5, 2012

    Hiện tượng nút ẩn và nút hiện

    Hiện tượng nút ẩn
    Giả sử có 3 trạm (cũng có thể là máy, thiết bị xách tay hoặc cảm biến nhỏ tí ti):
    A - B - C
    A có thể phát hiện được B nhưng không phát hiện được C (ngoài vùng phủ sóng), tương tự C cũng không phát hiện được A.

    A đang gửi dữ liệu cho B, C cũng muốn gửi, đầu tiên nó cảm nhận nhưng vì không thấy A (nút ẩn) nên nó cứ truyền -> va chạm mà không biết (nếu dùng các phương pháp trong mạng có dây).

    Hiện tượng nút hiện
    Giả sử có 4 trạm, vùng vủ sóng mỗi trạm cũng như trên, chỉ đến được một trạm bên cạnh
    A - B - C - D

    B đang gửi cho A, C muốn gửi cho D, C phải chờ vì môi trường đang "bận", nhưng thực sự thì C có truyền được đến A đâu, nên vẫn có thể truyền đến D mà không bị làm sao hết -> phí phạm. C là nút hiện của B.

    Thứ Ba, 8 tháng 5, 2012

    Đa truy nhập cho mạng không dây

    Môi trường không dây là một môi trường thiếu ổn định so với môi trường có dây với nhiều thách thức:
    • Dễ bị lỗi
    • Vấn đế : nút ẩn nút hiện và suy hao.
    Các giao thức truy nhập môi trường thì các bạn nên xem trước bài này.
    Tuy nhiên ngoại trừ các phương pháp trong di động được trình bày thì các giải pháp khác đều chủ yếu thiết kế cho mạng hữu tuyến.
    Nếu là một mạng LAN không dây, thì các phương pháp CSMA/CD không còn phù hợp và sinh ra một loạt giao thức mới để giải quyết các vấn đề ở trên đã nêu : MACA, MACAW, MARCH, DAMA, SMACS ...

    Thứ Hai, 7 tháng 5, 2012

    So sánh IPv6 và IPv4

    So sánh IPv4 và IPv6:

    IPv4IPv6
    Địa chỉ dài 32 bitĐịa chỉ dài 128 bit
    IPSec là tùy chọnIPSec được yêu cầu
    Không định dạng được luồng dữ liệuĐịnh dạng được luồng dữ liệu nên hỗ trỗ QoS tốt hơn.
    Sự phần mảnh được thực hiện tại các host gửi và tại router, nên khả năng thực thi của router chậm.Sự phân mảnh chỉ xảy ra tại host gửi.
    Không đòi hỏi kích thước gói lớp liên kết và phải được tái hợp gói 576 byte.Lớp liên kết hỗ trợ gói 1.280 byte và tái hợp gói 1.500 byte.
    Checksum header.Không checksum header.
    Header có phần tùy chọn.Tất cả dữ liệu tùy chọn được chuyển vào phần header mở rộng.
    ARP sử dụng frame ARP Request để phân giải địa chỉ IPv4 thành địa chỉ lớp liên kết.Frame ARP Request được thay thế bởi message Neighbor Solicitation.
    IGMP (Internet Group Management Protocol) được dùng để quản lý các thành viên của mạng con cục bộ.IGMP được thay thế bởi message MLD (Multicast Listener Discovery).
    ICMP Router Discovery được dùng để xác định địa chỉ của gateway mặc định tốt nhất và là tùy chọn.ICMPv4 Router Discovery được thay thế bởi message  ICMPv6 Router Discovery và Router Advertisement .
    Địa chỉ broadcast để gửi lưu lượng đến tất cả các node.IPv6 không có địa chỉ broadcast, mà địa chỉ multicast đến tất cả các node (phạm Link-Local).
    Phải cấu hình bằng tay hoặc thông qua giao thức DHCP cho IPv4.Cấu hình tự động, không đòi hỏi DHCP cho IPv6.
    Sử dụng các mẫu tin chứa tài nguyên địa chỉ host trong DNS để ánh xạ tên host thành địa chỉ IPv4.Sử dụng các mẫu tin AAAA trong DNS để ánh xạ tên host thành địa chỉ IPv6.

    Chủ Nhật, 6 tháng 5, 2012

    IP version 6

    IPv6 ra đời do kho địa chỉ ip version 4 hiện giờ đã cạn kiệt, cùng với sự bùng nổ của các thiết bị hiện giờ, tương lai còn khủng khiếp hơn khi các thiết bị không ngừng gia tăng, kết nối liên tục từ máy tính, điện thoại rồi sẽ đến cảm biến trên cúc áo, thiết bị trong nhà .. khi mà thiết bị đã quá rẻ và một người sở hữu nhiều cái thì với số dân trên trái đất hiện nay thì IPv4 nghe 4 tỷ thì to nhưng vẫn không thể đủ được và để truy nhập kết nối với nhau thì cần một cái để đánh dấu địa chỉ mình trong mạng, đó chính là địa chỉ ip.

    IPv4 dùng 4 byte, để đánh địa chỉ, nó có thể gán địa chỉ cho max là 2^32 >4 tỷ thiết bị.
    Nhiều người lầm tưởng IPv6 thì có nghĩa là nó có 6 byte, nhưng thực ra nó lớn hơn thế rất nhiều, nó dùng 128 bit để đánh địa chỉ, tức là cỡ 340 tỷ tỷ tỷ tỷ địa chỉ, đây là một con số vô cùng lớn, chắc trong một tương lai xa chúng ta cũng không thể dùng hết.

    Dễ hình dung hơn, người ta ví von độ lớn của IPv6 như mặt trời so với không gian địa chi của IPv4 chỉ như một quả bóng, mà là bóng gôn nhé.

    Vậy IPv6 đã đủ chưa, hiện giờ đã có thông tin về IPv9 rồi, công nghệ phát triển khiếp thật.

    Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2012

    So sánh mạng không dây và có dây (môi trường vô tuyến và hữu tuyến)

    Về cơ bản thì mạng không dây và có dây ngay từ cái tên cũng đã thấy vấn đề khác nhau cốt lõi: một cái có dây còn một cái thì không.

    Mạng có dây thì truyền tín hiệu trên cáp tín hiệu, hay gọi là dây tín hiệu cũng được, thường thì không có qui định quá chặt chẽ (mình chưa đi làm chưa biết) nhưng mà nhắc đến dây thì thường là đường truyền nhỏ, còn cáp thì gọi khi dây đó truyền dữ liệu lớn. Cáp thì cũng có nhiều loại lắm, cáp đồng trục, đôi dây xoắn, cáp quang (còn phân ra đơn mode, đa mode liên tục hay gián đoạn)... Thường giờ tốc độ cao thì người ta hay dùng cáp quang thay thế dần cho loại cáp đồng truyền thống vì nó nhẹ, rẻ, nhỏ, ít can nhiễu, tốc độ truyền gấp nhiều lần (rất nhiều lần). Nhưng nói chung đặc điểm là đường truyền tốt hơn nhiều so với mạng không dây. Tốc độ thì tùy loại nhưng nhìn chung là nhanh hơn mạng không dây.

    Mạng không dây thì tín hiệu truyền qua đường "không khí" (các môi trường khác không khí như dưới nước hay lòng đất cũng có thể coi là vô tuyến nhé, cứ không cần phải kéo dây thì là không dây hết nhưng mà hầu hết ta bắt gặp là trong môi trường không gian chúng ta đang sống), không cần dây rợ lằng nhằng tuy nhiên môi trường "không khí" thì cái giá phải trả cũng cao đó là vốn là môi trường không tối ưu cho việc truyền, nhiều cái dùng chung (di động, truyền hình, vệ tinh, radio ..) và chắc chắn là ảnh hưởng đến nhau không ít thì nhiều. Tốc độ chậm hơn, các giải pháp kỹ thuật cũng đòi hỏi phức tạp hơn. Một số công nghệ hiện nay cho tốc độ rất cao, thậm chí hơn cả tốc độ mạng đời cũ (4g so với adsl chẳng hạn), tuy nhiên so sánh như thế là khập khiễng vì cần phải so sánh một cách tổng thể với nhau chứ không thể lấy 1 đứa dốt nhất lớp giỏi học thua 1 đứa giỏi nhất lớp dốt rồi kết luận lớp giỏi ngu hơn lớp dốt được. Các mạng di động hiện nay cung cấp dịch vụ không dây, nhưng từ trạm về mạng lõi thì đều có dây cả. Có mạng không cần cơ sở hạ tầng, trạm thu phát, trung tâm như ad-hoc, bluetooth chẳng hạn thì mới không dây hoàn toàn.

    Có thể tổng hợp một số so sánh về hai loại mạng như sau
    • Tốc độ: có dây hơn không dây.
    • Độ ổn định: có dây cũng hơn.
    • Tính di động và tự do: bạn thích vừa đi vừa cầm điện thoại có kéo theo dây hay mobile phone ?
    • Triển khai: có dây bị hạn chế bởi không gian lắp đặt, vị trí kết nối, còn không dây thì hơn hẳn tuy nhiên cũng không phải là mọi lúc mọi nơi, thày giáo mình trên lớp có dạy về trường hợp đi trong hầm, chỉ cách vài trăm mét so với cửa hầm mà sóng mất luôn (không rõ tại sao), không dây triển khai nhanh hơn rất nhiều.
    • Chi phí đầu tư ban đầu: không dây rẻ hơn vì đỡ tiền cáp và chi phí lắp đặt, tuy nhiên về lâu về dài thì có dây hiệu quả hơn vì nói chung thiết bị không dây đắt và phức tạp hơn.
    • Khả năng mở rộng: không dây tốt hơn.

    Vậy bạn dùng có dây hay không dây
    Nếu điện thoại thì giờ xu hướng là điện thoại di động rồi, vì phục vụ liên lạc mọi lúc mọi nơi, điện thoại giờ cũng lắm thứ giải trí, tính năng bổ trợ công việc ghê gớm, không xa được.
    Internet: thuê 1 đường có dây, khi nó cho modem thì đừng lấy mà đổi cái đấy lấy tiền cước khuyến mãi ban đầu nhiều hơn rồi mua 1 cái modem có phát wifi, thế là bạn đã có cả 2.
    Truyền hình: để tránh bị gián đoạn vì thời tiết thì tốt nhất dùng đường hữu tuyến (truyền hinh cáp, iptv) thì ít bị ảnh hưởng bởi thời tiết hơn, tuy nhiên nhiều lúc cáp không tới, triển khai lằng nhằng thì truyền hình số mặt đất, số vệ tinh cũng khá phổ thông, ngoài ra còn tùy theo hãng nào, mạng nào, bạn có nhu cầu giải trí trên các kênh như thế nào .. Nhà mình dùng truyền hình cáp (analog) rồi dùng bộ chia cho mấy máy cho nó rẻ ^^, giờ dùng anten thường thu theo kiểu truyền thống thì nhà cửa nhiều, bị khuất, bị nhiễu quá mà ít kênh.

    Sinh viên thì sao: kéo phim, game, tải app cắm thâu đêm vẫn phải 1 đường có dây, tuy nhiên để cơ động và nhu cầu ít thì 1 cái usb 3g cũng không phải là ý tồi, mình đã từng thử usb3g, tốc độ cũng không phải là thấp đâu nếu trong điều kiện thu tốt, nhưng vẫn thấy đáp ứng chậm và phập phù lúc nhanh lúc chậm rất ngẫu hứng.

    Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012

    EVN Telecom đã về với Viettel

    Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết đã chính thức hoàn thành việc chuyển giao Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực (EVN Telecom) cho Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel).

    Năm 2010, doanh thu của EVN Telecom chỉ đạt hơn 2.000 tỷ đồng và lỗ hơn 1.000 tỷ đồng.
    Cụ thể, theo EVN, Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia và 5 tổng công ty điện lực đã hoàn thành ký biên bản bàn giao tài sản viễn thông cho Viettel.

    EVNTelecom đã hoàn thành các công tác kiểm đếm, đối soát, thẩm tra tài chính, hoàn thiện biên bản bàn giao và đã ký biên bản bàn giao ngày 26/4/2012.

    Ngoài ra, trên cơ sở kết quả bàn giao, EVN đã phối hợp với Viettel hoàn thành dự thảo biên bản bàn giao và tờ trình gửi Bộ Tài chính để ra quyết định về việc bàn giao tài sản viễn thông giữa hai tập đoàn.

    Trước đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký quyết định về việc Viettel chính thức tiếp nhận EVN Telecom kể từ ngày 1/1/2012.

    Việc quyết định chuyển giao EVN Telecom cho Viettel do doanh nghiệp viễn thông "nhà đèn" này nhiều năm qua hoạt động hiệu quả thấp, kinh doanh triền miên thua lỗ, nợ phải trả lớn lên tới hàng nghìn tỷ đồng.
    itGate (theo VNN)

    Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

     
    Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes