Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012

Các loại mô hình kênh truyền thông dụng thường gặp

Mô hình kênh thường được dùng trong tính toán và nhất là hay dùng trong mô phỏng (máy tính tính hộ). Mình không giỏi mấy môn tính toán, xác suất và nhất là ở trường cũng chỉ dạy về AWGN (tạp âm nhiệt hay nhiễu Gauss), đi thi không hiểu gì đến mấy dòng công thức xác suất, phân bố thì cố học thuộc để chép vào bài thi thôi (các bạn có khả năng thì đừng như mình nhé), các bạn muốn tìm hiểu thêm về tính toán thì xem sách vở hoặc google để có tài liệu chuyên sâu.
Tuy nhiên đến lúc làm đồ án thì lại vấp phải vì cần phải mô phỏng kênh vô tuyến di động 3.5G HSDPA, nhưng mà may, thời buổi xa lộ thông tin và mã nguồn các kênh thì đã có code sẵn, tuy nhiên với những bạn như mình trở xuống thì vẫn cần phải biết một vài loại kênh để mà áp dụng. Sau đây là các loại kênh minh biết :
  • AWGN : có nguyên 1 bài viết ở đây , đây là loại mà ở đâu cũng có (chắc trừ trong vụ trụ thì may ra không), trong mô phỏng thì mình xem code thấy khi chọn mô hình kênh Rayleigh thì trước đó vẫn được cộng AWGN rồi. Về đặc điểm thì nếu mô phỏng mà chỉ có AWGN thì là các bạn đang mô phỏng một kênh rất tốt (trước học thì thấy là kênh hữu tuyến, cáp đồng - không rõ cáp quang thì thế nào).
  • Rician (kênh Rice): dùng để mô tả kênh vô tuyến mà có yếu tố truyền thẳng (có thể truyền tín hiệu thẳng từ máy phát đến máy thu mà không bị che chắn), tất nhiên có cả các yếu tố đa đường thông thường. Kênh này kiểu như mô tả chất lượng kênh ở mức trung bình.
  • kênh Rayleigh là kênh tổng hợp của các kênh bao gồm cả các đường phản xạ, nhiễu xạ, khúc xạ mà ko chứa đường LOS (Line-of-sight).

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2012

Điều khiển từ xa hoạt động như thế nào?


Ngày nay, những thiết bị điều khiển từ xa để điều khiển các thiết bị gia đình như ti vi, máy điều hòa, đầu đĩa, các loại đồ chơi ngày càng phổ biến... Thế nhưng chúng hoạt động ra sao?
Trong thời đại ngày nay, chúng ta không thể thiếu những thiết bị điều khiển từ xa để điều khiển các thiết bị gia đình như ti vi, máy điều hòa, đầu đĩa, các loại đồ chơi… vậy điều khiển từ xa có các loại cơ bản nào và chúng hoạt động ra sao để điều khiển được các vật dụng ở đằng xa một cách chính xác?
Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)


Điều khiển từ xa đã có từ thời Chiến tranh thế giới thứ Hai
Ít người biết rằng những chiếc điều khiển từ xa đầu tiên trên thế giới được ra đời nhằm mục đích phụ vụ cho chiến tranh. Các loại điều khiển từ xa bằng tần số vô tuyến xuất hiện vào Thế chiến I nhằm hướng dẫn các tàu hải quân Đức đâm vào thuyền của quân Đồng Minh.
Đến Thế chiến II, điều khiển từ xa dùng để kích nổ những quả bom. Sau chiến tranh, công nghệ tuyệt vời của chúng tiếp tục được cải tiến để phục vụ đắc lực trong đời sống con người. Và đến nay, có thể nói, gần như ai cũng đã từng sử dụng điều khiển từ xa để điều khiển một thiết bị nào đó.
Ban đầu, người ta dùng điều khiển từ xa sử dụng công nghệ tần số vô tuyến RF (Radio Frequency) và sau đó bắt đầu ứng dụng công nghệ hồng ngoại IR (Infrared Remote) vào điều khiển từ xa. Hiện nay trong đời sống, chúng ta sử dụng cả hai loại điều khiển từ xa này. Như vậy, sự khác biệt trong cấu tạo, tính năng và hạn chế của từng loại ra sao?
Điều khiển từ xa bằng tia hồng ngoại (IR)
Ngày nay, đây là loại điều khiển từ xa có vai trò “thống trị” trong hầu hết các thiết bị gia đình. Một chiếc điều khiển IR sẽ gồm các bộ phận cơ bản nằm trong một hộp nối cáp kỹ thuật số như sau: Các nút bấm; một bảng mạch tích hợp; các núm tiếp điểm; đi - ốt phát quang (đèn LED).
Nguyên lý cơ bản của loại điều khiển từ xa này là sử dụng ánh sáng hồng ngoại của quang phổ điện từ mà mắt thường không thấy được để chuyển tín hiệu đến thiết bị cần điều khiển. Nó đóng vai trò như một bộ phát tín hiệu, sẽ phát ra các xung ánh sáng hồng ngoại mang một mã số nhị phân cụ thể. Khi ta ấn một nút phía bên ngoài thì sẽ vận hành một chuỗi các hoạt động khiến các thiết bị cần điều khiển sẽ thực hiện lệnh của nút bấm đó.
Sơ đồ bộ điều khiển từ xa. (Ảnh: HowStuffWorks)
Quy trình này cụ thể như sau: Đầu tiên, khi ta nhấn vào một nút như “Tăng âm lượng” chẳng hạn, nó sẽ chạm vào núm tiếp điểm bên dưới và nối kín một mạch tăng âm lượng trên bản mạch. Các mạch tích hợp có thể tự dò tìm ra từng mạch cụ thể cho từng nút bấm. Tiếp đó các mạch này sẽ gửi tín hiệu đến đèn LED nằm phía trước. Từ đây, đèn LED sẽ phát ra một chuỗi các xung ánh sáng chứa các mã nhị phân (gồm những dãy số 1 và 0) tương ứng với lệnh “tăng âm lượng”. Mã lệnh này gồm nhiều mã con như khởi động, tăng âm lượng, mã địa chỉ thiết bị và ngừng lại khi ta thả nút ra.
Về phía bộ phận cần điều khiển, nó sẽ gồm một bộ thu tín hiệu hồng ngoại nằm ở mặt trước để có thể dễ dàng nhận được tín hiệu từ điều khiển từ xa. Sau khi đã xác minh mã địa chỉ này xuất phát đúng từ chiếc điều khiển của mình, chúng sẽ giải mã các xung ánh sáng thành các dữ liệu nhị phân để bộ vi xử lý của thiết bị có thể hiểu được và thực hiện các lệnh tương ứng.
Hiện nay, ta sử dụng thiết bị điều khiển IR cho hầu hết các vật dụng trong nhà như tivi, máy stereo, điều hòa nhiệt độ…. Chúng rất bền, tuy nhiên lại có hạn chế liên quan đến bản chất chỉ truyền theo đường thẳng của ánh sáng. Do đó, loại điều khiển IR có tầm hoạt động chỉ có khoảng 10 mét và cũng không thể truyền qua các bức tường hoặc vòng qua các góc. Chúng chỉ hoạt động tốt khi ta trỏ thẳng hay gần vị trí bộ thu của vật dụng cần điều khiển.
Ngoài ra, nguồn ánh sáng hồng ngoại có ở khắp nơi như ánh sáng mặt trời, bóng đèn huỳnh quang, từ cơ thể con người… nên có thể làm cho điều khiển IR bị nhiễu sóng. Để tránh hiện tượng này, người ta phải cài đặt cho bộ lọc của các bộ phận thu chỉ thu nhận những bước sóng đặc biệt hoặc tần số riêng biệt của ánh sáng hồng ngoại phù hợp với nó và chặn ánh sáng ở bước sóng khác để hạn chế sự nhiễu sóng một cách tối đa.
Điều khiển từ xa bằng tần số vô tuyến (RF)
Là loại điều khiển từ xa xuất hiện đầu tiên và đến nay vẫn giữ một vai trò quan trọng và phổ biến trong đời sống. Nếu điều khiển IR chỉ dùng trong nhà thì điều khiển RF lại dùng cho nhiều vật dụng bên ngoài như các thiết bị mở cửa gara xe, hệ thống báo hiệu cho xem các loại đồ chơi điện tử từ xa thậm chí kiểm soát vệ tinh và các hệ thống máy tính xách tay và điện thoại thông minh…

Một số điều khiển từ xa. (Nguồn: Internet)
Với loại điều khiển này, nó cũng sử dụng nguyên lý tương tự  như điều khiển bằng tia hồng ngoại nhưng thay vì gửi đi các tín hiệu ánh sáng, nó lại truyền sóng vô tuyến tương ứng với các lệnh nhị phân. Bộ phận thu sóng vô tuyến trên thiết bị được điều khiển nhận tín hiệu và giải mã nó. So với loại điều khiển IR, lợi thế lớn nhất của nó chính là phạm vi truyền tải rộng, có thể sử dụng cách thiết bị cần điều khiển đến hơn 30 mét đồng thời có thể điều khiển xuyên tường, kính…
Tuy nhiên, nó cũng có hạn chế đó là tín hiệu vô tuyến cũng có mặt khắp nơi trong không gian do hàng trăm loại máy móc thiết bị dùng các tín hiệu vô tuyến tại các tần số khác nhau. Do đó, người ta tránh nhiễu sóng bằng cách truyền ở các tần số đặc biệt và nhúng mã kỹ thuật số địa chỉ của thiết bị nhận trong các tín hiệu vô tuyến. Điều này giúp bộ thu vô tuyến trên thiết bị hồi đáp tín hiệu tương ứng một cách chính xác.
Hiện nay, cả hai loại điều khiển này đều được ứng dụng hết sức rộng rãi trong đời sống. Người ta còn tích hợp cả hai lại để tạo thành những loại điều khiển từ xa vạn năng có thể điều khiển nhiều loại thiết bị cùng lúc hay chỉ cần bấm một nút sẽ tự động thực hiện một chuỗi lệnh tuần tự. Ngoài ra, con người còn cải tiến các bộ mở rộng nhằm chuyển đổi tín hiệu vô tuyến thành các xung hồng ngoại nhằm mở rộng phạm vi điều khiển hoạt động của các thiết bị trong gia đình…


Theo Báo Đất Việt

MODEM là gì



Modulation - Demodulation: thiết bị điều chế và giải điều chế. Ví dụ với các modem ADSL hiện nay, line in sử dụng cáp tín hiệu analog (tương tự) (có thể chung dây điện thoại luôn - như VNN, Viettel vẫn làm). Đến nơi người sử dụng, cắm vào máy tính để sử dụng, vì vậy phải giải điều chế và điều chế thành tín hiệu digital (số). Và ngược lại, khi các ứng dụng trên máy tính đóng gói các gói tin, đẩy xuống tầng dưới (card mạng - NIC), tín hiệu ra là tín hiệu số (các dòng bit nhị phân), đến modem, nó cũng ko truyền ngay được, vì môi trường đến ISP là analog, cũng phải thực hiện điều chế để truyền đi.

Lý do cần điều chế thì các bạn xem ở đây :
http://tongquanvienthong.blogspot.com/2012/02/ly-do-can-ieu-che-va-cac-loai-ieu-che.html

Thường thì modem của chúng ta giờ ngoài loại một cổng còn có loại nhiều cổng , tức là tích hợp cả switch ở trong đó luôn rồi,  hỗ trợ router luôn nữa.

Theo như bên vnpro có bàn luận, thấy có 2 bài viết đáng chú ý như sau :

1. Modem ADSL: dân kỹ thuật mình hay gọi quen rồi hay sao đó, chứ về bản chất thì modem chính là cái card modem hoặc cái Box modem để kết nối đường Dial up qua điện thoại để kết nối internet. Công dụng chính là chuyển đổi tín hiệu từ analog sang digital mà thôi, còn phần việc làm sao để kết nối internet thì do 1 router trên trạm họ làm. Như vậy khi họ chỉ con Router mà bạn dùng ở nhà để kết nối internet mà nói là : đây là còn modem ADSL thì họ đã gọi tắc đi mà thôi ( tắc đồng nghiã với sai về kỹ thuật )

2. Router ADSL: router là thiết bị định tuyến, tức là toàn bộ quá trình kết nối internet của bạn sẽ do con router này quyết định đường đi sau khi đã thiết lập PPPOE để kết nối. router ADSL thuộc lớp Access và nó là thiết bị layer 3, khác hẳn về cả vai trò và chức năng so với thiết bị modem layer 1. Nếu các bạn lưu ý sẽ thấy không có bất kì thiết bị được gọi là modem ADSL nào mà không có đính kèm chữ router.



+ modem: một đặc điểm cơ bản của modem là nó có thể điều chế và giải điều chế các tín hiệu mang tin vào các tín hiệu đường dây để có thể truyền đi xa trong kết nối WAN. Quá trình điều chế có thể là số hoặc tương tự, điều này thì Router không thể làm được nếu không lắp thêm card chuyên dụng. Modem không có chức năng định tuyến cao cấp, ko cấu hình được giao thức định tuyến, cũng như nhiều tính năng khác của router, chỉ có tác dụng kết nối đến ISP và làm gateway cho mạng của bạn kết nối ra ngoài. Modem ADSL (router ADSL) có 2 chế độ hoạt động:
Chế độ route : có hỗ trợ routing (static route, RIP), tuy nhiên ko hỗ trợ đầy đủ các giao thức định tuyến như một router thực sự. Một số modem cũng có chức năng định tuyến nhưng nó không hỗ trợ nhiều giao thức định tuyến như Router thôi. Một số Modem ADSL có hỗ trơ dynamic routing (RipV1,RipV2) Static Routing là D-link…..
Chế độ bridge : ở chế độ hoạt động này, modem ADSL (router ADSL) như một cầu nối => khi đó modem ADSL (router ADSL) không còn chức năng định tuyến nữa. Modem ADSL lúc này chỉ thực hiện chuc năng kết thúc của đường truyền ADSL. Thiết bị đóng vai trò gateway sẽ do một thiết bị phía sau modem đảm nhận (là router chẳng hạn).

+ router: ngược lại với những điểm trên của modem, giống với modem ADSL là có thể kết nối ADSL (nếu như router đó có hỗ trợ kết nối ADSL). Tác dụng của Router thì chắc không phải nói nhiều, nó có hai tính năng cơ bản đó là tìm đường và chuyển mạch các gói tin từ các môi trường khác nhau ví dụ từ Ethernet sang HDLC.

Người ta thường gọi modem ADSL là Router ADSL vì ngoài chức năng điều chế tín hiệu ADSL nó còn có thể thực hiện một số tính năng của Router như định tuyến tĩnh hoặc động (thường là RIP) tuy nhiên năng lực định tuyến thường không cao, thường chỉ áp dụng cho các kết nối đến nhà khác hàng hoặc một chi nhánh văn phòng nhỏ.


 Nói chung đã kéo đường dây điện thoại (cái dây đen đen mảnh mảnh, không phải dây lan tròn tròn đâu nhé) vào 1 đầu rồi đầu kia là cổng LAN thì là modem (hay thiết bị có tích hợp tính năng modem), router dùng để định tuyến trong mạng (tức là tìm đường từ máy của mình đến đích đó), trong mạng vnpt, fpt hay viettel adsl thì router ở các trạm rồi, để truyền đi xa thì dùng modem để truyền thôi, về đến máy tính thì giải mã, giải điều chế rồi chia sẻ giữa các cổng switch. Theo mình nghĩ thì nếu chỉ để giải mã không thôi thì modem không cần tính năng switch và router vẫn chạy được.

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

Mạng diện rộng WAN (wide area network)

Mạng diện rộng WAN (wide area network) là mạng dữ liệu được thiết kế để kết nối giữa các mạng độ thị (mạng MAN) giữa các khu vực địa lý cách xa nhau. Xét về quy mô địa lý, mạng GAN( global area network) có quy mô lớn nhất, sau đó đến mạng WAN và mạng LAN.  

Các tổ chức xây dựng WAN
  • Các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế xây dựng mạng WAN bao gồm ITU-T, ISO, IETF, EIA, TIA. Xem bảng sau:
  • Các tiêu chuẩn WAN thường mô tả các yêu cầu đối với lớp vật lý và lớp liên kết dữ liệu, bao gồm việc đánh địa chỉ vật lý, điều khiển luồng (flow control) và đóng gói (encapsulation).
Mô hình mạng
Trong mô hình tham chiếu OSI, WAN hoạt động từ lớp 3 (lớp mạng) trở xuống, bao gồm: Lớp 1 (Lớp vật lý) 

Các thiết bị mạng WAN
Các thiết bị sử dụng cho mạng WAN gồm có: router, switch, modem (CSU/DSU), communication server (Server giao tiếp). 

Ứng dụng
WAN được sử dụng cho các mạng dùng riêng point-to-point, sử dụng trong các mạng chuyển mạch gói (X.25, frame relay), chuyển mạch kênh (ATM, ISDN). 

Các giao thức đường truyền
Các giao thức đường truyền phổ biến sử dụng cho mạng WAN gồm:
  • PPP (point-to-point protocol): sử dụng cho các kết nối dialup (quay số).
  • HDLC (high-level data link control): sử dụng cho các mạng point-to-point dành riêng.
  • LAPD (link access procedure D channel): sử dụng cho các mạng ISDN kênh D (D Channel).
  • LAPB (link access procedure balanced): sử dụng cho mạng chuyển mạch gói X.25.
  • LAPF (link access procedure frame): sử dụng cho mạng chuyển mạch gói Frame relay.
 Nguồn http://vi.wikipedia.org/wiki/WAN

Lúc học ccna thì thấy là khi công ty có nhiều tòa nhà cách nhau thì chơi mạng này

Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

Một mẫu truyện ngắn về Stress

[IMG]

Xã hội thông tin đang phát triển như vũ bão, những áp lực của cuộc sống hiện đại ngày càng gây nhiều nguy hại đến sức khỏe tinh thần của con người. Trong quá trình làm việc với tình trạng căng thẳng, mệt mỏi, công việc của chúng ta cũng sẽ không được giải quyết hiệu quả. Và dường như stress cũng đang ngày càng xuất hiện nhiều hơn đối với dân công nghệ chúng ta.

Nhân dịp tháng hưởng ứng nhận thức về Stress – tháng 4, mình xin giới thiệu anh em một bài Infographic kể về câu chuyện của một người đàn ông đang bị stress và những lời khuyên dành cho anh ta. Hi vọng mỗi người chúng ta cũng sẽ rút ra được một điều gì đấy từ bài này.

Anh em click vào hình để xem rõ hơn nhé.


Nguồn: Mindlev
Infographic.vn@ tinhte.vn

Đọc được 1 bài viết bên tinh tế thấy nội dung hay và dễ hiểu, và cũng là vấn đề chung mà rất nhiều người quan tâm, muốn chia sẻ cùng mọi người.
stress vốn là 1 bản năng con người dùng để phòng thủ tự vệ (hiếu chiến hơn, manh động hơn, các giác quan hoạt động mạnh hơn) . Nếu bạn đối mặt với 1 kẻ giết người hoặc 1 con thú dữ, bản năng này có thể làm tăng thêm sức chiến đấu, sự dũng cảm và có thể cứu mạng bạn, tuy nhiên, xuất hiện không đúng nơi đúng chỗ thì tác dụng cũng vô cùng.

Thuật ngữ Stress hay còn gọi là căng thẳng ra đời trong thời gian gần đây, nó xuất hiện rất nhiều trong cuộc sống. Có thể hiểu nôm na là khó chịu, căng thẳng, áp lực trong chính mỗi con người, được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1927 bởi nhà  học người Mỹ, Walter Cannon. Theo Cannon thì stress là một loạt phản ứng bản năng làm cho nhịp tim và huyết áp tăng cao, tăng nhịp thở và hoạt động cơ bắp, đồng thời thị lực, thính lực cũng hoạt động mạnh hơn. Ngoài Cannon còn nhiều cách định nghĩa khác như stress là sự căng thẳng xuất hiện khi cá nhân không thể ứng phó được gây tổn thương đến sức khỏe hoặc có thể hiểu đơn giản, stress xuất hiện khi áp lực vượt quá khả năng tự vệ thông thường của con người.


Tuy nhiên trong trạng thái stress thì con người dễ gây ảnh hưởng đến những người xung quanh, và có lẽ xã hội phát triển quá nhanh so với khả năng tiến hóa sinh học của con người nên những bản năng không phù hợp vẫn luôn xuất hiện không đúng lúc đúng chỗ. Đồng thời, khi stress, cơ thể con người hoạt động mạnh hơn, về lâu về dài mà diễn ra liên tục thì cũng như cái máy tính cày game liên tục, nóng rừng rực ấy, không tốt tí nào, các bạn hãy xem truyện ngắn trên và xem có thể áp dụng cho bản thân không nhé.

Còn 1 điều nữa, stress gây mệt mỏi nhưng không phải mệt mỏi thì luôn do stress, không nên lạm dụng từ ngữ.

Mạng đô thị MAN (metropolitan area network)

Mạng đô thị MAN (metropolitan area network) là mạng dữ liệu băng rộng được thiết kế cho phạm vi trong thành phố, thị xã. Khoảng cách thường nhỏ hơn 50 km. Xét về quy mô địa lý, MAN lớn hơn mạng LAN nhưng nhỏ hơn mạng WAN, nó đóng vai trò kết nối 2 mạng LAN và WAN với nhau hoặc kết nối giữa các mạng LAN:
  • Kết nối giữa các phần tử của mạng MAN thường sử dụng không dây (Wireless) hoặc sử dụng cáp quang (Optical Fiber).
  • Mạng MAN được xây dựng bởi tiêu chuẩn quốc tế IEEE 802-2001.

Đặc điểm
MetroNet cung cấp khả năng sử dụng đồng thời ba loại dịch vụ: thoại (voice) - dữ liệu (data) - hình ảnh (video) như: + Truyền dữ liệu. + Hội nghị truyền hình (Video Conference). + Xem phim theo yêu cầu (VoD - Video On Demand). + Truyền hình cáp (CATV). + Giáo dục từ xa. + Chẩn đoán bệnh từ xa. + Game. + Điện thoại IP (IP Phone). + Truyền hình IP (IP TV). + Truy cập Internet tốc độ cao...
Đối tượng khách hàng: MetroNET dành cho khách hàng là các tổ chức, doanh nghiệp có nhiều chi nhánh, bộ phận kết nối với nhau và có thể kết nối ra liên tỉnh, quốc tế; các khu công nghiệp, khu thương mại lớn, công viên phần mềm, khu công nghệ cao, khu đô thị mới, khu cao ốc văn phòng...; các cơ quan quản lý nhà nước để phục vụ cho mục tiêu chính phủ điện tử, cải cách hành chính, các trường Đại học, ngân hàng, ông ty Chứng khoán, các tổ chức Tài chính...
Lợi ích của việc sử dụng MetroNet: + Kết nối các chi nhánh phục vụ mục đích truyền số liệu. + Thiết lập mạng diện rộng của riêng tổ chức (mạng WAN). + Chi phí thấp, tốc độ ổn định, đáp ứng được yêu cầu về bảo mật thông tin, đơn giản trong việc quản lý và dễ dàng trong việc chuyển đổi. + Cung cấp cho doanh nghiệp rất nhiều loại hình dịch vụ giá trị gia tăng cùng lúc trên một đường truyền kết nối về voice-data-video. + Dịch vụ giúp quản lý cơ sở hạ tầng hệ thống công nghệ thông tin hai điểm một cách đơn giản, hiệu quả, dễ dàng triển khai các ứng dụng chuyên nghiệp. 

Các công nghệ nền tảng
  • Một số công nghệ trước đây được sử dụng cho mạng MAN như công nghệ ATM, công nghệ FDDI, DQDB và SMDS. Hiện nay, các công nghệ này đang được thay thế dần bởi công nghệ Ethernet, và mạng MAN dựa trên công nghệ Ethernet còn được gọi là mạng Metro Ethernet (ME). Mạng ME được tổ chức MEF và ITU-T G.8261 định nghĩa và phát triển. 

Ứng dụng
Mạng MAN ra đời đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao trong việc trao đổi dữ liệu giữa mạng nội bộ với mạng bên ngoài (truy nhập Internet, truy nhập cơ sở dữ liệu, kết nối chi nhánh văn phòng…):
  • Ứng dụng của mạng MAN kết nối các mạng Access (mạng truy nhập) khác nhau như LAN/WLAN, CATV, xDSL, 2G/3G... với mạng Core (mạng lõi):
  • Một ví dụ là Mạng MAN được xây dựng dựa trên hạ tầng truyền hình cáp:
  • Một số ứng dụng khác:

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012

Yêu cầu và phân loại định tuyến

Bài viết về định tuyến khá dài nên các phần bổ xung mình tách riêng ra làm một bài viết mới này.

Yêu cầu về thuật toán định tuyến
  • Đáp ứng nhanh khi có thay đổi
  • Tối ưu : về mức sử dụng tài nguyên mạng, độ dài quãng đường
  • Mạnh : làm việc đuưược trong điều kiện tải cao, nghẽn mạch, hỏng hóc, triển khai nhầm ...
  • Đơn giản

Định tuyến Tĩnh và định tuyến động
Static routing : Định tuyến một destination nào đó đến một next-hop nào đó phải làm bằng tay, và nó cứ thế mà chạy suốt đời.
Dynamic routing :
là quá trình mà trong đó giao thức định tuyến tìm ra đường tốt nhất trong mạng và duy trì chúng. Có rất nhiều cách để xây dựng lên bng định tuyến một cách động. Nhưng tất c đều thực hiện theo quy tắc sau: nó sẽ khám tất cả các tuyến đường đến đích có thể và thực hiện một số quy tắc được định trước để xác định ra đường tốt nhất đến đích. Ưu điểm của dynamic routing là đơn giản trong việc cấu hình và tự động tìm ra những tuyến đường thay thế nếu như mạng thay đổi. Nhược điểm của dynamic routing là yêu cầu xử lý của CPU của router cao hơn là static route. Tiêu tốn một phần băng thông trên mạng để xây dựng lên bảng định tuyến.


Định tuyến tập trung hay phân tán
Định tuyến tập trung : sẽ có một nút trung tâm để xác định các tuyến và các nút khác sẽ truyền thông tin chúng biết cho nút trung tâm này. Loại định tuyến này có tính thống nhất nhưng gặp phải vấn đề thích nghi với thay đổi cấu hình thường xuyên và khó mở rộng
Định tuyến phân tán : Các nút xác định tuyến bằng các thuật toán phân tán, thông tin các nút tự trao đổi lẫn nhau, thích nghi với cấu hình và các thay đổi khác, mở rộng cũng tốt hơn

Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012

Định tuyến

Trong ngành mạng máy tính, định tuyến (tiếng Anh: routing hay routeing) là quá trình chọn lựa các đường đi trên một mạng máy tính để gửi dữ liệu qua đó. Việc định tuyến được thực hiện cho nhiều loại mạng, trong đó có mạng điện thoại, liên mạng, Internet, mạng giao thông.
Routing chỉ ra hướng, sự di chuyển của các gói (dữ liệu) được đánh địa chỉ từ mạng nguồn của chúng, hướng đến đích cuối thông qua các node trung gian; thiết bị phần cứng chuyên dùng được gọi là router (bộ định tuyến). Tiến trình định tuyến thường chỉ hướng đi dựa vào bảng định tuyến, đó là bảng chứa những lộ trình tốt nhất đến các đích khác nhau trên mạng. Vì vậy việc xây dựng bảng định tuyến, được tổ chức trong bộ nhớ của router, trở nên vô cùng quan trọng cho việc định tuyến hiệu quả.
Routing khác với bridging (bắc cầu) ở chỗ trong nhiệm vụ của nó thì các cấu trúc địa chỉ gợi nên sự gần gũi của các địa chỉ tương tự trong mạng, qua đó cho phép nhập liệu một bảng định tuyến đơn để mô tả lộ trình đến một nhóm các địa chỉ. Vì thế, routing làm việc tốt hơn bridging trong những mạng lớn, và nó trở thành dạng chiếm ưu thế của việc tìm đường trên mạng Internet.
Các mạng nhỏ có thể có các bảng định tuyến được cấu hình thủ công, còn những mạng lớn hơn có topo mạng phức tạp và thay đổi liên tục thì xây dựng thủ công các bảng định tuyến là vô cùng khó khăn. Tuy nhiên, hầu hết mạng điện thoại chuyển mạch chung (public switched telephone network - PSTN) sử dụng bảng định tuyến được tính toán trước, với những tuyến dự trữ nếu các lộ trình trực tiếp đều bị nghẽn. Định tuyến động (dynamic routing) cố gắng giải quyết vấn đề này bằng việc xây dựng bảng định tuyến một cách tự động, dựa vào những thông tin được giao thức định tuyến cung cấp, và cho phép mạng hành động gần như tự trị trong việc ngăn chặn mạng bị lỗi và nghẽn.
Định tuyến động chiếm ưu thế trên Internet. Tuy nhiên, việc cấu hình các giao thức định tuyến thường đòi hỏi nhiều kinh nghiệm; đừng nên nghĩ rằng kỹ thuật nối mạng đã phát triển đến mức hoàn thành tự động việc định tuyến. Cách tốt nhất là nên kết hợp giữa định tuyến thủ công và tự động.
Những mạng trong đó các gói thông tin được vận chuyển, ví dụ như Internet, chia dữ liệu thành các gói, rồi dán nhãn với các đích đến cụ thể và mỗi gói được lập lộ trình riêng biệt. Các mạng xoay vòng, như mạng điện thoại, cũng thực hiện định tuyến để tìm đường cho các vòng (ví dụ như cuộc gọi điện thoại) để chúng có thể gửi lượng dữ liệu lớn mà không phải tiếp tục lặp lại địa chỉ đích.
Định tuyến IP truyền thống vẫn còn tương đối đơn giản vì nó dùng cách định tuyến bước kế tiếp (next-hop routing), router chỉ xem xét nó sẽ gửi gói thông tin đến đâu, và không quan tâm đường đi sau đó của gói trên những bước truyền còn lại. Tuy nhiên, những chiến lược định tuyến phức tạp hơn có thể được, và thường được dùng trong những hệ thống như MPLS, ATM hay Frame Relay, những hệ thống này đôi khi được sử dụng như công nghệ bên dưới để hỗ trợ cho mạng IP. 

Các kiểu định tuyến

Các kiểu định tuyến
Cast.svg
anycast
Anycast.svg
broadcast
Broadcast.svg
multicast
Multicast.svg
unicast
Unicast.svg
Các lớp thuật toán định tuyến 

Thuật toán vector
(distance-vector routing protocols)
Thuật toán này dùng thuật toán Bellman-Ford. Phương pháp này chỉ định một con số, gọi là chi phí (hay trọng số), cho mỗi một liên kết giữa các node trong mạng. Các node sẽ gửi thông tin từ điểm A đến điểm B qua đường đi mang lại tổng chi phí thấp nhất (là tổng các chi phí của các kết nối giữa các node được dùng).
Thuật toán hoạt động với những hành động rất đơn giản. Khi một node khởi động lần đầu, nó chỉ biết các node kề trực tiếp với nó, và chi phí trực tiếp để đi đến đó (thông tin này, danh sách của các đích, tổng chi phí của từng node, và bước kế tiếp để gửi dữ liệu đến đó tạo nên bảng định tuyến, hay bảng khoảng cách). Mỗi node, trong một tiến trình, gửi đến từng “hàng xóm” tổng chi phí của nó để đi đến các đích mà nó biết. Các node “hàng xóm” phân tích thông tin này, và so sánh với những thông tin mà chúng đang “biết”; bất kỳ điều gì cải thiện được những thông tin chúng đang có sẽ được đưa vào các bảng định tuyến của những “hàng xóm” này. Đến khi kết thúc, tất cả node trên mạng sẽ tìm ra bước truyền kế tiếp tối ưu đến tất cả mọi đích, và tổng chi phí tốt nhất.
Khi một trong các node gặp vấn đề, những node khác có sử dụng node hỏng này trong lộ trình của mình sẽ loại bỏ những lộ trình đó, và tạo nên thông tin mới của bảng định tuyến. Sau đó chúng chuyển thông tin này đến tất cả node gần kề và lặp lại quá trình trên. Cuối cùng, tất cả node trên mạng nhận được thông tin cập nhật, và sau đó sẽ tìm đường đi mới đến tất cả các đích mà chúng còn tới được. 

Thuật toán trạng thái kết nối
(Link-state routing protocols)
Khi áp dụng các thuật toán trạng thái kết nối, mỗi node sử dụng dữ liệu cơ sở của nó như là một bản đồ của mạng với dạng một đồ thị. Để làm điều này, mỗi node phát đi tới tổng thể mạng những thông tin về các node khác mà nó có thể kết nối được, và từng node góp thông tin một cách độc lập vào bản đồ. Sử dụng bản đồ này, mỗi router sau đó sẽ quyết định về tuyến đường tốt nhất từ nó đến mọi node khác.
Thuật toán đã làm theo cách này là Dijkstra, bằng cách xây dựng cấu trúc dữ liệu khác, dạng cây, trong đó node hiện tại là gốc, và chứa mọi noded khác trong mạng. Bắt đầu với một cây ban đầu chỉ chứa chính nó. Sau đó lần lượt từ tập các node chưa được thêm vào cây, nó sẽ thêm node có chi phí thấp nhất để đến một node đã có trên cây. Tiếp tục quá trình đến khi mọi node đều được thêm.
Cây này sau đó phục vụ để xây dựng bảng định tuyến, đưa ra bước truyền kế tiếp tốt ưu, … để từ một node đến bất kỳ node khác trên mạng. 

So sánh các thuật toán định tuyến
Các giao thức định tuyến với thuật toán vector tỏ ra đơn giản và hiệu quả trong các mạng nhỏ, và đòi hỏi ít (nếu có) sự giám sát. Tuy nhiên, chúng không làm việc tốt, và có tài nguyên tập hợp ít ỏi, dẫn đến sự phát triển của các thuật toán trạng thái kết nối tuy phức tạp hơn nhưng tốt hơn để dùng trong các mạng lớn. Giao thức vector kém hơn với rắc rối về đếm đến vô tận.
Ưu điểm chính của định tuyến bằng trạng thái kết nối là phản ứng nhanh nhạy hơn, và trong một khoảng thời gian có hạn, đối với sự thay đổi kết nối. Ngoài ra, những gói được gửi qua mạng trong định tuyến bằng trạng thái kết nối thì nhỏ hơn những gói dùng trong định tuyến bằng vector. Định tuyến bằng vector đòi hỏi bảng định tuyến đầy đủ phải được truyền đi, trong khi định tuyến bằng trạng thái kết nối thì chỉ có thông tin về “hàng xóm” của node được truyền đi. Vì vậy, các gói này dùng tài nguyên mạng ở mức không đáng kể. Khuyết điểm chính của định tuyến bằng trạng thái kết nối là nó đòi hỏi nhiều sự lưu trữ và tính toán để chạy hơn định tuyến bằng vector. 

Giao thức được định tuyến và giao thức định tuyến
Sự nhầm lẫn thường xảy ra giữa “giao thức được định tuyến” và “giao thức định tuyến” (“routed protocols” và “routing protocols”). 

Giao thức được định tuyến (routed protocols hay routable protocols )
Một giao thức đã được định tuyến là bất kỳ một giao thức mạng nào cung cấp đầy đủ thông tin trong địa chỉ tầng mạng của nó để cho phép một gói tin được truyền đi từ một máy chủ (host) đến máy chủ khác dựa trên sự sắp xếp về địa chỉ, không cần biết đến đường đi tổng thể từ nguồn đến đích. Giao thức đã được định tuyến định nghĩa khuôn dạng và mục đích của các trường có trong một gói. Các gói thông thường được vận chuyển từ hệ thống cuối đến một hệ thống cuối khác. Hầu như tất cả giao thức ở tầng 3 các giao thức khác ở các tầng trên đều có thể được định tuyến, IP là một ví dụ. Nghĩa là gói tin đã đuợc định hướng (có địa chỉ rõ ràng )giống như lá thư đã được ghi địa chỉ rõ chỉ còn chờ routing (tìm đường đi đến địa chỉ đó)
Các giao thức ở tầng 2 như Ethernet là những giao thức không định tuyến được, vì chúng chỉ chứa địa chỉ tầng liên kết, không đủ để định tuyến: một số giao thức ở tầng cao dựa trực tiếp vào đây mà không có thêm địa chỉ tầng mạng, như NetBIOS, cũng không định tuyến được. 

Giao thức định tuyến (routing protocols)
Giao thức định tuyến được dùng trong khi thi hành thuật toán định tuyến để thuận tiện cho việc trao đổi thông tin giữa các mạng, cho phép các router xây dựng bảng định tuyến một cách linh hoạt. Trong một số trường hợp, giao thức định tuyến có thể tự chạy đè lên giao thức đã được định tuyến: ví dụ, BGP chạy đè trên TCP: cần chú ý là trong quá trình thi hành hệ thống không tạo ra sự lệ thuộc giữa giao thức định tuyến và đã được định tuyến.
Danh sách các giao thức định tuyến
  • Giao thức định tuyến trong
    • Router Information Protocol (RIP)
    • Open Shortest Path First (OSPF)
    • Intermediate System to Intermediate System (IS-IS)
    • Hai giao thức sau đây thuộc sở hữa của Cisco, và được hỗ trợ bởi các router Cisco hay những router của những nhà cung cấp mà Cisco đã đăng ký công nghệ:
      • Interior Gateway Routing Protocol (IGRP)
      • Enhanced IGRP (EIGRP)
  • Giao thức định tuyến ngoài
    • Exterior Gateway Protocol (EGP)
    • Border Gateway Protocol (BGP)
    • Constrained Shortest Path First (CSPF) 
Thông số định tuyến (Routing metrics)
Một thông số định tuyến bao gồm bất kỳ giá trị nào được dùng bởi thuật toán định tuyến để xác định một lộ trình có tốt hơn lộ trình khác hay không. Các thông số có thể là những thông tin như băng thông (bandwidth), độ trễ (delay), đếm bước truyền, chi phí đường đi, trọng số, kích thước tối đa gói tin (MTU - Maximum transmission unit), độ tin cậy, và chi phí truyền thông. Bảng định tuyến chỉ lưu trữ những tuyến tốt nhất có thể, trong khi cơ sở dữ liệu trạng thái kết nối hay topo có thể lưu trữ tất cả những thông tin khác.
Router dùng tính năng phân loại mức tin cậy (administrative distance -AD) để chọn đường đi tốt nhất khi nó “biết” hai hay nhiều đường để đến cùng một đích theo các giao thức khác nhau. AD định ra độ tin cậy của một giao thức định tuyến. Mỗi giao thức định tuyến được ưu tiên trong thứ tự độ tin cậy từ cao đến thấp nhất có một giá trị AD. Một giao thức có giá trị AD thấp hơn thì được tin cậy hơn, ví dụ: OSPF có AD là 110 sẽ được chọn thay vì RIP có AD là 120.
Bảng sau đây cho biết sự sắp xếp mức tin cậy được dùng trong các router Cisco
Giao thức Administrative distance
Nối trực tiếp 0
Static route 1
EIGRP summary route 5
External BGP 20
Internal EIGRP 90
IGRP 100
OSPF 110
IS-IS 115
RIP 120
EGP 140
ODR 160
External EIGRP 170
Internal BGP 200
Không xác định 255

Các lớp giao thức định tuyến

Dựa vào quan hệ của các dòng router với các hệ thống tự trị, có nhiều lớp giao thức định tuyến như sau:
  • Giao thức định tuyến trong mạng Ad-hoc xuất hiện ở những mạng không có hoặc ít phương tiện truyền dẫn.
  • Interior Gateway Protocols (IGPs) trao đổi thông tin định tuyến trong một AS. Các ví dụ thường thấy là:
    • IGRP (Interior Gateway Routing Protocol)
    • EIGRP (Enhanced Interior Gateway Routing Protocol)
    • OSPF (Open Shortest Path First)
    • RIP (Routing Information Protocol)
    • RSMLT
    • IS-IS (Intermediate System to Intermediate System)
Chú ý: theo nhiều tài liệu của Cisco, EIGRP không phân lớp như giao thức trạng thái kết nối.
  • Exterior Gateway Protocols (EGPs) định tuyến giữa các AS. EGPs gồm:
    • EGP (giao thức cũ để nối mạng Internet trước đây, bây giờ đã lỗi thời)
    • BGP (Border Gateway Protocol: phiên bản hiện tại, BGPv4, có từ khoảng năm 1995)

Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2012

Token Ring và FDDI

Trước khi nói về FDDI , mời các bạn thảo luận về Token Ring

Toking là 1 LAN Technology được xây dựng và phát triển bởi IBM ( I Blame Microsoft !!! :mrgreen: Just Kidding !!!!) và được IEEE đưa ra chuẩn là IEEE 802.5 ( Ethernet là 802.3 )

Tốc độ truyền data trong LAN Token Ring là khoảng 4-16 Mbps
Topology là dạng RING
Media dùng Twisted Pair ( cả Shield hay Unshield )
Encoding dùng phương thức Differential Manchester
......

Phương thức hoạt động :

Trong LAN Token Ring có 1 dạng Frame gọi là TOKEN (tạm dịch là "cây gậy" ( kô biết là có giống với "cây gậy Trường Sơn" kô nhỉ :mrgreen: ))

Nếu 1 node mà nhận được "cây gậy" này thì nó được giữ trong vòng 1 khoảng thời gian và trong khoảng thời gian này nó có quyền transmit data ( Nếu node kô muốn transmit data thì chuyền qua cho node tiếp theo )

Khi 1 node ( hay host ) "chụp" được "cây gậy" thì nó sẽ thay đổi 1 bit của cái "cây gậy" đó ( còn thay đổi bit nào thì minh quên rùi :wink: ). Lúc này "cây gậy" sẽ trở thành frame đầu tiên của quá trình transmit data. Host đó sẽ gửi "ké" cái frame đến destination thông qua "cây gậy" ( nghĩa là "cây gậy" sẽ được transmit qua tất cả các node trên Ring Topology, và đi sau nó là các frame đi "ké" của Source Host, cho tới khi nào tới đuợc destination host.

Trong quá trình 1 host nào đó giữ "cây gậy" thì kô có 1 host nào được transmit data, mà phải "chờ tới phiên mình".

Tuy nhiên , kô phải host nào cũng đủ kiên nhẫn mà chờ mà đợi , trong Frame Token Ring có 1 field prority , chúng ta có thể "chụp" "cây gậy" để mà transmit trước ( sau khi 1 host đã transmit, nghĩ là ai đang transmit , chúng ta cũng kô có quyền kiu host đó ngưng transmit ) bằng cách set priority cao hơn.

Do trong suốt quá trình transmit data , kô có ai phải "chen chân" với mình nên , kô giống như Ethernet phải dùng CSMA/CD để chống collision , Token Ring thì kô bao giờ xảy ra chuyện collision

Xong Token Ring rùi, bây giờ tới FDDI

Thật chất FDDI ( chữ này viết tắt của chữ gì , mình quên rùi, các bạn có thể tìm giúp mình với :wink: ) là double Token Ring.
Nghĩa là FDDI có 2 vòng Token Ring, nhưng thật ra chỉ có 1 vòng hoạt động , còn 1 vòng dùng để dự phòng trong trường hợp vòng kia down.

FDDI bảo đảm LAN hoạt động hiệu quả, và kô xảy ra tình trạng down, và security cao hơn .

--------------------------------------------

Còn nữa FDDI sử dụng cáp quang làm đường truyền.
FDDI: Fiber Distributed Data Interface 

Thứ Năm, 12 tháng 4, 2012

Tất cả những gì bạn cần biết về NFC

NFC, NFC, chúng ta đã nghe quá nhiều về thuật ngữ này trong những ngày gần đây, đặc biệt là từ khi Google giới thiệu hệ thống Google Wallet hay Nokia cho ra mắt hàng loạt thiết bị, phụ kiện hỗ trợ NFC. Nhưng liệu NFC có thật sự là công nghệ mới hay không? Nó hoạt động ra sao, giúp ích gì được cho đời?... Nếu bạn có hứng thú thì cùng tìm hiểu nhé. Trong trường hợp bạn đọc xong bải viết này mà vẫn muốn tìm hiểu thêm, bấm vào đây nhé, có đủ hết đấy!

NFC là cái chi?

[IMG]

NFC tất nhiên là NFC rồi! Ngoài ra nó còn là từ viết tắt của Near Field Commnication hay tạm dịch ra tiếng Việt: Giao tiếp không dây tầm gần. Đây là một công nghệ không dây sử dụng sự tương tác sóng điện từ để truyền tải những dữ liệu nhỏ giữa thiết bị đầu cuối(initiator) và thiết bị mục tiêu (target). NFC có thể giống Bluetooth ở một vài mặt nào đó, chẳng hạn như chúng đều là giao tiếp không dây với phạm vi nhỏ, nó cũng giống RFID (Radio Frequency ID) trong việc sử dụng các sóng radio để nhận diện. Tuy nhiên, NFC lại sở hữu những đặc tính rất riêng tách biệt hẳn với Bluetooth và RFID.

NFC truyền tải dữ liệu ở những khoảng cách rất nhỏ so với phạm vi của Bluetooth, chẳng hạn như tối đa chỉ từ 4-10cm so với 10m từ Bluetooth, công nghệ RFID thậm chí còn có thể đạt đến mức độ nhận sóng tính bằng km trong 1 số trường hợp. Nhiều người cho rằng khoảng cách này quá nhỏ và là hạn chế của NFC nhưng đây chính là ưu điểm của nó, giới hạn 4-10cm được đặt ra nhằm tránh trình trạng chống chéo sóng trong khu vực đông đúc cũng như hạn chế các tương tác mà người dùng không mong muốn.

Một nhân tố khác làm cho NFC khác biệt so với Bluetooth là nó kết nối với các thiết bị khác nhanh hơn rất nhiều, kể cả Bluetooth 3.0 và 4.0 mới nhất. Thay vì phải thiết lập tay để nhận diện 2 máy Bluetooth với nhau, 2 thiết bị NFC tự động hiểu và kết nối chỉ trong 1/10 giây. Trong thực tế, NFC cũng thường dùng để loại bỏ quá trình kết nối phức tạp giữa 2 thiết bị Bluetooth.

Cuối cùng, tốc độ cũng là điểm khác biệt giữa NFC và Bluetooth. NFC hoạt động ở tần số radio băng tân ISM 13,56MHz và tốc độ chạy từ 106-424Kbps trong khi Bluetooth là 2,4GHz nên tốc độ 2,1Mb/s ở bản 2.1 EDR. Trong bản 3.0+HS thì tốc độ tối đa Bluetooth lên tới 24Mbps.
[IMG]
NFC và các công nghệ không dây khác

NFC hoạt động như thế nào?
[IMG]


Để NFC hoạt động, chúng ta buộc phải có 2 thiết bị, 1 là thiết bị khởi tạo (initiator) và thiết bị thứ 2 là mục tiêu (target). Bí mật của NFC nằm ở đây, initiator sẽ chủ động tạo ra những trường sóng radio (bản chất là bức xạ điện từ) đủ để cung cấp năng lượng cho target vốn hoạt động ở chế độ bị động. Nếu hứng thú với chuyện này thì bạn có thể tìm hiểu với từ khóa electromagnetism (điện từ) còn mình sẽ không giải thích rõ vấn đề đó ở đây. Tất cả những gì bạn cần biết là target của NFC sẽ không cần điện năng mà điện để nó hoạt động lấy từ thiết bị initiator. Đây là 1 đặc điểm cực kỳ có ý nghĩa vì nó cho phép người ta chế tạo những tags, miếng dán, chìa khóa hay thẻ NFC nhỏ gọn hơn do không phải dùng pin.

Bạn muốn một ví dụ về ứng dụng của NFC trong thực tế ư? Hãy tượng tượng bạn đến rạp chiếu phim, tại rạp có 1 poster giới thiệu phim mới rất thú vị, chúng ta chỉ việc chạm điện thoại vào poster, tất cả các thông tin về phim đó sẽ hiện lên trên điện thoại, link dẫn tới trailer, đánh giá, lịch chiếu phim ở rạp gần nhất hay trang web mua vé online....

Bên cạnh việc chế tạo các thiết bị đơn giản trên, NFC còn có thể dùng được trong các thiết bị phức tạp hơn do tính linh hoạt của nó. Chẳng hạn như điện thoại vừa có thể đóng vai trò initiator hay target hay hoạt động ở chế độ ngang hàng peer to peer. Tiếp tục ví dụ ở trên, sau khi mua vé thông qua tờ poster thì bạn có thể đi vào rạp chiếu phim, chạm điện thoại vào máy đọc (khi này điện thoại đóng vai trò target) và thế là xong!

NFC được dùng để làm gì?
Hiện tại chúng ta có quá nhiều đồn thổi về việc sử dụng NFC, đặc biệt là trong việc thanh toán, biến điện thoại thành ví điện tử. NFC có tiềm năng để thực hiện việc đó, loại bỏ thẻ tín dụng, séc (cheque) và các phương tiện thanh toán khác. Nhưng liệu NFC có được sử dụng làm gì khác nữa hay không?

[IMG]


  • Vận chuyển công cộng: Có thể coi đây là 1 phần của thanh toán di động nhưng nó cũng nên được đề cập riêng. Các phương tiện vận chuyển công cộng ở các thành phố lớn rất cần những phương thức thanh toán tiện lợi như NFC, thực tế thì 1 số thành phố như Nice ở Pháp đã cho khách hàng trả tiền xe bus, tàu điện ngầm hay xe điện qua điện thoại NFC.
  • Mua vé: Bạn có thể mua bất cứ loại vé nào với điện thoại NFC, từ vé phim, vé ca nhạc, các sân vận động hay thậm chí thay cho việc làm thủ tục ở sân bay.
  • Chìa khóa:Hãy tưởng tượng đến việc vứt bỏ toàn bộ chìa khóa của bạn ở nhà mà thay vào đó là 1 chiếc điện thoại di động thôi. Với việc sử dụng NFC, tất cả những gì bạn cần làm là chạm nhẹ vào cửa nhà, văn phòng hay khách sạn, khởi động xe.....
  • So sánh sản phẩm khi mua sắm: Bất cứ khi nào mua gì, bạn chỉ việc vẫy nhẹ điện thoại là đã có thể xem thông tin, đánh giá hay giá của sản phẩm đó từ các cửa hàng khác. Hiện tại chúng ta thường dùng barcode để làm việc này nhưng NFC giúp mọi thứ nhanh hơn rất nhiều.
  • Check-in và đánh giá về 1 địa điểm nào đó: Gần đây, Google đã bắt đầu dán những nhãn NFC trên 1 số cửa hàng, nhà hàng tại Mỹ. Với điện thoại NFC, bạn chỉ cần chạm nhẹ vào là đã tham khảo được thông tin, đánh giá, thức ăn hay hàng hóa bên trong. Những bạn hay sử dụng Foursquare để checkin cũng được lợi, không cần mạng hay GPS nữa mà chỉ cần chạm vào thẻ để checkin.
  • Nhận diện hàng giả: Đây là công dụng mới nhất của NFC, một công ty có tên gọi Inside Secure vừa cho ra mắt những tag nhằm xác thực 1 sản phẩm là hàng giả hay hàng thật. Ví dụ, bạn nhìn thấy 1 chiếc túi xách Prada mắc tiền trên người ngôi sao X nào đó, không biết là hàng thật hay hàng giả, chỉ việc đưa điện thoại là gần túi xách thì nó sẽ nhận được ngay (tất nhiên là việc này chỉ thực hiện được trong tương lai, khi mà các túi xách đều có chip NFC được nhúng sẵn :)
Nhìn chung, tuy có nhiều tác dụng nhưng việc sử dụng NFC được chia làm 3 nhóm chúng: Touch and Go (ví dụ như chạm vào để mở cửa), Touch and Confirm (bổ sung thêm 1 lớp bảo mật cho thanh toán di động, chẳng hạn như nhập mã PIN để xác nhận thanh toán) hay Touch and Connect (chia sẻ dữ liệu với 1 thiết bị khác).

Lo ngại về vấn đề an ninh:
[IMG]


Như đã nói ở trên, rất nhiều người lo ngại về vấn đề an ninh của công nghệ NFC. Cho dù chỉ giao tiếp với nhau trong khoảng cách vài cm nhưng bản thân NFC không hỗ trợ bất cứ giao thức an ninh nào. Một vài nhà nghiên cứu đưa ra những phương pháp hạn chế tình trạng này nhưng rất tiếc tiêu chuẩn ISO của NFC không bao gồm bất cứ phương pháp nào, dữ liệu NFC hoàn toàn có thể bị “nghe trộm” và chỉnh sửa mà chủ thiết bị không hề biết. Để tránh việc này, một số chương trình NFC đã sử dụng các giao thức mã hóa đa lớp SSL nhưng để tất cả mọi thứ hoàn thiện, chúng ta buộc phải có sự cộng tác của tất cả các bên tham gia:
  • Người dùng sẽ buộc phải giữ cho thiết bị của họ bảo mật và an toàn bằng những mã PIN bảo mật (key locks), các chương trình chống virus đồng thời cài đặt các ứng dụng cho phép xóa hoặc khóa toàn bộ dữ liệu trên điện thoại trong trường hợp bị mất.
  • Các công ty cung cấp thiết bị sẽ phải áp dụng các phương thức mã hóa và xác thực an toàn nhất có thể trước khi đưa sản phẩm ra công chúng.
  • Các bên khác cũng phải áp dụng những phương thức bảo mật, chống virus, spyware hay malware xâm nhập vào hệ thống.
  1. Nghe trộm NFC: Các tín hiệu radio mà thiết bị NFC chủ động phát ra có thể bị bắt được dễ dàng với những angten. Khoảng cách bắt sóng này tùy thuộc vào nhiều biến số khác nhau nhưng thường nằm trong khoảng vài mét. Ngoài ra, việc nghe trộm này còn phụ thuộc rất nhiều vào chế độ hoạt động của thiết bị NFC, các thiết bị như thẻ tag, chìa khóa hoạt động ở chế độ passive sẽ khó bị truy cập dữ liệu hơn là những thiết bị chủ động phát tín hiệu RF.
  2. Thay đổi dữ liệu NFC: Việc hủy dữ liệu NFC khá là dễ dàng khi sử dụng các thiết bị phá sóng RFID. Hiện nay chúng ta không có bất cứ 1 phương thức nào để phòng chống các vụ tấn công kiểu này. Tuy nhiên, nếu thiết bị NFC kiểm tra trường dữ liệu RF khi gửi dữ liệu, nó có thể nhận diện được hành vi tấn công này. Việc thay đổi dữ liệu NFC thì khó hơn tiêu hủy khá là nhiều. Có lẽ bạn cũng nên hơi yên tâm về việc này.
[IMG]
Hệ sinh thái NFC

NFC Forum:
Cũng như các công nghệ khác, NFC cần 1 tổ chức thúc đẩy quá trình phát triển của nó. Được thành lập bởi 3 đại gia Sony, Nokia và Phillips vào năm 2004, tính đến nay NFC Forum đã có hơn 140 công ty từ 130 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới.

Nhật Bản:
Có thể bạn sẽ không hiểu Nhật Bản đóng vai trò gì trong một bài viết về NFC nhưng Nhật Bản là quốc gia đã áp dụng NFC rất sớm, ngay từ khi công nghệ này ra đời. Vào tháng 7/2004, chiếc điện thoại đầu tiên hỗ trợ thanh toán di động đã được ra mắt ở Nhật Bản còn tính đến thời điểm này, đã có khoảng 100 triệu người đăng ký. Công nghệ Nhật Bản sử dụng gọi là FeliCa, 1 công nghệ riêng nhưng nó cũng trên nền của NFC. Không có gì ngạc nhiên vì Sony cũng là công ty phát triển NFC. Dù vậy, Nhật Bản cũng đang cố gắng tiêu chuẩn hóa công nghệ của họ để phù hợp hơn với thế giới.

Trong khi ứng dụng ở Nhật Bản đã phát triển từ quá lâu thì thế giới mới chỉ thử nghiệm trong thời gian gần đây, đặc biệt là ở các quốc gia châu Âu và 1 vài vùng ở Mỹ.
[IMG]

Chạm điện thoại để mở màn chơi Angry Birds


Lịch sử:
  • 1983: Bằng phát minh đầu tiên về RFID được đăng ký bởi Charles Walton.
  • 2002: Đồng phát minh bởi Sony và NXP (lúc đó còn là 1 bộ phận của Phillips), chính bộ đôi Sony và Phillips cũng là nhà phát minh ra đĩa CD.
  • 2004: Nokia, Phillips và Sony lập nên NFC Forum.
  • 2006: Đưa ra những thông số cho NFC Tags.
  • 2006:Thông số cho SmartPoster
  • 2006:Điện thoại NFC thương mại hóa đầu tiên Nokia 6131 ra đời.
  • 2009: Ra mắt tiêu chuẩn ngang hàng peer to peer cho phép truyền tải danh bạ, URL, kết nối Bluetooth....
  • 2010: Google ra mắt Nexus S, chiếc điện thoại Android đầu tiên hỗ trợ NFC.
  • 2001: Hội nghị Google I/O ra mắt đã trình diễn việc sử dụng NFC để kết nối game, chia sẽ danh bạ, URL, ứng dụng hay video.....
  • 2011:Symbian hỗ trợ mạnh mẽ cho NFC với sự ra mắt của bản Anna và các phiên bản sau đó.
Danh sách các điện thoại hỗ trợ NFC có thể tham khảo thêm tại Wikipedia hoặc NFCWorld. Các quốc gia đang thử nghiệm hoặc áp dụng NFC cũng xem tại Wikipedia.




Hỏi và trả lời:
Hỏi: Tôi nghe nói NFC là giao tiếp không dây tầm gần, sao bài này lại nói là tầm ngắn?
Trả lời: Theo bạn tầm ngắn với tầm gần khác nhau hay không?

Hỏi: Tôi có thể dùng điện thoại Nokia để kết nối với điện thoại Blackberry hay không?
Đáp: Sao lại không? Về bản chất thì 2 máy kết nối với nhau bằng Bluetooth, NFC chỉ dùng để loại bỏ các thao tác trung gian mà thôi.

Hỏi:Sao điện thoại Blackbery của tôi kết nối được với loa NFC nhưng lại không ghi được tag?
Đáp: Cũng tương tự điện thoại với nhau, NFC giao tiếp với loa thông qua Bluetooth. Nhưng ghi tag là 1 khái niệm hoàn toàn khác, điện thoại cần phần mềm hỗ trợ mới có thể ghi, chỉnh sửa tag được. Hiện tại các máy Nokia làm việc này tốt nhất, trên Nokia Store đã có những ứng dụng cho phép chỉnh sửa tag hay ghi dữ liệu lên (kể cả N9), Blackberry đang chuẩn bị đưa ra phần mềm Blackberry Tag có tính năng tương tự.

Hỏi: Sao điện thoại Blackberry của tôi không chia sẻ file được với điện thoại khác qua NFC:
Trả lời: Tại RIM quá chậm chạp trong việc ra mắt Blackberry Tags, bạn phải chờ bản cập nhật tích hợp tính năng này thôi. Hiện tại điện thoại Blackberry pair vẫn được nhưng chia sẻ file thì chưa được.

Hỏi: Sao máy 9900 của tôi không có NFC nhưng một số máy 9900 khác lại có:
Trả lời: Tùy nhà mạng, bản của T-Mobile và AT&T có vẻ như bị tắt NFC từ phần mềm, bạn sẽ phải chờ các bản cập nhật trong tương lai hoặc có thể ngày đó sẽ không bao giờ tới.

Hỏi: Bạn nói NFC không có tính bảo mật cao, vậy nếu ai ăn cắp điện thoại của tôi thì người đó có thể dùng nó để thanh toán khắp nơi à?
Đáp: Chính xác, do vậy bạn nên dùng các mã số để bảo vệ điện thoại của mình. Ngay khi phát hiện mất điện thoại, hãy khóa nó từ xa hoặc xóa toàn bộ dữ liệu (Find my iPhone trên iOS, Track & Protect trên Nokia....). Một số ngân hàng có thể yêu cầu xác thực khi dùng tiền lớn hơn 1 mức nào đó (ví dụ 15$)...

Hỏi: Những nền tảng nào hỗ trợ NFC?
Đáp: BB OS 7,Symbian Anna trở lên, MeeGo, Android, Bada 1 số máy S40 của Nokia và các hãng nhỏ khác.

Hỏi: Ngoài giao tiếp giữa điện thoại với nhau, NFC có thể kết nối các thiết bị khác được không?
Đáp: Được chứ, tai nghe, máy vi tính, kích hoạt Bluetooth, dùng các tag để đưa điện thoại về chế độ im lặng, dùng tag để làm danh thiếp....

Hỏi: Bao giờ NFC phổ biến ở VN?
Đáp: Bạn hỏi mình thì mình biết hỏi ai đây? Hy vọng sẽ nhanh như phát triển mạng 3G.

Hỏi: Tôi có cơ hội trải nghiệm các tag NFC ở VN hay không?
Đáp: Chắc chắn, có thể là trong vài tuần tới thôi, hãy cứ chờ xem!

Hỏi: Nói nhiều qua, cho tôi xem viễn cảnh nào dễ hiểu hơn đi:
Đáp: Mời bạn hình dung 1 ngày với NFC như thế này nhé:
[IMG]


  • 7:30: Eric thức dậy, đi đến văn phòng bằng xe bus, anh thanh toán tiền xe bằng cách chạm nhẹ điện thoại vào đầu đọc.
  • 7: 32: Eric thấy một poster mời tham dự buổi hòa nhạc miễn phí vào buổi chiều trên xe, anh chạm điện thoại vào biểu tượng NFC trên tấm poster đó, thông tin chi tiết của buổi hòa nhạc ngay lập tức được truyền tải vào điện thoại. Ngay lập tức, Eric đặt vé cho buổi hòa nhạc đó thông qua đường link chèn trong tấm poster rồi gửi tin nhắn mời vợ đi xem chung. Thông tin xác nhận đặt vé được đẩy về điện thoại của Eric.
  • 8:15: Đến công ty, Eric chạm điện thoại vào cổng để mở khóa.
  • 12:00: Ăn trưa, Eric trả tiền bằng cách vẫy điện thoại qua đầu đọc, tất nhiên thông tin thẻ tín dụng đã được lưu trong máy của anh ấy từ trước rồi.
  • 13:00: Gặp mặt đối tác mới, thay vì chia sẻ danh thiếp thì họ chạm điện thoại vào nhau để thông tin cá nhân của người này chuyển sang máy người kia.
  • 18:00: Eric và vợ tới buổi hòa nhạc, chạm điện thoại vào máy soát vé và anh đã vào rạp thành công.
  • 20:00: Nghe nhạc xong thì đi mua sắm, Eric dùng điện thoại để trả tất cả các chi phí đó.
  • 22:00: Eric về nhà nhưng phát hiện điện thoại bỏ quên trên tàu, anh ngay lập tức liên hệ với nhà mạng để hủy tất các dịch vụ NFC trên điện thoại. Nếu sau này anh may mắn tìm lại được nó, Eric sẽ có thể khôi phục lại tất cả mọi thứ như cũ.
Hỏi: Đã bảo đừng viết nhiều mà, cho video coi đi:
Đáp: vậy mời bạn vô link này coi nha.

 

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes