Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Thứ Hai, 20 tháng 2, 2012

Công thức Shannon

C=B*log2(1+S/N)
Trong đó:
C: capacity (bits/second)
B: bandwidth (Hertz)
S: signal power (Watt)
N: noise power (Watt)
Theo công thức C=B*log2(1+S/N) thì C phụ thuộc vào B và S/N ratio

log2 là log cơ số 2.

Đây là công thức rất quan trọng trong viễn thông, ý nghĩa của C là : tốc độ bit lớn nhất có thể truyền qua hệ thống với độ chính xác đã cho.
Để tăng tốc độ kênh truyền thì người ta có thể tác động vào B như trải phổ, internet băng thông rộng, xin thêm phổ tần ... hay tác động vào S/N như phân tập, MIMO ... hay đơn giản chỉ là tăng công suất phát (tăng S) hoặc tăng cường các biện pháp lọc thật chặn, chống nhiễu giữa các kênh gần nhau (giảm N) ... Nhiều lắm
Nói chung là dính đến dung lượng hệ thống (hiểu là tốc độ cũng được nhưng đây là tốc độ max mà hệ thống có thể cung cấp cho tất cả người dùng - tức là càng nhiều người dùng thì tốc độ riêng càng ít) thì công thức này rất hay được nhắc tới

Định lý lấy mẫu Nyquist–Shannon

Định lý lấy mẫu Nyquist–Shannon là một định lý được sử dụng trong lĩnh vực lý thuyết thông tin, đặc biệt là trong viễn thông và xử lý tín hiệu do Harry Nyquist và Claude Shannon phát minh. Lấy mẫu là quá trình chuyển đổi một tín hiệu (ví dụ, là một hàm liên tục theo không thời gian) thành một chuỗi số (một hàm rời rạc theo không thời gian). Định lý lấy mẫu được phát biểu như sau:
Một hàm số tín hiệu x(t) không chứa bất kỳ thành phần tần số nào lớn hơn hoặc bằng một giá trị fm có thể biểu diễn chính xác bằng tập các giá trị của nó với chu kỳ lấy mẫu T = 1/(2fm).
Như vậy, tần số lấy mẫu phải thoả mãn điều kiện fs ≥ 2fm. Tần số giới hạn fs/2 này được gọi là tần số Nyquist và khoảng (-fs/2 ; fs/2) gọi là khoảng Nyquist. Thực tế, tín hiệu trước khi lấy mẫu sẽ bị giới hạn bằng một bộ lọc để tần số tín hiệu nằm trong khoảng Nyquist.
Định lý này thường được gọi là định lý lấy mẫu Nyquist, nhưng kể từ khi nó được phát hiện một cách độc lập bởi E.T. Whittaker, bởi Vladimir Kotelnikov, và bởi những người khác, thì nó còn được gọi là Nyquist-Shannon-Kotelnikov, Whittaker-Shannon-Kotelnikov, Whittaker-Nyquist-KotelnikovShannon, WKS, hay định lý cơ bản của lý thuyết nội suy. Nhưng nó thường được gọi đơn giản là định lý lấy mẫu.
Về bản chất, định lý cho thấy một tín hiệu tương tự (analog) có tần số giới hạn đã được lấy mẫu có thể được tái tạo hoàn toàn từ một chuỗi vô số các mẫu nếu tỷ lệ lấy mẫu lớn hơn 2fm mẫu trong 1 giây, fm là các tần số lớn nhất của tín hiệu ban đầu. Shannon cho rằng nếu tín hiệu có chứa một thành phần có tần số chính xác bằng fm Hz, thì các mẫu sẽ cách nhau đúng 1/(2fm) giây sẽ không thể khôi phục hoàn toàn chính xác tín hiệu. Điều kiện đủ này có thể không chính xác như trong phần thảo luận tại lấy mẫu tín hiệu non-baseband dưới đây.
Các phát biểu của định lý gần đây đôi khi cẩn thận loại trừ giá trị bằng, có nghĩa là điều kiện nếu x(t) không có tần số nào cao hơn hoặc bằng fm; điều này là tương tự phát biểu của Shannon trừ khi hàm số bao gồm một dạng sóng sin ổn định có chứa thành phần tại tần số chính xác fm.

Nguồn http://vi.wikipedia.org

Định lý này thấy chủ yếu để xét tần số lấy mẫu cho tín hiệu, tín hiệu analog biết được tần số cao nhất là bao nhiêu thì người ta lấy tần số lấy mẫu > gấp đôi để chuyển sang tín hiệu số

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Hệ thống không dây (SISO, SIMO, MISO, MIMO)

Các hệ thống thông tin không dây có thể được phân loại thành 4 hệ thống cơ bản là SISO, SIMO, MISO và MIMO




Hệ thống SISO
Hệ thống SISO là hệ thống thông tin không dây truyền thống chỉ sử dụng một anten phát và một anten  thu. Máy phát và máy thu chỉ có một bộ cao tần và một bộ điều chế/giải điều chế. Hệ thống SISO thường được dùng trong phát thanh và phát hình, và các kỹ thuật truyền dẫn vô tuyến cá nhân như Wifi hay Bluetooth. Dung lượng hệ thống phụ thuộc vào tỷ số tín hiệu trên nhiễu được xác định bởi công thức Shanon

    C=log2 (1+SNR) bit/s/Hz 


Hệ thống SIMO
Nhằm cải thiện chất lượng hệ thống, một phía sử dụng một anten, phía còn lại sử dụng đa anten. Hệ thống sử dụng một anten phát và nhiều anten thu được gọi là hệ thống SIMO. Trong hệ thống này máy thu có thể lựa chọn hoặc kết hợp tín hiệu từ các anten thu nhằm tối đa tỷ số tín hiệu trên nhiễu thông qua các giải thuật beamforming hoặc MMRC (Maximal-Ratio Receive Combining). Khi máy thu biết thông tin kênh truyền, dung lượng hệ thống tăng theo hàm logarit của số anten thu, có thể xấp xỉ theo biểu thức sau

    C=log2 (1+N.SNR) bit/s/Hz


Hệ thống MISO
Hệ thống sử dụng nhiều anten phát và một anten thu được gọi là hệ thống MISO. Hệ thống này có thể cung cấp phân tập phát thông qua kỹ thuật Alamouti từ đó cải thiện chất lượng tín  hiệu hoặc sử dụng Beamforming để tăng hiệu suất phát và vùng bao phủ. Khi máy phát biết được thông tin kênh truyền, dung lượng hệ thống tăng theo hàm Log của số anten phát và có thể được xác định gần đúng theo biểu thức sau

    C=log2 (1+N.SNR) bit/s/Hz


Hệ thống MIMO
Hệ thống MIMO là hệ thống sử dụng đa anten tại cả nơi phát và nơi thu. Hệ thống có thể cung cấp phân tập phát nhờ vào đa anten phát, cung cấp phân tập thu nhờ vào đa anten thu nhằm tăng chất lượng hệ thống hoặc thực hiện Beamforming tại nơi phát và nơi thu để tăng hiệu suất sử dụng công suất, triệt can nhiễu. Ngoài ra dung lượng hệ thống có thể được cải thiện đáng kể nhờ vào độ lợi ghép kênh cung cấp bởi kỹ mã hoá thuật không gian-thời gian như V-BLAST. Khi thông tin kênh truyền được biết tại cả nơi phát và thu, hệ thống có thể cung cấp độ phân tập cực đại và độ lợi ghép kênh cực đại, dung lượng hệ thống trong trường hợp đạt được phân tập cực đại có thể xác định theo biểu thức sau

    C= log2 (1+NT.NR.SNR) bit/s/Hz

Dung lượng hệ thống trong trường hợp đạt được độ lợi ghép kênh cực đại có thể xác định theo biểu thức sau

    C=min(NT,NR).log2(1+SNR) bit/s/Hz

Chú thích: log2 (X)  là log cơ số 2 của X.

Reference
Ta-Sung Lee, Department of Communication Engineering National Chiao Tung University, bài giảng “MIMO Techniques for Wireless Communications”, 2006



Nhìn trên cũng có thể thấy luôn vì sao mimo anten thường là 2x2 4x4 đơn giản vì :

C=min(NT,NR).log2(1+SNR) bit/s/Hz

dù 2x4 2x8 thì khi chọn min (2,4) =2 (giá trị nhỏ nhất trong 2 số) ; min(2,8) =2 , tác dụng không hơn gì 2x2, nên để tối ưu nhất thì để 2 bên bằng nhau.

Hệ thống truyền dẫn số

Sau khái niệm hệ thống thông tin số
thì thày Bình dạy tiếp bài Hệ thống truyền dẫn số

Định nghĩa : Đây là một hệ thống mà chỉ truyền tín hiệu, tập hợp các tín hiệu môi trường truyền nhằm truyền tín hiệu số từ nơi này đến nơi khác.

Sơ đồ khối :
Từ đầu ra format phát đến đầu vào format thu.

Chỉ tiêu kỹ thuật cơ bản :
- Tính nhanh chóng : C [b/s], Rmax ~ W
còn thường so sánh các hệ thống khác nhau theo BL (b/s - km).
Cáp đồng trục ~ 100 Mbps.km
viba  ~ vài trăm Mbps.km
Sợi quang ~ 100.000 Gbps.km
- Tính chính xác :
về mức BER
về thời gian : jitter nhớ không nhầm là độ trôi thời gian (nếu không trôi thì đã không cần hệ thống đồng bộ).

Dịch vụ             BER               jitter
voice              <= 10^-6          không ngặt  ( <= tức là nhỏ hơn hoặc bằng, học lập trình c thì biết)
telex               <= 10^-3          không ngặt
video              <= 10^-6          rất ngặt nghèo
data                <= 10^-9 - 10^-11    rất ngặt nghèo

Theo mình thì cái quan trọng nhất trong bài này lại là mấy dẫn chứng về tốc độ và tỉ lệ lỗi, jitter.
tốc độ cho biết khả năng truyền của các kênh truyền khác nhau còn bảng cuối thì cho chúng ta biết rằng không có kênh truyền nào không lỗi.
Trước đây mình, và chắc là cũng nhiều người nghĩ rằng kênh truyền thì truyền tin đến đích, nghiễm nhiên nghĩ rằng tin đó không bao giờ có lỗi thế mà lúc giảng viễn thông các thày giảng về lỗi đầy ra, nếu 10^-3 thế kia thì truyền tin 100kb (10^5 byte - 8.10^5 bit) thì trung bình lỗi 8.100 bit à, thế thì truyền file tí ti cũng lỗi à. Về sau thì mình hiểu là với kênh truyền dạng text (ký tự) thì việc 100 ký tự sai 1 cũng không ảnh hưởng mấy, như sai lỗi chính tả thôi, với kênh truyền data (internet hiện nay) thì yêu cầu lớn hơn rất nhiều, cũng có thể là lớn hơn cả cái 10^-11 kia (với yêu cầu hiện nay). Ngoài ra nếu ai đã từng cắm máy down phim, down soft thì cũng hiểu là thỉnh thoảng file bị lỗi cũng là chuyện bình thường, nên file cỡ vài gb người ta hay cắt file, check md5, chèn repair 5% cho file rar (tự khôi phục lỗi) hoặc down bằng torrent (cắt file ra nhiều phần,auto check và tự động download phần lỗi lại).
Trên thực tế theo thày Trần Xuân Nam (dạy mình mạng không dây và mạng viễn thông) thì tỉ lệ lỗi trong truyền không dây là 10^-2 đến 10^-4 (thế này mà down file,lướt web thì chết), tuy nhiên nên nhớ là các gói tin còn có chèn thông tin kiểm tra lỗi, tự động truyền lại và nhiều giải pháp khác để đẩy mức BER về mức cho phép, việc dùng torrent như là 1 kiểu check thêm lần nữa và đẩy mức lỗi đến mức mười mũ trừ mấy chục hoặc mấy trăm.
Lưu ý là dù check lỗi nhưng tỉ lệ check không bao giờ là 100%, trước tớ từng đọc được 1 bài viết về 2 file dos hiển thị 2 nội dung khác nhau nhưng mã kiểm tra md5 lại so trùng nhau. Nói chung là dù can thiệp thế nào, kênh truyền cũng không bao giờ là hoàn hảo, check lại nhiều lần với các kiểu check khác nhau hay giải pháp phức tạp hơn thì sẽ đẩy tỉ lệ lỗi đến siêu nhỏ nhưng tốn tài nguyên, trễ ... Người ta cần cân đối và đặt ra 1 ngưỡng, kênh truyền thỏa mãn thì cho vào sử dụng.

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Để có một cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc

Chúng ta hay được xem trên báo chí về nhiều câu truyện, nhiều cuộc đời khác nhau, có cái thật, có cái bịa (hư cấu)  về kết thúc có hậu, có nhiều trường phái thể loại khác nhau :
- Theo cách chính thống của gia đình, ông bà mong muốn thì con cái phải học giỏi, chăm ngoan, vâng lời gia đình và thày cô, lớn lên có một sự nghiệp ổn định, cưới vợ, không bị vô sinh để có người nối nghiệp tổ tông (ưu tiên đẻ con trai) ...
- Theo cách của các bạn trẻ thì đối với các bạn nào năng động thì muốn một cuộc sống nhiều thử thách, nhiều niềm vui, chinh phục nhiều đỉnh cao... nói chung là sôi động và nổi trội ; còn với các bạn từ tốn hơn thì muốn sự ổn định, an toàn, có thời gian để thực hiện những sở thích, giấc mơ riêng ...
- Đối với học sinh thì thích học giỏi này, được các bạn khác ngưỡng mộ này, còn với các bạn không thích học lắm thì thích đi tắt đón đầu, muốn trở thành ông nọ, bà kia luôn, chạy theo mốt, sắm đồ hi tech để sành điệu này ...

Mấy cái này xưa rồi, với cả là lối viết của dân bên khoa học xã hội, là dân kỹ thuật, khoa học thì mình sẽ giải thích theo cách khác.
Tình hình là ở nhà làm đồ án nên rỗi (không thể lúc nào cũng cắm đầu vào học được), có con nook color (máy đọc sách) mà để lâu không để ý nó cạn pin rồi sạc nó đếch lên nữa thì buồn nên có down 1 số sách, tài liệu về nhận thức, tâm lý về đọc và tìm thấy 1 cái mà có thể giải thích rất nhiều sự việc mà trước đến giờ mình vẫn thắc mắc. Với kiến thức vừa mới đọc ở mức vỡ lòng và cũng chưa có nhiều thời gian để suy ngẫm nên có thể sai, sau này level cao hơn thì sẽ bổ xung, sửa đổi sau. Sai thì thôi, không chịu trách nhiệm.


Theo như văn phong của những cuốn sách best-seller, giật tít quảng cáo hay của các diễn giả thì cần 1 câu mở đầu thật hay để bắt đầu nội dung, bắt chước phát :
Để đạt được hạnh phúc, nhiều người nghĩ cần gia đình hạnh phúc, nhiều người muốn được thể hiện, nhiều người muốn nhiều tiền, sai hết đó đều là những nhận thức không đầy đủ, cần nhiều hơn thế để hạnh phúc thực sự, không thái quá cái nào, tuy nhiên có phân cấp ưu tiên cho từng nhu cầu, đọc đi nhé :

Tháp nhu cầu của Maslow

Tháp nhu cầu của Maslow (tiếng Anh: Maslow's hierarchy of needs) được nhà tâm lý học Abraham Maslow đưa ra vào năm 1943 trong bài viết A Theory of Human Motivation và là một trong những lý thuyết quan trọng nhất của quản trị kinh doanh; đặc biệt là các ứng dụng cụ thể trong quản trị nhân sự và quản trị marketing.

Căn bản của lý thuyết

Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs)
Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ... Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày.
Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao. Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân v.v.
Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này. Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống... họ sẽ không quan tâm đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng...

Chi tiết nội dung tháp nhu cầu

Tháp nhu cầu
Cấu trúc của Tháp nhu cầu có 5 tầng, trong đó, những nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp.
Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn. Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thoả mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ.
5 tầng trong Tháp nhu cầu của Maslow:
  • Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý" (physiological) - thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi.
  • Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo.
  • Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc (love/belonging) - muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy.
  • Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) - cần có cảm giác được tôn trọng, kinh mến, được tin tưởng.
  • Tẩng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization) - muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt.

Mở rộng tháp

Sau Maslow, có nhiều người đã phát triển thêm tháp này như thêm các tầng khác nhau, thí dụ:
  • Tầng Cognitive: Nhu cầu về nhận thức, hiểu biết: - Học để hiểu biết, góp phần vào kiến thức chung.
  • Tầng Aesthetic: Nhu cầu về thẩm mỹ - có sự yên bình, ham muốn hiểu biết về những gì thuộc nội tại.
  • Tầng Self-transcendence: Nhu cầu về tự tôn bản ngã - một trạng thái siêu vị kỷ hướng đến trực giác siêu nhiên, lòng vị tha, hòa hợp bác ái.
Tuy nhiên, mô hình căn bản được chấp nhận rộng rãi vẫn chỉ có 5 tầng như ở trên.



Trước đây mình luôn không hiểu vì sao cuộc sống lại khắc nghiệt đến vậy, con người lại đấu đá lẫn nhau,sao bố mẹ luôn quá đòi hỏi, sao mình dù có thành superman đi chăng nữa vẫn có quá nhiều vấn đề trong cuộc sống mà mình luôn cảm thấy đuối, trong xã hội sao có người xấu, một số lại còn bệnh hoạn, suy nghĩ lệch lạc, cán bộ quan liêu, vì sao người ta dạy trẻ "Việt Nam rừng vàng biển bạc" thì trẻ lại không muốn phấn đấu ... (chắc do xem phim và đọc manga nhiều nên có suy nghĩ ở mức - lo thân chưa xong mà cứ nghĩ trên giời dưới biển), ngày xưa thì suy nghĩ lung tung lắm nên thuộc loại người viển vông, nhưng lớn lên cũng đỡ hơn rồi he he, giờ khá thực tế là đằng khác.
Theo suy nghĩ cá nhân thì con người luôn tìm cách để đạt được các nhu cầu trên, mình chỉ xét đến 5 tầng cho đơn giản và thấy đủ để giải thích những băn khoăn của bản thân rồi. Con người thỏa mãn được các nhu cầu trên thì sẽ có được sự phát triển đầy đủ tâm trí, thể chất và có cuộc sống tốt đẹp.
Con người đấu tranh vì đồng tiền và xã hội ngày nay thì cuộc cạnh tranh đó rất khốc liệt vì nhu cầu này ở tầng thứ nhất, cần thiết nhất. Nếu không đủ giỏi hoặc giỏi nhưng vẫn muốn hơn nữa để thỏa mãn nhu cầu thứ nhất tốt hơn và nhiều tiền cũng có nghĩa làm việc gì cũng dễ dàng hơn, trước các biến động (lạm phát, tăng giá, thuốc men, nhà cửa, con cái ... ) thì có thể vung tiền ra xoay sở (nhu cầu an toàn), khi việc này trở thành một hệ thống thì nó càng "an toàn" hơn, chạy trọt làm sếp ngoài tiền còn để được kính trọng hơn (có thể người dưới thì không nhưng ông sếp thì nghĩ thế) và có thể xử bất cứ thằng nào phía dưới (cảm thấy mình là người quan trọng)...
Trò chơi điện tử một phần là để giải trí (nhu cầu tầng thứ nhất) thư giãn, cũng có thể để giao lưu, và dễ dàng để trở thành người quan trọng (dễ hơn rất nhiều so với đời sống thực), thử tưởng tượng một trò chơi như kim cương mà bỏ đi điểm số, bỏ đi việc qua bài, chỉ có hiệu ứng để giải trí giết thời gian thì để bỏ thời gian chơi tương đương người cày bao nhiêu triệu điểm liệu còn được bao nhiêu người nữa (trừ thừa thời gian quá không biết làm gì thôi)
Một lý giải hợp lý cho 1 trường hợp trở thành tội phạm :
Chắc bạn còn nhớ một thời báo chí đăng tin ầm ĩ về trường hợp sinh viên Cho Seung-Hui ở trường US Virginia Tech (Mỹ) đã bắn chết 32 sinh viên vào ngày 16 tháng 4 năm 2007. Cái gì đã xô đẩy một sinh viên có học làm chuyện điên rồ mất hết nhân tính như vậy? Có giả thuyết cho rằng hắn làm việc đó đơn giản là vì nhu cầu được nhìn nhận và trở nên quan trọng của hắn quá bức bách. Trong cuộc sống yếm thế ở nhà và ở trường, hắn cảm thấy mình chẳng có “kilôgram” nào đối với những người chung quanh. Nhu cầu này ngày một lớn lên đẩy hắn đến chỗ bất chấp tiếng nói của nhân tính mà xả súng giết người hàng loạt và cuối cùng cướp đi mạng sống của chính mình. Có lẽ trong tâm trí của Cho Seung-Hui lúc ấy chỉ có một điều: thà chết với tội ác ngàn năm không rửa được còn hơn sống mà không được ai biết tới. Xem thêm
Quyển sách mà mình trích dẫn trên cũng là một kiểu phân loại nhu cầu tâm lý và có nhiều điểm tương đồng với tháp nhu cầu này. Trong đó có cả lý do vì sao ở Việt Nam lại hay có kiểu học sinh giỏi không dám giơ tay, thể hiện kiến thức, khả năng trước lớp (vì bị các bạn coi khinh, lườm nguýt - nhu cầu 3 và 4, hay bị đánh hội đồng vì nhìn ngứa mắt - nhu cầu 2: cần được an toàn).
Khi chúng ta dạy "rừng vàng biển bạc" hay được gia đình lo cho từng ly từng tí, trong đầu học sinh sẽ nghĩ nhu cầu 1 đáp ứng được rồi , không cần làm cũng không lo chết đói (nhu cầu 2), và nhảy lên các tầng nhu cầu cao hơn với một suy nghĩ chưa chín chắn thì nó thành thế này : ăn chơi sành điệu (Nhu cầu 5), yêu sớm (Nhu cầu 3 và để cả không thua kém bạn bè - nhu cầu 5), phá phách (để được chú ý) ...
Và cũng có thể đây là lý do khi teen hiện giờ đời sống cao, gia đình đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu bậc thấp và lại thiếu kiến thức, thiếu kiên nhẫn để giải quyết các nhu cầu bậc cao nên dư luận hiện nay mới tốn giấy mực báo chí đến vậy.

Thậm chí người lớn cũng mắc sai lầm đầy ra : xem thêm (nhu cầu vật chất, cũng có thể là muốn thể hiện, được thừa nhận khả năng), hàng ngày đọc tin dantri, vietnamnet, vnexpress thì sẽ thấy cả đống.

Và đương nhiên chẳng ai muốn đi đường vòng, muốn càng nhanh càng tốt, nhưng đường thẳng lại lắm cạm bẫy (đường vòng biết bao nhiêu đường, đặt bẫy bao nhiêu cho nó vừa ^^), kẻ gian, trục lợi trong xã hội cũng đánh vào tâm lý ham tiền, hám của lạ (nhu cầu 1), đầu tư cái này đảm bảo trúng (nhu cầu 2), bỏ vợ theo gái (nhu cầu 3 - ở đây là trường hợp xét về việc đáp ứng nhu cầu tình cảm tinh thần), vung tiền thác loạn, thể hiện bản lĩnh (nhu cầu 4) hay sếp bị nhân viên nịnh nọt lừa phỉnh (nhu cầu 5- sếp là nhất, kiến thức tài năng sếp thật siêu việt ...), vân vân và vân vân. Và các kiểu này đều có chung 1 điểm : mỳ ăn liền

Nói chung thì mấy cái mặt xấu nói ra không phải để bàn chuyện xã hội (vấn đề này là của cơ quan chuyên ngành nào đó), ở đây chỉ để giải thích theo quan điểm cá nhân là dù xấu dù tốt, con người đều chỉ làm theo những cách khác nhau để thỏa mãn nhu cầu tâm lý bản thân và dẫn đến những kết quả khác nhau (đây là nhu cầu chính đáng).

Viết bài này tớ cũng chỉ muốn chia sẻ với độc giả, không có 1 con đường cụ thể vì mỗi người 1 tính, 1 hoàn cảnh nhưng mình cần phấn đấu để thỏa mãn các nhu cầu trên theo cách nó trong sáng 1 chút. Với những bạn không có điều kiện thì càng phải phấn đấu hơn rồi, và nên chú ý kiếm tiền nuôi sống bản thân, gia đình đầu tiên, hơn là đua đòi đú đởn trước, tuy nhiên nếu ăn mặc rách rưới, đi xe vớ vẩn mà gặp đối tác làm ăn hay là bộ mặt công ty mà thế thì chết, gặp bạn bè cũng cần phải thế nào đó tránh cảm thấy mình thấp kém, tự ti. Theo mình thì phải thỏa mãn tất cả nhưng cần phải biết cái nào cần hơn cái nào. Với các bạn gia đình trung bình hoặc có điều kiện thì cũng cần phấn đấu hơn là để bọn xung quanh nó khinh, kém cỏi thì ngay người trong gia đình anh chị em họ hàng cũng nhiều người chán, còn nếu gia đình yêu cần quá thể đáng thì phấn đấu ở mức tự lo được cho bản thân và có tích lũy, sau này bố mẹ về hưu rồi thì đừng hòng áp đặt được (thoát khỏi cảnh ngửa tay xin tiền càng nhanh càng tốt).Và nhớ là đừng nóng vội, đừng tìm giải pháp không làm mà vẫn muốn ăn hay dễ dàng đến mức phi lí, chỉ dựa vào vận may, vì tỉ lệ không thành công và bị lừa rất cao.

Tín hiệu số và đặc điểm so với tín hiệu tương tự

-- Trong kỹ thuật điện, tín hiệu là quan hệ giữa thời gian (hoặc cũng có thể là không gian, hoặc cả hai nhưng ít gặp) với một đặc trưng điện nào đó (điện áp, dòng điện, điện tích, mật độ dòng điện, ...). Lấy thí dụ, chúng ta thường gặp các tín hiệu như điện áp giữa hai cực của một mạng v(t) [volt] với t là thời gian - đây là trường hợp tín hiệu là hàm của thời gian (thường gặp). Chúng ta cũng có thể gặp phân bố điện tích của một vật tích tĩnh điện q(x,y,z) [coulomb] với x, y, z là tọa độ Descartes - đây là trường hợp tín hiệu là hàm của không gian (ít gặp hơn).

-- Định nghĩa bản tin và thông tin thì mang tính triết học quá, nhưng có thể hiểu đơn giản: bản tin là tập hợp các thông tin có quan hệ chặt chẽ để tạo nên một ý nghĩa tương đối hoàn chỉnh. Thí dụ, bạn có một số điện thoại +84915****** thì từng chữ số một là thông tin, nhưng bản tin phải là toàn bộ chuỗi ký hiệu này.

1) Tín hiệu liên tục theo biên độ và liên tục theo thời gian

Đây là dạng tín hiệu thường gặp, thí dụ như tín hiệu từ một cảm biến.

2) Tín hiệu liên tục theo biên độ và rời rạc theo thời gian

Thí dụ như tín hiệu xung PAM.

3) Tín hiệu rời rạc theo biên độ và liên tục theo thời gian

Trong thí dụ này, tín hiệu chỉ nhận các giá trị {-2, -1, 0, 1, 2, 3}. Bạn có thể thấy các tín hiệu thuộc loại này trong điều chế băng gốc (base band modulation). Thí dụ như tín hiệu nhị phân (2 mức) trong NRZ, trong đó tín hiệu chỉ nhận hai giá trị {-1, 1}; hay tam phân (3 mức) trong RZ, HDB3, ..., trong đó tín hiệu chỉ nhận ba giá trị {-1, 0, 1}. Tổng quát lên là các tín hiệu M-phân (M mức).

4) Tín hiệu rời rạc theo biên độ và rời rạc theo thời gian

Thí dụ như tín hiệu PCM.

-- Tiêu chí phân loại tín hiệu tương tự - số: thì (1) và (2) là tín hiệu tương tự; còn (3) và (4) là tín hiệu số.

-- Tiêu chí phân loại tín hiệu liên tục - rời rạc: ở đây hiểu ngầm rằng liên tục theo thời gian và rời rạc theo thời gian, do vậy (1) và (3) là tín hiệu liên tục; còn (2) và (4) là tín hiệu rời rạc.

-- Về so sánh xử lý tương tự và xử lý số, chắc có lẽ chỉ nói sơ sơ được thôi. Đặc trưng của xử lý số là thao tác trên linh kiện có chức năng nhớ, cụ thể là trên thanh ghi (register); dẫn đến cho phép thời gian xử lý có thể kéo rất dài, quá trình xử lý có thể rất phức tạp, chức năng xử lý rất phong phú nhưng bù lại là hệ thống có thể không có tính chất thời gian thực (real time - đáp ứng của hệ thống có rất nhanh, khi có tín hiệu ngõ vào thì gần như có liền tín hiệu ngõ ra). Trong khi đó, xử lý tương tự lại không có linh kiện nhớ (chỉ có thể làm delay trong thời gian ngắn) dẫn đến quá trình xử lý phải thật nhanh, đơn giản và do đó chức năng xử lý cũng đơn giản hơn so với xử lý số nhưng bù lại hệ thống có tính chất real time.

-- Thiết kế vi mạch có thể chia thành 2 mảng: thiết kế vi mạch tương tự (các vi mạch tương tự phổ biến như opamp, ADC/DAC, ổn áp) và thiết kế vi mạch số (vi xử lý chẳng hạn).

-- Công nghệ 22 nm (90 nm, 65 nm, 45 nm, 32 nm, ...): theo tôi hiểu chỉ là tên gọi của một công nghệ, con số 22 nm (và các con số khác) không có ý nghĩa rõ ràng và không ám chỉ một kích thước vật lý cụ thể nào. Tuy nhiên, nó có thể gợi ý về kích thước của một chi tiết nhỏ nhất (xấp xỉ) của transistor mà công nghệ này có thể thực hiện, đó thường là bề rộng của cực cổng (gate) của một transistor CMOS. Đây là quảng đường mà dòng điện phải chảy qua trong một transistor và do đó quyết định đến tốc độ đóng-ngắt của transistor; và ngoài ra nó cũng ảnh hưởng đến diện tích của một transistor. Con số này càng nhỏ thì tốc độ và mật độ tích hợp càng lớn. Mặc dù vậy, nó không phải là độ phân giải của công nghệ vì quá trình quang khắc sử dụng bước sóng ánh sáng 193 nm vốn lớn hơn 22 nm nhiều và người chế tạo phải sử dụng những "mẹo" đặc biệt để tạo được chi tiết 22 nm; dẫn đến là chúng ta có thể tạo được chi tiết 22 nm nhưng lại không thể tạo được chi tiết có kích thước y hệt vậy kế bên cạnh, tức là 22 nm không phải là độ phân giải.


Ở trên trình bày mang tính chất điện tử nhiều, dưới đây trình bày mang tính chất viễn thông hơn.
Đặc điểm của thông tin số (theo vở thày Bình) :
+ Tín hiệu số khỏe hơn tín hiệu tương tự đối với tạp nhiễu
  • Do t/h số được thu theo ngưỡng và có khả năng tái sinh -> không tích lũy tạp âm (tín hiệu số thu theo ngưỡng/mức, khi truyền thì nó sẽ bị nhiễu, tuy nhiên nếu ngưỡng tín hiệu vẫn ở gần ngưỡng ban đầu mà không nhầm sang ngưỡng khác thì ở cuối đầu thu có thể khôi phục lại).
  • Có thể mã hóa chống nhiễu, có thể chịu được tạp âm đến mức gây lỗi (cái này phải nghiên cứu các loại mã hóa mới rõ được).
+ Hệ thống thông tin số truyền được mọi loại thông tin số -> cho phép hình thành mạng số đa dịch vụ (ISDN - Integrated Services Digital Network) -> tính kinh tế nhờ quy mô (economy of scale)
+ Tín hiệu số phù hợp với máy tính do đó cho phép OA&M tự động (Operation, Administration, and Maintenance)
- Phổ chiếm của tín hiệu rộng hơn phổ chiếm của tín hiệu tương tự cùng loại

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2012

Kiến trúc và giao thức HSPA

HSPA (High Speed Packet Access) truy nhập gói tốc độ cao là công nghệ được triển khai trên nền WCDMA. HSPA bao gồm :
  • HSDPA (High Speed Downlink Packet Access) truy nhập gói hướng xuống tốc độ cao.
  • HSUPA (High Speed Uplink Packet Access) truy nhập gói hướng lên tốc độ cao.
Ở Việt Nam, sau khi 3G được phép triển khai thì công nghệ HSPA cũng được nhanh chóng phát triển. Một sản phẩm điển hình sử dụng HSPA là các USB MODEM giao tiếp với máy tính qua cổng usb, có khả năng kết nối internet qua sóng điện thoại, hỗ trợ download và upload dữ liệu với tốc độ cao.

Kiến trúc và giao thức HSPA

Nội dung chính của phần này là những tác động của [[HSDPA]] và HSUPA tới mạng vô tuyến và kiến trúc giao thức cũng như những chức năng phần tử mạng và các giao tiếp.

1.Kiến trúc quản lý tài nguyên vô tuyến

Chức năng quản lý tài nguyên vô tuyến (RRM : Radio Resource Management) với HSDPA và HSUPA đã có nhiều sự thay đổi so với phiên bản R99. Trong phiên bản R99, điều khiển lập lịch biểu hoàn toàn dựa trên bộ điều khiển mạng vô tuyến (RNC : Radio Network Controller) khi trong trạm gốc (BTS hoặc trong thuật ngữ 3GPP là Node B) phần lớn đã có một chức năng liên quan đến điều khiển công suất. SNRC (Serving RNC ) là bộ phận được kết nối tới mạng lõi sẽ điều khiển lập lịch biểu cho kênh riêng (DCH: Dedicated Channel) và bộ phận đang được kết nối tới trạm BTS sẽ điều khiển kênh chung (FACH: Forward Access Channel).
Vì chức năng lập lịch biểu được chuyển tới BTS nên có một sự thay đổi trong toàn bộ kiến trúc RRM. SNRC vẫn sẽ điều khiển vùng chuyển giao và sẽ là nơi quyết định thông số chất lượng dịch vụ (QoS : Quality of Service) phù hợp. Đối với HSDPA các trạng thái được đơn giản hóa vì không có chuyển giao mềm cho dữ liệu HSDPA, không cần chạy dữ liệu người dùng trên nhiều giao tiếp Iur và Iub.

Kiến trúc quản lý tài nguyên vô tuyến trong phiên bản R99.png

2.Kiến trúc giao thức người dùng HSDPA và HSUPA

Kiến trúc có thể được xác định bao gồm phần người dùng, xử lý dữ liệu người dùng và phần điều khiển. Lớp điều khiển tài nguyên vô tuyến (RRC : Radio Resource Control) trong phần điều khiển xử lý tất cả báo hiệu liên quan đến cấu hình các kênh, quản lý tính di động...mà người dùng không thấy được.

Kiến trúc giao thức giao tiếp vô tuyến phiên bản R99
Giao thức hội tụ dữ liệu gói (PDCP : Packet Data Convergence Protocol) có chức năng chính là nén header và không liên quan đến dịch vụ chuyển mạch kênh. Nén header là cần thiết vì header không nén trong giao thức IP có kích thước lớn gấp 2 tới 3 lần so với kích thước header đã nén.
Điều khiển kết nối vô tuyến (RLC: Radio Link Control) điều khiển phân mảnh và truyền lại cho cả dữ liệu người dùng và dữ liệu điều khiển. RLC có thể hoạt động ở 3 chế độ khác nhau là :
  • Chế độ trong suốt : không có overhead được thêm vào. Chế độ này không thích hợp khi kênh truyền tải của HSDPA và HSUPA được sử dụng.
  • Chế độ không có báo nhận : không truyền lại lớp RLC. Chế độ này được dùng với những ứng dụng cho phép sự mất gói như VoIP nhưng không cho phép trễ .
  • Chế độ báo nhận : có truyền lại lớp RLC. Chế độ này phù hợp với những ứng dụng yêu cầu tất cả gói tin truyền đi mà không có sự thất thoát.
Lớp điều khiển truy nhập môi trường (MAC : Medium Access Control) trong phiên bản R99 tập trung vào phân bố kênh luận lý và điều khiển ưu tiên cũng như sự lựa chọn tốc độ dữ liệu, sự lựa chọn định dạng truyền tải. Chuyển mạch kênh truyền tải cũng là một chức năng lớp MAC.

Kiến trúc giao tiếp vô tuyến HSDPA và HSUPA cho dữ liệu người dùng
Cả HSDPA và HSUPA đều đưa ra những yếu tố mới trong kiến trúc. Hình 2.3 minh họa cho toàn bộ kiến trúc giao tiếp vô tuyến cho dữ liệu người dùng HSDPA và HSUPA, phần tô đậm là những phần tử giao thức mới có liên quan đến dữ liệu người dùng. Phần điều khiển báo hiệu (không có trong hình 2.3) có thể kết nối dễ dàng tới RLC và mang báo hiệu đi cả trên DCH và trên HSDPA/HSUPA. Đối với dữ liệu người dùng, PDCD điều khiển nén header IP. Phần tử PDCD và RLC trong hình vẽ chỉ ra khả năng những dịch vụ có thể chạy song song.
Chức năng lập lịch biểu BTS là một chức năng lớp MAC và có một phần tử giao thức mới là MAC-hs (high speed) trong BTS. Hình 2.4 minh họa một phần của kiến trúc giao thức phần người dùng dựa theo những tính năng bổ sung của HSDPA và vị trí của chúng trong phần tử mạng. RNC điều khiển MAC-d (delicate) nhưng chức năng duy nhất còn lại là chuyển mạch kênh truyền tải vì tất cả những chức năng khác như lập lịch biểu và xử lý ưu tiên đã được chuyển tới MAC-hs. Cần chú ý rằng lớp trên lớp MAC (cụ thể là lớp RLC) phần lớn vẫn không thay đổi ngoại trừ một vài sự tối ưu hóa cho các dịch vụ thời gian thực như VoIP. Ngay cả nếu HSDPA đã có truyền lại lớp vật lý thì lớp RLC vẫn có thể điều khiển truyền lại khi hoạt động của lớp vật lý có sự cố hay trường hợp đặc biệt là kết nối có những sự biến đổi như cell HS-DSCH thay đổi. Đây là chế độ hoạt động có báo nhận của RLC.

Kiến trúc giao thức người dùng HSDPA
Đối với HSUPA, có một phần tử lớp MAC mới được thêm vào BTS như trong hình 2.5. Đầu cuối cũng có phần tử lớp MAC mới là MAC-es/s để thay thế phần chức năng lập lịch biểu đã chuyển tới node B và nó dựa trên sự điều khiển thông tin từ RNC và một yêu cầu dung lượng trực tiếp từ thiết bị người dùng tới node B. Cũng có một giao thức mới cho RNC do chuyển giao mềm HSUPA và việc truyền lại lớp vật lý có ảnh hưởng đến việc làm các gói sai thứ tự. Khi dữ liệu nhận được từ một vài vị trí BTS, có một khả năng là thiết bị hoạt động trong khu vực chuyển giao mềm nên các gói đến từ những BTS khác nhau và có thứ tự không chính xác. Để sắp xếp lại thì chức năng sắp xếp lại cần được kết hợp với phân tập macro trong MAC-es. Vì thế, chức năng mới là hàng đợi truyền đi MAC-es có chức năng chính là đảm bảo cho các lớp trên gói tin được phân phối đúng thứ tự truyền từ đầu cuối. Chức năng sắp xếp được xử lý trong BTS nên sẽ có trễ vì BTS phải chờ những gói bị thiếu cho tới khi chúng được xác định là đã nhận được từ một BTS khác trong nhóm BTS đang hoạt động. Tương tự đối với HSDPA, lớp RLC trong HSUPA cũng có chức năng truyền lại các gói nếu lớp vật lý không thể truyền các gói đó đi sau khi vượt quá số lần truyền lại tối đa hoặc trong kết nối có những biến cố.

Kiến trúc giao thức người dùng HSUPA

3.Tác động của HSDPA và HSUPA đến các giao tiếp mạng truy nhập vô tuyến mặt đất UMTS (UTRAN : UMTS Terrestrial Radio Access Network)

Trong khi những tác động của HSDPA và HSUPA dưới dạng tốc độ dữ liệu trong giao tiếp không gian được quan tâm và thường là trọng tâm của các buổi thảo luận thì tác động của HSDPA và HSUPA lên sự hoạt động của những giao diện khác cũng cần được chú ý. Trong phiên bản R99, tốc độ dữ liệu ở đầu cuối trên những giao tiếp khác nhau hầu hết là 384kbps bao gồm cả giao tiếp Iu-ps tới mạng lõi gói node hỗ trợ dịch vụ GPRS (SGSN : Serving GPRS Support Node), tốc độ này bằng với tốc độ sử dụng trong vô tuyến. Tuy nhiên đối với HSDPA thì khác, trong giao tiếp không gian tốc độ dữ liệu có thể lên tới 14.4Mbps trong khoảng thời gian truyền (TTI : Transmission Time Interval) ngắn (2ms). Tuy nhiên điều này không có nghĩa là tốc độ đó đang được sử dụng trên giao tiếp Iub và Iu-ps cho người dùng. Từ góc nhìn của người dùng, tài nguyên vô tuyến là thời gian và mã được chia sẻ với những người dùng khác trong một cell nên tốc độ dữ liệu trung bình cho một người dùng trong một cell rõ ràng là thấp hơn. Hơn nữa tốc độ đỉnh 10Mbps yêu cầu những điều kiện sóng vô tuyến cực kỳ thuận lợi và không thể xảy ra trường hợp tất cả người dùng trong một cell đều có nhu cầu sử dụng tốc độ dữ liệu cao. Vì thế lưu lượng trung bình trên giao tiếp Iub cũng thấp hơn tốc độ đỉnh cho sóng vô tuyến.
Bộ đệm trong BTS cho phép có một tốc độ đỉnh cho sóng vô tuyến cao hơn trong một TTI nhỏ so với tốc độ trung bình trên Iub/Iu-ps. Vì có bộ đệm truyền trong BTS nên điều khiển luồng cần được tích hợp để tránh tràn bộ đệm. Trong phương pháp này người dùng dưới điều kiện sóng tốt hơn có thể có tốc độ dữ liệu cao hơn so với người dùng có điều kiện sóng vô tuyến xấu hơn. Người dùng có điều kiện sóng vô tuyến tốt hơn sẽ có nhiều sự phân phối Iub vì dữ liệu được truyền nhanh hơn nhìn dưới góc độ sóng vô tuyến. Mặt khác, khi bộ đệm bắt đầu đầy do điều kiện sóng vô tuyến không tốt (kết quả là tốc độ dữ liệu thấp) điều khiển luồng sẽ làm chậm luồng dữ liệu lại cho phù hợp với những người dùng này.
Đối với BTS và đầu cuối, nhân tố thay đổi trong HSDPA có liên quan đến sự bổ sung của chức năng lập lịch biểu và truyền lại tại BTS cũng như chức năng kết hợp gói cần thiết tại đầu cuối. Trong HSUPA, lập lịch biểu được điều khiển bởi BTS và có những yêu cầu cho luồng dữ liệu trong hướng lên cũng như những kênh báo hiệu mới cho HSUPA. Hiện nay chức năng kết hợp được đặt ở trạm gốc và chức năng sắp xếp lại được thêm vào RNC. Đầu cuối hiện nay sẽ có thể cho phép truyền dẫn đa mã nhưng chưa hoàn thiện trong môi trường thương mại.

4.Những trạng thái giao thức HSDPA và HSUPA


Các trạng thái của RRC trong HSDPA-HSUPA
Cell_DCH là trạng thái được sử dụng khi bắt đầu truyền dữ liệu từ (hoặc đến) đầu cuối trên DCH hay HSDPA/HSUPA. Từ trạng thái Cell_DCH đầu cuối sẽ được chuyển qua trạng thái Cell_FACH hay những trạng thái cao hơn bằng hai cách, hoặc là chuyển trực tiếp từ trạng thái Cell_DCH lên trạng thái cao hơn, hoặc là thông qua Cell_FACH nếu không có dữ liệu trong bộ đệm. Cần có một sự đồng bộ giữa thời gian đáp ứng của mạng cho việc gói đầu tiên được truyền sau một thời gian rỗi và bộ đếm bắt đầu hoạt động. Thời gian chuyển tiếp giữa các trạng thái phụ thuộc vào yêu cầu của việc cấu hình lại hay những quá trình cài đặt. Lưu giữ lại tài nguyên HSDPA/HSUPA dự trữ của người dùng khi không có dữ liệu truyền là không hiệu quả đối với dung lượng hệ thống hay tài nguyên BTS. Tuổi thọ pin của thiết bị đầu cuối cũng giảm do một đầu cuối hoạt động mà không có dữ liệu truyền qua cũng sẽ làm pin hết nhanh chóng.
Dữ liệu có thể được truyền trong trạng thái Cell_FACH nhưng chỉ cho kênh truy nhập chuyển tiếp (FACH) cho đường xuống và kênh truy nhập ngẫu nhiên (RACH : Random Access Channel) cho đường lên. Một đầu cuối trong trạng thái Cell_FACH sẽ giải mã kênh FACH và bắt đầu đáp ứng dữ liệu hướng xuống (hoặc bắt đầu truyền dữ liệu trong bộ đệm hướng lên) trên RACH. Phụ thuộc vào lượng dữ liệu đầu cuối có thể được chuyển trở lại trạng thái Cell_DCH.
Nếu thời gian rỗi kéo dài sẽ tác động đến việc chuyển trạng thái đầu cuối sang Cell_PCH hay URA_PCH. Những trạng thái này là nhân tố tác động lớn nhất tới mức tiêu thụ năng lượng đầu cuối. Hiển nhiên, việc sử dụng chu kỳ nhận gián đoạn (DRX : Discontinuous Reception) với hoạt động đánh số sẽ gây trễ vì để nối tiếp việc truyền dữ liệu thì đầu cuối cần được đánh số trước. Điều này xảy ra trong một cell (trạng thái Cell_PCH) và cả trong khu vực ưu tiên (trạng thái URA_PCH). Thuê bao di chuyển nhanh trong một mạng dày đặc sẽ cần nhiều sự cập nhật cell nên làm tăng tải trên RACH.

Symbol là gì? Dịch ra thì nó nghĩa là ký hiệu...Don't understand!!!?

Nguyên văn bởi thày nqbinhdi
Symbol không nên dịch là biểu trưng. Bản thân tôi khi dịch từ symbol cũng rất băn khoăn. Về bản chất, để có thể nâng cao hiệu quả sử dụng phổ (bandwidth efficiency), chức năng đầu tiên của điều chế số là ghép k bit thành một symbol, tức là thay vì sử dụng tín hiệu số cơ bản nhị phân để truyền tin (bit), chúng ta sử dụng tín hiệu số nhiều mức (M mức). Như vậy một tổ hợp k bit tạo nên một symbol - là một tín hiệu số có thể nhận một trong M = 2^k trạng thái hay giá trị có thể có và mang một lượng tin tức là k bit. Việc dịch symbol thành biểu trưng hay ký hiệu, hay dấu đều không lột tả được bản chất của vấn đề và theo kinh nghiệm của tôi, nó không giúp ích gì cho người mới học trong việc hiểu vấn đề cả. Trong tiếng Việt chúng ta từ trước không có khái niệm này.

Tôi rất muốn khuyến nghị mọi người sử dụng trực tiếp từ symbol như một từ lai, Việt hóa từ này như chúng ta đã từng sử dụng các từ xà phòng, đường ray, nhà ga, tăng-xê (hầm trú ẩn), ghi-đông mượn từ tiếng nước ngoài. Tại sao chúng ta đã sử dụng thành công các từ như bit hay chip mà lại không sử dụng từ symbol. Trước mắt, trong các tài liệu, để thể hiện việc mượn từ nước ngoài, chúng ta chỉ cần để từ symbol in nghiêng mà thôi. Đằng nào thì cũng chỉ những người làm kỹ thuật đọc đến những tài liệu này và vì vậy để nguyên từ như thế có khi còn dễ hiểu hơn là mỗi người dùng một từ Việt khác nhau mà gọi nó.
Nguyên văn bởi Tuan Duc
1 bit dữ liệu có giá trị 0 hoặc 1, để truyền giá trị 0 hoặc 1 đó thì người ta phải điều chế (bằng BPSK,QPSK, M-QAM... ) bit đó thành dạng symbol (ký tự).

Bản chất 1 symbols là 1 tín hiệu liện tục (hàm raised cosin, gaussian...). Trong OFDM sẽ gồm N sóng mang con liên tục, tại 1 khoãng thời gian thì trên mỗi sóng mang sẽ có 1 symbols, tức là có tổng cộng N symbols được truyền cùng lúc. 

Vấn đề ghép thành symbol để tăng tốc thì các bạn xem bài này mục m-QAM. Nói chung là người ta truyền không chỉ 1 bit (0 và 1) mà có thể truyền 1 tín hiệu nhiều mức (tổ hợp nhiều bit hơn), thế nên người ta mới ra cái khái niệm này

Hệ thống thông tin số


Định nghĩa : hệ thống thông tin số là tập hợp các thiết bị bao gồm (phần cứng, phần mềm, sụn), môi trường truyền dùng để truyền tin từ nơi này đi nơi khác bằng tín hiệu số.

Sơ đồ khối tiêu biểu :
Đây là sơ đồ tiêu biểu cho các hệ thống thông tin số, trong thực tế có thể nhiều hơn, có thể ít hơn hoặc có thể thay thế bằng một số khối khác.

- Nguồn tin : có thể là nguồn bất kỳ : voice, video, telex, data, image ..
- Tạo khuôn hay 1 từ tiếng anh lại quen thuộc hơn đó là format : định dạng tín hiệu thành tín hiệu số cơ bản (thường tốc độ lớn)
- Mã hóa nguồn : nén thông tin nhằm giảm V
- Mã hóa mật : Mã bản tin được mã hóa để đảm bảo tính riêng tư
- Mã hóa kênh: thêm các bit dư để kiểm tra lỗi hoặc sửa lỗi, khắc phục các tác động xấu của kênh truyền
- Ghép kênh: Ghép nhiều kênh con lên 1 kênh tổng để tận dụng hệ thống đường dài -> giảm chi phí (bạn thử tưởng tượng tivi có 20 kênh mà phải dùng 20 dây để nối vào máy tính thì sẽ thấy giá trị của nó ngay).
- Điều chế :
Điều chế ở đây là điều chế số rồi, ghép m bit thành 1 symbol, rồi mỗi symbol gán cho 1 dạng sóng truyền đi, bạn có thể xem thêm ở đây (bấm vào mục điều chế số để link đến bài điều chế số nhé).
- Trải phổ
- Đa truy nhập : cho phép nhiều người cùng truy cập vào mạng để sử dụng dịch vụ
- Máy phát đầu cuối :
  • Trộn, đưa tín hiệu từ IF -> RF vào băng tần được ấn định
  • Lọc, chia sẻ băng thông đường truyền
  • Khuếch đại, bù đắp tổn hao
  • Bức xạ năng lượng tín hiệu ra môi trường ngoài :
    + Vô tuyến : Feeder - Antenna
    + Quang : Coupler - Pig-tail
- Môi trường truyền:
  • Gây méo tín hiệu
  • Gây nhiễu
  • Gây tổn hao
 - Các khối của tuyến thu có chức năng ngược chức năng tương ứng ở tuyến phát


Các chỉ tiêu kỹ thuật cơ bản :
- BER (Bit error Rate/Ratio) = tổng số bit lỗi / tổng số bit truyền
- Tính nhanh chóng : c= [b/s] (tốc độ bit lớn nhất có thể truyền qua hệ thống với độ chính xác đã cho.

Nguồn : lấy từ vở chép trên lớp và sách Kỹ thuật truyền dẫn số - hvktqs

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2012

Các Đơn Vị Thường Dùng Trong ngành Viễn thông (dB, dBm, dBw dBd, dBi, dBc)

1. dBm, dBw

dBm là đơn vị công suất thuần túy (không so sánh). Cách tính 1dBm=10log(PmW/1mW)
Ví dụ: Công suất phát của thiết bị là 10W, biểu diễn dạng dBm là 10lg(10000/1)=40dBm.
Tương tự, dBW cũng là đơn vị công suất thuần túy, nhưng được chuyển đổi từ W sang. Vd: 1W –> 10lg(1) = 0dBW; 2W = 3dBW.
2. dBi, dBd
dBi và dBd đều là các đơn vị biểu diễn độ lợi công suất (power gain) của antenna, nhưng có tham chiếu khác nhau.
dBi so sánh power gain của antenna với antenna đẳng hướng (omni-antenna/isotropic antenna: antenna điểm có công suất phát đi các hướng bằng nhau)
dBd so sánh power gain của antenna với antenna lưỡng cực đối xứng (half-wave dipole)
0dBd = 2.15dBi
XdBd = (X + 2.15)dBi
Anten 3G (UMTS) thường có độ lợi khoảng 18dBi (dual: 2 x 18dBi)
3. dB
dB là đơn vị so sánh về độ mạnh (intensity), công suất (power).
Đối với điện áp (V), dòng (I) và trường E (điện trường, từ trường), công thức tính là 20lgX (dB)
Đối với công suất (P), độ lợi (G), công thức tính là 10lgX (dB)
Vd: Công suất A là XW tương đương X’dBm, Công suất B là YW tương đương Y’dBm. Khi đó so sánh A lớn hơn (nhỏ hơn) B bao nhiêu dB, tính bằng 10g(X/Y)dB hoặc (X’-Y’)dB.
Antenna A có độ lợi 20dBd, B là 14dBd, vậy A có độ lợi lớn hơn B 6dB
4. dBc
dBc  có phương pháp tính giống với dB và cũng là một đơn vị tương đối, có liên hệ đến một đại lượng khác. dBc thường được dùng mô tả khả năng của các RF components, vd: carrier power được mô tả bởi mức interference, coupling, scattering…
Ở đâu dùng dBc, ở đó có thể thay bằng dB. dBc ít được dùng đến.
----------------------------------
+ dB là deci Bell (với Bell là tên người do đó nó được viết hoa)
+ dB thì nó là 10lg(P2/P1).
+ dBm thì lúc này là 10lg(P/1mW).
mối quan hệ giữa dB và dBm là như sau:

X[dB] +Y [dB] = Z[dB]
X[dB]- Y[dB] = Z[dB]
X[dBm] + Y[dB] = Z[dBm]
X[dBm] - Y[dB] = Z[dBm]
X[dBm]- Y[dBm] = Z[dB]
X[dBm] + Y[dBm] = Z []

+ Với dBi thì i là viết tắt của từ đẳng hướng (isotropic). Nó là đơn vị của hệ số tăng ích của anten phát xạ đẳng hướng. Ngoài ra với anten phát xạ có hướng thì đơn vị của hệ số tăng ích là dBd. Và trong lúc tính toán thì dBi được coi như dB.
------------------------------------------------
Để chuyển giữa các đại lượng tính theo dB, dBm, ... bạn nên chú ý là các giá trị đó đều là giá trị so sánh theo 1 đại lượng chuẩn (reference), ví dụ dB lấy chuẩn là 1W, dBm lấy chuẩn là 1mW. Vì vậy để chuyển đổi qua lại thì cách dễ dàng nhất là chuyển về dạng tuyến tính rồi đổi ngược lại. Ví dụ 1.5dB = ? dBm. Ta chuyển 1.5dB sang W bằng 10^(1.5/10) = 1.4125W, đổi sang mW được 1412.5 mW, đổi ngược lại dBm 10*log(1412.5) = 31.5 dBm

Cách làm như vậy tuy dài nhưng không sợ sai, điều cốt yếu là bạn hiểu được những cái reference khác nhau (tuỳ mỗi lĩnh vực người ta sẽ chọn ra reference tương ứng)

Nhưng bạn cũng có thể làm cách khác nhanh hơn là dựa vào tương quan của các reference và tính chất của việc lấy logarithm, các bài toán nhân chia trong hệ tuyến tính trở thành bài toán cộng trừ trong hệ logarithm. Ví dụ A = B*1000 trong hệ tuyến tính thì trong hệ logarithm log(A) = log(B) + log(1000) nếu tính theo dB thì 10log(A) = 10log(B) + 10log(1000) = 10log(B) + 30.
Trở lại bài toán trên reference của dB là 1W, của dBm là 1mW cho ta thấy khi muốn chuyển từ dB sang dBm bạn chỉ cần cộng thêm 30.
Vì vậy khi bạn đã hiểu tương quan giữa các reference thì không cần đổi sang hệ tuyến tính nữa mà có thể trực tiếp làm trên hệ log.

1 chú ý nhỏ là dB còn được dùng để thể hiện tương quan giữa 2 đại lượng công suất A, B chứ không nhất thiết giữa A với 1. Lúc này nó chỉ thể hiện tương quan tỉ lệ chứ không có đơn vị. Ví dụ A = 4mW, B = 2mW -> ta nói công suất A gấp 2 lần B hoặc A lớn hơn B 3dB -> 3dB không có thứ nguyên.

Kết luận: chỉ cần hiểu đại lượng chuẩn là có thể đổi qua lại dễ dàng.

Bài viết này có rất nhiều trên mạng, không rõ nguồn gốc thực sự ở đâu, mình lấy nó ở trang :
http://yume.vn/mfc14082004/article/cac-don-vi-thuong-dung-trong-nganh-vien-thong-db-dbm-dbw-dbd-dbi-dbc.35CF3FD4.htm



Sau đây là một số nhận xét và bổ xung về bài viết đơn vị dB này :
  • dB là một đại lượng so sánh tương đối (so sánh giữa 2 đối tượng), lý do mà mình thấy nó được sử dụng phổ biến trong viễn thông vì nó có thể mô tả các đại lượng biến thiên cực lớn (rất hay gặp trong viễn thông) thành các đại lượng gần gũi nhau hơn, dễ quan sát hơn nhiều, có thể coi nó như là một loại đại lượng nén độ biến thiên lại. Như 1 trích dẫn ở diễn đàn vntelecom
    - dB là giá trị tỉ lệ, nó biểu hiện sự so sánh hai giá trị với nhau xem nó tăng hay giảm bao nhiêu lần. VD: suy hao chính là sự so sánh giữa công suất phát và công suất thu xem nó giảm bao nhiêu lần. Theo mình người ta nghĩ ra các dB này vì tỉ lệ thực tế rất lớn, dẫn đến ko thể vẽ trên đồ thị được nếu dùng đơn vị công suất. Giả sử mộ hệ thống có công suất phát là 0dBm, thu là -27dBm, dễ dàng vẽ đựoc trên đồ thị, nhưng nếu quy đổi ra mW thì nó là 1mW và thu là 1/512mW.
    Nếu bạn vẽ đồ thị cái trên vẫn nhìn rõ sự biến đổi các giá trị thấp, và cả giá trị
  • từ cái gốc dB, để dùng cho tiện, người ta có các đại lượng dBm, dBw ... (so sánh với 1 cái xác định - giá trị tuyệt đối : 1mW, 1W ...)
  • Cái công thức chuyển dB, dBm ở trên có thể làm cách sau để dễ nhớ hơn rất nhiều :
    Coi đại lượng dBm là 1, dB là 0, dBm luôn đứng trước dB trong phép toán, ta có như sau :
    X[dB] +Y [dB] = Z[dB]         (0+0=0)
    X[dB]- Y[dB] = Z[dB]           (0-0=0)
    X[dBm] + Y[dB] = Z[dBm]   (1+0=1)
    X[dBm] - Y[dB] = Z[dBm]   (1-0=1)
    X[dBm]- Y[dBm] = Z[dB]     (1-1=0)
    X[dBm] + Y[dBm] = Z []       (1+1=2, loại)
    Bạn chỉ cần nhớ quy ước ở trên thì cách suy đơn vị chỉ còn là các phép tính cộng trừ cho trẻ con lớp 1

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes