Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2012

So sánh các giải pháp MAC

Xem trước bài này http://tongquanvienthong.blogspot.com/2012/03/truy-nhap-va-cac-giai-phap-chia-se-moi.html

MAC (tiếng Anh: Media Access Control hay Medium Access Control có nghĩa là "điều khiển truy nhập môi trường")

Aloha & Slotted Aloha
  • Đơn giản & truyền nhanh ở tải thấp
  • Chấp nhận được số lượng lớn người dùng truyền dữ liệu kiểu cụm với lưu lượng thấp
  • Độ trễ thay đổi lớn ở tải thấp
  • Hiệu suất không phụ thuộc vào a (Trễ truyền sóng / Thời gian truyền một frame)
CSMA-CD
  • Truyền nhanh và có hiệu suất cao với tích trễ băng tần thấp
  • Có thể hỗ trợ một số lượng lớn người sử dụng truyền cụm
  • Trễ thay đổi và không dự đoán trước được

Đặt chỗ
  • Truyền theo yêu cầu các dòng dữ liệu kiểu cụm hoặc liên tục
  • Hỗ trợ được số lớn người sử dụng có lưu lượng thấp với phương thức đặt chỗ S-Aloha
  • Có thể tích hợp QoS
  • Xử lý tích trễ-băng thông lớn thông qua việc trao quyền trễ 

Thăm dò
  • Tổng quát hóa của ghép kênh phân chia thời gian
  • Tạo công bằng thông qua các cơ hội truy nhập thường xuyên
  • Có thể cung cấp các giới hạn về trễ truy nhập Phẩm chất suy giảm với tích trễ-băng thông lớn

Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2012

SIM điện thoại tích hợp NFC, công nghệ thanh toán của tương lai


Hiệp hội GSM Association gồm các nhà mạng lớn trên thế giới cho biết đã có đến 45 công ty viễn thông đồng ý sẽ hỗ trợ và tích hợp kết nối NFC vào những chiếc SIM của điện thoại. Điều này có nghĩa là bất cứ điện thoại nào dù cho cao cấp hay bình dân, có hệ điều hành hay không thì đều cũng có thể sử dụng NFC. Trong số 45 công ty kể trên có cả các hãng viễn thông lớn như AT&T, Vodafone, Verizon của Mỹ và một số hãng công ty khác ở châu Á. Họ cùng có chung mục tiêu là làm cho SIM điện thoại tích hợp NFC trở nên phổ biến để nhu cầu thanh toán qua NFC trở nên thuận tiện và dễ dàng hơn.

Một khi NFC trở nên phổ biến thì các dịch vụ thanh toán điện tử tương tự như Google Wallet chắc chắn sẽ xuất hiện nhiều hơn. Việc đưa NFC vào SIM là một bước đi thông minh vì nhờ đó mà bất cứ ai có điện thoại, miễn là có gắn SIM, đều sẽ có thể dùng điện thoại để thanh toán hóa đơn qua NFC chứ không cần họ phải sử dụng các smartphone chạy iOS, Android hay BlackBerry... Tuy mang lại tiềm năng lớn như thế nhưng người to cũng không quên lo ngại việc các hacker có thể ăn cắp thông tin SIM và nhân bản SIM của người khác để sử dụng một cách trái phép.

Người ra lo rằng một khi SIM đã bị nhân bản thì người ta có thể dùng chiếc SIM đó để nghe gọi hoặc thậm chí là dùng nó để mua hàng mà người trả tiền chính là chủ nhân tội nghiệp của chiếc SIM đó. Chưa biết liệu người ta có dùng đến cơ chế xác thực 2 bước, dùng mã PIN hay một cơ chế nào khác để xác thực việc mua bán hay không, nếu không tiến hành xác thực 2 bước thì bất cứ ai cũng có thể dùng điện thoại của bạn để mua hàng một cách rất dễ dàng.

Ngoài ra, GSM Association cũng sẽ làm việc với các đối tác của mình để phát triển các ứng dụng di động có thể dùng NFC để mua vé xem hòa nhạc, làm thẻ ra vào khách sạn hoặc dùng làm thẻ NFC để kích hoạt các loại xe máy. Một số các dự án khác như tạo thẻ khuyến mãi, coupon hay thẻ thành viên dùng NFC cũng đã và đang được phát triển.




Hiện thì công nghệ NFC đã có trong 1 số dòng điện thoại cao cấp tuy nhiên với công nghệ sim tích hợp NFC thì sẽ làm cho việc thanh toán thay thế thẻ ATM, VISA .. hay thậm chí thẻ xe bus, thẻ gửi xe, chứng minh thư hay hộ chiếu điện tử trở nên phổ biến, tiện lợi hơn rất nhiều
Chúng ta đã thấy điện thoại từ 1 công cụ có dây, chuyển sang không dây di động, từ chỉ có tính năng nghe gọi giờ đây đã trở thành máy nghe nhạc, thiết bị trợ giúp cá nhân với nhiều tiện ích, lướt web tích hợp cảm biến tọa độ, gps, la bàn ... giờ lại thay thế cả thẻ thanh toán (hình thức giao dịch không cần tiền mặt), trong tương lai không biết điện thoại sẽ phát triển đến mức nào nữa đây.

CSMA/CA

Carrier Sense Multiple Access with Collision Avoidance (CSMA-CA) : đa truy cập có tránh xung đột
Để hiểu CSMA các bạn nên đọc bài viết CSMA và CSMA/CD trước.

Theo tratu.vn:
Giải thích VN: Là một giao thức điều khiển truy cập mạng giống như CSMA/CD ở chỗ mỗi nút nghe ngóng mạng và chỉ truyền dữ liệu khi rỗi. Nhưng trong CSMA/CA, các nút tránh xung đột bằng cách gửi đi một tín hiệu đặc biệt gọi là 'Yêu Cầu Gửi' để thông báo với toàn mạng về ý định gửi dữ liệu của mình, và chờ sự xác nhận trước khi thực sự gửi dữ liệu đi

Thứ Năm, 5 tháng 4, 2012

CSMA/CD

CSMA/CD là viết tắt của Carrier Sense Multiple Access with Collision Detect trong tiếng Anh, nghĩa là đa truy cập nhận biết sóng mang phát hiện xung đột. Đây là nguyên tắc hoạt động của mạng LAN. Trong mạng LAN, khi một máy tính muốn truyền một gói tin, trước tiên nó sẽ lắng nghe xem trên đường truyền có sóng mang hay không (bằng cách lắng nghe tín hiệu Carrier). Nếu không có, nó sẽ thực hiện truyền gói tin (theo frame). Sau khi truyền gói tin, nó vẫn tiếp tục lắng nghe để xem có máy nào định truyền tin hay không. Nếu không có xung đột, máy tính sẽ truyền gói tin cho đến hết. Nếu phát hiện xung đột, nó sẽ gửi broadcast một gói tin báo hiệu cho các máy trên mạng không nên gửi tin để tránh làm nhiễu đường truyền, và sẽ tiến hành gửi lại gói tin. tiến trình các bước như sau:
  1. Một thiết bị có frame cần truyền sẽ lắng nghe đường truyền cho đến khi nào đường truyền Ethernet không còn bị chiếm.
  2. Khi đường truyền Ethernet không còn bị chiếm, máy gửi bắt đầu gửi frame.
  3. Máy gửi cũng bắt đầu lắng nghe để đảm bảo rằng không có xung đột xảy ra.
  4. Nếu có xung đột, tất cả các máy trạm đã từng gửi ra frame sẽ gửi ra một tín hiệu nghẽn để đảm bảo tất cả các máy trạm đều nhận ra collision.
  5. Sau khi tín hiệu nghẽn là hoàn tất, mỗi máy gửi của của những frame bị xung đột sẽ khởi động một bộ định thờI timer và chờ hết khoản thời gian này sẽ cố gắng truyền lại. Những máy không tạo ra collision sẽ không phải chờ.
  6. Sau khi các thời gian định thời là hết, máy gửi có thể bắt đầu một lần nữa với bước 1.
Nguồn http://vi.wikipedia.org/wiki/CSMA/CD

Cái này hơn CSMA ở chỗ khi cảm nhận xong phát luôn gói tin, nếu xung đột thì mất , còn cái này phát 1 phần gói tin mà thấy xung đột thì ngừng ngay (không mất công phát toàn gói), việc ngừng ngay sẽ giảm xung đột (giảm số trạm phát đụng nhau trên đường truyền) -> hiệu quả cao hơn

Giao thức CSMA

CSMA là viết tắt của từ Carrier Sense Multiple Access : đa truy nhập cảm nhận sóng mang
So với Aloha cứ có dữ liệu là tiến hành truyền, CSMA tìm cách giảm nguy cơ gây va chạm bằng cách trước khi truyền thì cảm nhận xem có sóng mang trên đường truyền không (có tín hiệu đang phát không). Tuy nhiên thì trong lúc phát thì tín hiệu vẫn cần thời gian để đến đich, nếu có trạm nào ở khoảng từ máy phát đến máy thu mà phát (tín hiệu chưa đến nên trạm đó chưa cảm nhận được) thì vẫn có khả năng xảy ra va chạm.

Dựa theo hành động khi kênh bận thì có 3 loại CSMA
  • 1-persistent CSMA (nóng vội nhất):
    Nếu thấy kênh bận thì chờ nhưng rỗi 1 cái là truyền ngay. Độ trễ thấp nhưng hiệu quả thấp
  • Non-persistent CSMA
    Đợi một khoảng thời gian lùi, sau đó cảm nhận lại kênh. Trễ lớn nhưng hiệu suất cao
  • p-persistent CSMA
    Là loại dung hòa giữa 2 loại trên, với 1 xác suất p (0<p<1) thì dùng cái 1-persistent, nếu không thì truyền kiểu Non.

Có một số dạng CSMA cải tiến : CSMA/CD (dùng trong mạng LAN), CSMA/CA (dùng trong WLAN)

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

Giao thức Aloha

Giao thức ALOHA

Một tập các tiêu chuẩn để trao đổi thông tin giữa hai hệ thống máy tính hoặc hai thiết bị máy tính với nhau được gọi là giao thức (Protocol).Các giao thức còn được gọi là nghi thức hoặc định ước của mạng máy tính.

Để đánh giá khả nǎng của một mạng được phân chia bởi các trạm như thế nào. Hệ số này được quyết định chủ yếu bởi medium access (hiệu quả sử dụng môi trường truy xuất) của giao thức, môi trường này ở dạng tuyến tính hoặc vòng..

Giao thức Aloha là giao thức OSI lớp 2 cho mạng LAN với Broadcast topology

Về cơ bản bước đầu phương thức này là:

* Nếu có dữ liệu,thì gửi dữ liệu
* Nếu tin xung đột với đường truyền khác thì sẽ gửi lại sau (sau 1 khoảng thời gian backoff ngẫu nhiên)

Pure Aloha có thông lượng cực đại khoảng 18.4%.Điều này có nghĩa là khoảng 81.6% tổng băng thông đã bị bỏ phí mất do xung đột gói.Tính toán thông lượng cơ bản dựa trên giả thiết rằng toàn bộ quá trình tới sau một Điểm Phân Phối với số trung bình tới của 2G tới trên mỗi 2X giây.Bởi vậy tham số Lam-đa tại Điểm Phân Phối là 2G.Đỉnh đạt tới G=0.5 dẫn đến kết quả là thông lượng cực đại 0.184 (tức là 18.4%)

Một bước phát triển mới của giao thức Aloha là Slotted Aloha, nó rời rạc hóa khe thời gian và tăng thông lượng cực đại lên tới 36.8%. Một trạm chỉ có thể gửi ở bắt đầu của khe thời gian,và do đó xung đột được giảm thiểu. Trong trường hợp số trung bình của toàn bộ lượng đến là G tới trên 2X giây,nó đẩy tham số Lam-đa tới G. Thông lượng đạt cực đại cho G=1.

* Có thể làm giảm xác suất xung đột khung
* Tạo các khe thời gian rộng X giây
* Các trạm chỉ được phép gưỉ khung khi bắt đầu một khe thời gian
* Backoff time là số nguyên lần khe thời gian

Cần chú ý rằng các đặc tính của Aloha vẫn không có nhiều sự khác biệt so với Wi-Fi,còn xung đột hệ thống vẫn còn nhiều bất cập trong các hệ thống này.Ví dụ như 802.11b với khoảng 2-4Mb/s thông lượng thực,trái với lý thuyết là 11Mbit/s thông lượng cực đại.
Lịch sử

Norm Abramson là một giáo sư khoa học tại Stanford,và đồng thời cũng là một người ham mê lướt sóng . Sau khi đến Hawaii vào năm 1969, Abramson đã có lời đề nghị được làm việc tại Đại Học Hawaii.Năm 1970 Abramson bắt đầu làm việc tại một trạm hệ thống giao tiếp dữ liệu vô tuyến được tài trợ bởi Larry Robert nơi có nhiệm vụ liên lạc các đảo ở Hawai lại với nhau.

Mạng chuyển mạch gói không dây đầu tiên trên thế giới . Abramson sau đó đã cố gắng để có IMP(Interface Message Processor) từ Roberts và đã kết nối ALOHAnet với ARPANET đặt tại đảo chính vào năm 1972.Đây là lần đầu tiên một hệ thống khác được kết nối với ARPAnet.

Một số biển thể của giao thức Aloha(như Slotted Aloha) còn xuất hiện sau giao thức giao diện vô tuyến các mạng không dây thông dụng như ARDIS,Mobitex,CDPD,GSM

Aloha Mode

* X: Transmission time X=L/R
* S:Throughput số Frame truyền thành công trong X giây
* G:Load số yêu cầu truyền trung bình trong X giây
* P success: xác suất truyền khung thành công
* S=GP success
* Bắt đầu truyền khung trong X giây sẽ có khả năng bị xung đột,ngược lại sẽ có khả năng thành công nếu truyền sau 2X giây

Bổ xung

Với mục đích ban đầu là tạo ra một mạng thông tin liên lạc vô tuyến giữa các khu vực khác nhau của đại học Hawai nằm trên các đảo khác nhau, vì thế mạng ALOHA ra đời. Là một trong các phương thức truyền tin sử dụng chung kênh truyền dẫn, ở đây là kênh vô tuyến; vì sử dụng kênh vô tuyến nên một lúc chỉ có một trạm gửi và một trạm nhận. Có thể có nhiều trạm trên cùng một mạng.

Khi 2 trạm cùng gửi thì sẽ gây ra xung đột và buộc phải gửi lại gói tin, tuy nhiên ở đây áp dụng thuật toán Back-off tức là sau một khoảng thời gian được chọn dựa trên thuật toán cùng tên thì mới gửi lại, đối với Slotted ALOHA thì Back-off là một số nguyên lần của Time-slot, tuy nhiên không quá 15.

ALOHA trong thổ ngữ của Hawai có nghĩa là "xin chào", hiểu ý nghĩa ở đây vừa là mạng chuyển mạch gói vô tuyến đầu tiên trên thế giới vừa giống như khi ta gọi điện, ta nói "alo".

Một phương thức khác có nguyên tắc khá giống ALOHA, tuy nhiên đưa ra nhiều giải pháp để giảm, tránh và khắc phục lỗi hơn là CSMA (Carrier Sensor Media Access - Đa truy cập cảm ứng (theo dõi) sóng mang), tức là nó sẽ theo dõi kênh truyền chung, nếu phát hiện có trạm khác đang gửi thông tin thì nó sẽ không gửi tin,... 

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2012

NFC - công nghệ được chờ đợi nhất cho smartphone

Nexus S không chỉ là smartphone đầu tiên sử dụng hệ điều hành Android 2.3 Gingerbread mà còn mang đến một công nghệ được nhắc nhiều trong những tháng cuối năm: NFC.

NFC (Near Field Communication - giao tiếp trường gần) bắt đầu thu hút chú ý khi Nokia tích hợp chip này trong phiên bản C7, tuy nhiên, người dùng chưa thể khai thác do phần mềm NFC chưa hoàn thiện.
Ngay sau đó, một số blog rộ thông tin Apple đã mời chuyên gia hàng đầu về NFC là Benjamin Vigier về làm việc cũng như đăng ký bản quyền sở hữu trí tuệ cho một loạt ứng dụng liên quan đến công nghệ này.
NFC biến điện thoại thành ví điện tử hay công cụ trao đổi dữ liệu nhanh chóng. Ảnh: Gizmodo.
NFC biến điện thoại thành ví điện tử hay công cụ trao đổi dữ liệu nhanh chóng. Ảnh: Gizmodo.
Ngày 6/12, Google công bố Nexus S hỗ trợ NFC với tham vọng trở thành công ty tiên phong trong việc thay đổi cách con người sử dụng và tương tác với điện thoại tại Mỹ. Trang Gizmodo đưa ra những lý giải cơ bản về NFC.

NFC là một công nghệ không dây phạm vi hẹp

Đây không phải công nghệ mới mang tính đột phá. Thực thế, nó chỉ là một biến thể của công nghệ không dây hoạt động trong phạm vi hẹp và đã xuất hiện ở Nhật và một số quốc gia châu Âu. Giống RFID (kỹ thuật nhận dạng sóng vô tuyến từ xa), NFC nhanh chóng trao đổi thông tin giữa các thiết bị khi chúng chạm vào nhau hoặc ở sát nhau. Người dùng có thể truyền đi text, hình ảnh, đường link và những dữ liệu khác đơn giản chỉ bằng cách vẫy điện thoại.

NFC dùng nam châm để gửi dữ liệu

Dựa trên độ liên kết từ thông (inductive-coupling) giống như trong các phát minh về sạc pin không dây, NFC có thể trao đổi dữ liệu trong khoảng cách 4-10 cm. Trong Nexus S, nó được tích hợp như một công cụ đọc dữ liệu, tức người dùng chỉ có thể đọc thông tin từ những thiết bị gắn thẻ NFC như biển hiệu, cửa kính, túi xách...

NFC đơn giản hóa cuộc sống

Dù chưa phổ biến thế giới, NFC rất được ưa chuộng ở Nhật, nơi mọi người có thể dùng điện thoại tích hợp công nghệ này để mua vé tàu hay biến smartphone thành thiết bị thanh toán không tiếp giáp (contactless) tại các cửa hàng bán lẻ. Google hy vọng việc đưa NFC vào điện thoại Android đầu bảng tính đến thời điểm này là Nexus S sẽ nâng vị trí của công nghệ không dây mới tại Mỹ.

Tiềm năng của NFC

Có hàng trăm ứng dụng về mặt lý thuyết cho NFC. Google cũng đã nêu một số ý tưởng, chẳng hạn khi người sử dụng đến rạp chiếu phim và thấy poster giới thiệu tác phẩm điện ảnh Tron. Hãng Disney đã gắn trước một thẻ từ tính (NFC tag) bên trong và người xem chỉ cần áp điện thoại lên tấm poster. Lập tức họ nhận được đoạn trailer mới nhất cùng các thông tin liên quan đến bộ phim. Hoặc khi đi ngang qua một biển hiệu, họ đặt máy vào dòng chữ "For Sale" (đang bán) để truy cập vào trang web và đặt mua sản phẩm.

Hybrid ARQ

Dịch theo wiki tiếng anh http://en.wikipedia.org/wiki/Hybrid_automatic_repeat_request thì:

Hybrid automatic repeat request (Hybrid ARQ hay HARQ) là sự kết hợp của mã hóa sửa lỗi trước (forward error-correcting coding - FEC) và điều khiển lỗi ARQ cho các lỗi phát hiện được nhưng không sửa được. Trong ARQ chuẩn, các bit dư thừa được thêm vào dữ liệu truyền sử dụng một mã kiểm tra lỗi nào đó như CRC. Trong Hybrid ARQ, một mã được sử dụng có thể làm cả công việc sửa lỗi trước thêm vào việc phát hiện lỗi (error detection - ED) (như là mã Reed-Solomon, mã xoắn, mã turbo), để sửa một tập con trong tất cả các lỗi mà nếu dùng ARQ thì không thể sửa trong lần đầu tiên phát. Kết quả là Hybrid ARQ hiệu quả tốt hơn ARQ trong các điều kiện tín hiệu không tốt, nhưng trong dạng đơn giản nhất này đi kèm với hiệu quả thông lượng thấp hơn đáng kể trong điều kiện tín hiệu tốt. Thường có một điểm chất lượng tín hiệu mà dưới đó thì Hybrid ARQ tốt hơn và chất lượng trên nó thì ARQ tốt hơn.

Nói chung ARQ thì mình đã có bài điều khiển lỗi giới thiệu, cái sửa lỗi trước thì có thể xem ở đây


So với ARQ thì do có sửa lỗi trước nên nó đóng góp làm giảm số lần phải truyền lại, tuy nhiên các mã truyền sửa lỗi FEC tốn dung lượng, để tối ưu thì thay vì lần đầu phát cả FEC lẫn ED mà người ta lần đầu sẽ phát khối tin kèm mã kiểm tra, sau nếu lỗi thì sẽ có một số tùy chọn, phát lại phần bổ xung để sửa lỗi cho lần phát một hoặc phát lại cả nội dung kèm cả mã phát hiện và mã sửa lỗi .. Các bạn cần tìm hiểu sâu thì đọc wiki nhé.

HARQ ứng dụng cho hsdpa (3.5G) , trên wiki thấy cả cho wimax, lte (>3.5g) và cả mạng LAN.

CCNA Lab Series tiếng việt

Tài liệu gồm 37 bài lab thực hành :

http://www.mediafire.com/download.php?7vja3p2ivy7ms78

Lấy từ blog http://manthang.wordpress.com

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

Forward Error Correction - FEC (sửa lỗi trước)

Forward Error Correction là một kỹ thuật được áp dụng cho việc truyền dữ liệu mà chủ yếu là cho lĩng vực multicast (một phát cho tất cả). FEC là kỹ thuật sữa lỗi, trong đó các lỗi xảy ra có thể được sữa bởi FEC khi dữ liệu đến đầu nhận. Khả năng sữa lỗi của FEC là tùy thuộc vào mã được sử dụng để mã hoá. Forward là do khi áp dụng mã FEC vào thì đầu nhận có khả năng sữa lỗi rồi nên không cần Auto Retransmit reQuest (ARQ), do vậy mà các dữ liệu được gửi đến một cách liên lục.
Thực ra FEC là một kỹ thuật cũ, 1986 người Mỹ lần đầu áp dụng FEC vào trong truyền thông tin giữa tàu Voyager và trạm mặt đất, 1995s thì được đưa vào trong truyền thông cáp quang. Còn đầu những năm 1990s thì nó đã được đưa vào DVB rồi. Nhưng mình đã tìm bằng google tất cả những site Việt Nam rồi nhưng không có site nào nói về FEC cả.


Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes