Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2012

Bấm cáp thẳng và bấm cáp chéo

Quy tắc nhớ rất đơn giản thôi, coi các thiết bị làm 2 loại :
  • Loại 1: Router, PC, Server
  • Loại 2: Switch, Hub và các thiết bị khác
  • Nếu cùng loại thì dùng cáp chéo, khác loại thì dùng cáp thẳng. 
Thực tế ở mức độ dân dụng ta hầu hết chỉ sử dụng cắm cáp từ PC/lap đến switch hoặc modem (đa số là 4 cổng, đáng ra là phải dùng cáp thẳng, nhưng không rõ do nó đảo cổng hay tự động nhận mà cho cáp thẳng hay cáp chéo đều nhận được hết. Và với đa số các thiết bị hiện giờ thì bấm thẳng hay bấm chéo đều nhận -> bấm thẳng cho nó dễ, cứ cùng màu thì nối với nhau, hết.

Tuy nhiên một số dòng switch cũ (cùng loại 2) nếu dây thẳng thì nó không nhận, cứ phải bấm chéo -> để đảm bảo 100% các thiết bị đều nhận, cách tốt nhất là bấm chéo tất -> dù khó người ta vẫn toàn bấm chéo cho chắc -> cuộc đời lắm thứ oái oăm thế đấy ^_^.

Cách bấm cáp các bạn có thể xem ở đây

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012

Cách bấm đầu cáp LAN (RJ45) để nối mạng cho máy vi tính

Bài viết này sẽ hướng dẫn bạn về màu sắc các cặp dây đồng trong 2 chuẩn cáp cũng như kỹ thuật bấm cáp để nối 2 máy vi tính với nhau, hoặc nối máy vi tính với hub.
Trong một dây cáp đạt chuẩn qui định bao gồm tám sợi dây đồng trong đó mỗi hai sợi xoắn với nhau thành từng cặp theo qui định nâu - trắng nâu, cam - trắng cam - xanh lá - trắng xanh lá, xanh dương - trắng xanh dương và một sợi dây kẽm. Sợi dây kẽm này chỉ có chức năng làm cho sợi dây cáp chắc chắn hơn, các bạn không cần quan tâm đến nó mà chỉ cần quan tâm đến tám sợi dây đồng mà thôi.

Sợi dây cáp này sẽ được nối với một đầu RJ45, nhiệm vụ của các bạn là bấm tám sợi dây đồng nói trên vào các điểm tiếp xúc bằng đồng trong đầu RJ45 này.

Để làm được việc này bạn cần có một cái kìm bấm cáp mạng (kìm này bạn có thể dễ dàng tìm thấy trong các cửa hàng tin học tại các thành phố lớn) và hiểu được các chuẩn bấm cáp. Hiện nay có hai chuẩn bấm cáp là T568A và T568B, hai chuẩn bấm cáp này đều do Intel qui định.

T568A:

1. Trắng xanh lá

2. Xanh lá

3. Trắng cam

4. Xanh dương

5. Trắng xanh dương

6. Cam

7. Trắng nâu

8. Nâu

T568B:

1. Trắng cam

2. Cam

3. Trắng xanh lá

4. Xanh dương

5. Trắng xanh dương

6. Xanh lá

7. Trắng nâu

8. Nâu





Nếu các bạn muốn bấm một sợi dây cáp dùng để kết nối giữa các thiết bị cùng loại, ví dụ như giữa hai PC với nhau hoặc giữa hai switch (hub) với nhau, các bạn dùng kỹ thuật bấm cáp chéo (crossover cable). Một đầu sợi cáp các bạn bấm chuẩn T568A và đầu còn lại các bạn bấm chuẩn T568B.

Còn nếu như các bạn muốn một sợi dây cáp dùng để kết nối các thiết bị khác loại với nhau ví dụ như từ PC nối đến switch (hub) hoặc từ switch (hub) nối đến PC các bạn dung kỹ thuật bấm cable thẳng (straight-through cable). Nếu một đầu sợi cáp các bạn bấm chuẩn T568A thì đầu còn lại cũng bấm chuẩn T568A, tương tự như vậy nếu một đầu bạn bấm chuẩn T568B thì đầu còn lại các bạn cũng bấm chuẩn T568B.

Và đây là các bước thực hiện: Đầu tiên các bạn cắt bỏ lớp nhựa bảo vệ để được các sợi dây đồng (các bạn nên cắt vừa đủ để các sợi dây đồng tiếp xúc với các lá đồng trong đầu RJ45, nếu cắt dài quá sẽ rất dễ bị đứt do đầu RJ45 không bấm chắc vào sợi cáp). Tiếp theo đó các bạn tháo xoắn giữa các sợi dây đồng, và tuốt lớp nhựa bao quanh các sợi đồng. Bước tiếp theo các bạn chỉ cần đưa từng sợi dây đồng có màu tương ứng theo chuẩn bấm T568A hoặc T568B từ pin 1 đến pin 8 (qui định từ trái qua phải). Bây giờ các bạn chỉ việc đưa vào kìm bấm “rắc” là hoàn tất.


Trên mạng còn có kiểu bấm cáp LAN 1Gb nhưng theo phản ánh thì bấm kiểu cũ này (cho mạng 100 Mbps) thì nó vẫn cứ nhận như thường miễn là máy gửi, máy nhận, switch đều cùng hỗ trợ 1 Gbps cả nên các bạn cứ yên tâm mà bấm theo nhé.

Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2012

So sánh 2 giao thức TCP và UDP

UDP (User Datagram Protocol) là một trong những giao thức cốt lõi của giao thức TCP/IP. Dùng UDP, chương trình trên mạng máy tính có thể gởi những dữ liệu ngắn được gọi là datagram tới máy khác. UDP không cung cấp sự tin cậy và thứ tự truyền nhận mà TCP làm; các gói dữ liệu có thể đến không đúng thứ tự hoặc bị mất mà không có thông báo. Tuy nhiên UDP nhanh và hiệu quả hơn đối với các mục tiêu như kích thước nhỏ và yêu cầu khắt khe về thời gian. Do bản chất không trạng thái của nó nên nó hữu dụng đối với việc trả lời các truy vấn nhỏ với số lượng lớn người yêu cầu.

TCP (Transmission Control Protocol - "Giao thức điều khiển truyền vận") là một trong các giao thức cốt lõi của bộ giao thức TCP/IP. Sử dụng TCP, các ứng dụng trên các máy chủ được nối mạng có thể tạo các "kết nối" với nhau, mà qua đó chúng có thể trao đổi dữ liệu hoặc các gói tin. Giao thức này đảm bảo chuyển giao dữ liệu tới nơi nhận một cách đáng tin cậy và đúng thứ tự. TCP còn phân biệt giữa dữ liệu của nhiều ứng dụng (chẳng hạn, dịch vụ Web và dịch vụ thư điện tử) đồng thời chạy trên cùng một máy chủ.

So sánh một cách đơn giản :

Giống nhau : đều là các giao thức mạng TCP/IP, đều có chức năng kết nối các máy lại với nhau, và có thể gửi dữ liệu cho nhau....

Khác nhau (cơ bản):
các header của TCP và UDP khác nhau ở kích thước (20 và 8 byte) nguyên nhân chủ yếu là do TCP phải hộ trợ nhiều chức năng hữu ích hơn(như khả năng khôi phục lỗi). UDP dùng ít byte hơn cho phần header và yêu cầu xử lý từ host ít hơn
TCP :
- Dùng cho mạng WAN
- Không cho phép mất gói tin
- Đảm bảo việc truyền dữ liệu
- Tốc độ truyền thấp hơn UDP
UDP:
- Dùng cho mạng LAN
- Cho phép mất dữ liệu
- Không đảm bảo.
- Tốc độ truyền cao, VolP truyền tốt qua UDP


TCP hoạt động theo hướng kết nối (connection-oriented), trước khi truyền dữ liệu giữa 2 máy, nó thiết lập một kết nối giữa 2 máy theo phương thức "bắt tay 3 bước (three-way-hand-shake)" bằng cách gửi gói tin ACK từ máy đích sang máy nhận, trong suốt quá trình truyền gói tin, máy gửi yêu cầu máy đích xác nhận đã nhận đủ các gói tin đã gửi, nếu có gói tin bị mất, máy đích sẽ yêu cầu máy gửi gửi lại, thường xuyên kiểm tra gói tin có bị lỗi hay ko, ngoài ra còn cho phép qui định số lượng gói tin được gửi trong một lần gửi (window-sizing), điều này đảm bảo máy nhận nhận được đầy đủ các gói tin mà máy gửi gửi đi --> truyền dữ liệu chậm hơn UDP nhưng đáng tin cậy hơn UDP

UDP hoạt động theo hướng ko kết nối (connectionless), ko y/c thiết lập kết nối giữa 2 máy gửi và nhận, ko có sự đảm bảo gói tin khi truyền đi cũng như ko thông báo về việc mất gói tin, ko kiểm tra lỗi của gói tin
--> truyền dữ liệu nhanh hơn UDP do cơ chế hoạt động có phần đơn giản hơn tuy nhiên lại ko đáng tin cậy bằng TCP




TCP và UDP là 02 Protocol hoạt động ở lớp thứ 04 (Transport Layer) của mô hình OSI và ở lớp thứ 02 (Transport Layer) mô hình TCP/IP
(xin lưu ý: mô hình TCP/IP (TCP/IP Model ) khác hoàn toàn với chồng giao thức TCP/IP (TCP/IP Suite)

TCP là giao thức truyền tin cậy và phải bắt tay ba bước (three-way-hand-shake) nên khi Server không nhận được bất kỳ gói tin ACK từ Client gửi trả lời thì Server sẽ gửi lại gói tin đã thất lạc. Server sẽ gửi cho đến khi nhận được ACK của Client mới thôi => Điều này cũng là một nhân tố làm chậm và ngốn băng thông đường truyền.



Ý chủ bài viết muốn nói lên TCP dành cho các ứng dụng secure. đối với các ứng dụng không cần secure thì dùng UDP là được, lợi hơn về performance. finding DC thì không cần secure, LDAP tất nhiên cần secure.

Mặc dù tổng lượng lưu thông của UDP trên mạng thường chỉ vài phần trăm, nhưng có nhiều ứng dụng quan trọng dùng UDP, bao gồm DNS, SNMP, DHCP và RIP, dễ thấy hơn là điện thoại IP, xem truyền hình trực tiếp...



Thực tế UDP dùng nhiều cho việc truyền tải Games Online. Như các bạn biết đó...việc nâng cấp sửa lỗi games các nhà quản trị Games và Bảo mật thường xuyên cập nhật bản vá lỗi của games, hoặc các thông tin dẫn truyền trong games đều dùng UDP rất nhiều. Nói TCP bảo mật hơn thì cũng đúng, nhưng UDP cũng rất bảo mật điều này phụ thuộc vào mức độ mã hóa của các Package trong liên kết truyền thông. Nghiên cứu thêm trong An Toàn Bảo Mật Thông Tin...hehe
Để biết máy tính có dùng UDP hay TCP thi banjn có thể thao khảo Sys Tools...những công cụ kiểm tra hệ thống và xem trên Router, check Port Connection....(Tất cả nằm trên anh Google...)



"Tiền nào của nấy". Sử dụng TCP có rất nhiều ưu điểm, nhưng ngược lại chi phí đắt.
Khi mà ứng dụng không yêu cầu quá cao về chất lượng, có thể chấp nhận việc mất thông tin và trễ về thời gian (như điện thoại internet, media...) thì việc sử dụng UDP thay vì TCP sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí.
- Ngoài ra:
+ UDP có độ trễ nhỏ, do không có giai đoạn thiết lập đường truyền
+ UDP nó đơn giản: Phía gửi và phía nhận không phải ghi nhớ trạng thái gửi/nhận.
+ small segment header
+ Không có cơ chế kiểm soát tắc nghẽn, do đó bên gửi có thể gửi dữ liệu với tốc độ tối đa

Các bạn có thể thấy UDP được sd nhiều trong : NTP, DNS, MDNS, BOOTP, DHCP, SysLog, NFS, ISAKMP, Cisco HSRP, Cisco MGCP,...



Hai ứng dụng phổ biến là Yahoo Messenger sử dụng TCP/IP và Skype sử dụng UDP.
 

Thứ Năm, 7 tháng 6, 2012

Spanning Tree Protocol (STP)

802.1D Spanning tree Protocol

STP dùng các thông điệp giữa các switch để giúp ổn định hệ thống mạng về một sơ đồ không bị vòng lặp. Để làm được như cậy, STP sẽ đưa vài cổng của switch về trạng thái blocking, cổng sẽ không truyền hay nhận dữ liệu. Các cổng còn lại sẽ ở trạng thái forwarding. Tất cả các loại cổng này sẽ giúp hình thành một sơ đồ mạng không bị loop.

Các bước diễn tiến của hoạt động của spanning tree


Bầu chọn root switch: Switch có bridge-ID nhỏ nhất sẽ được bầu chọn. Thông thường, bridgeID được hình thành gồm giá trị priority (2 bytes) và MAC của switch. Xác định root port: là cổng trên những non-root switch có kết nối ngắn nhất về rootswitch. Xác định designated port trên từng segment: Khi có nhiều switch kết nối vào một segment, đây là cổng của switch chịu trách nhiệm đẩy traffic ra khỏi segment.

Bầu chọn root switch

Chỉ một switch có thể là root của một cây spanning tree. Để tìm ra root, các switch phải bầu chọn. Từng switch sẽ bắt đầu hoạt động spanning tree của nó bằng cách tạo và gửi các gói STP BPDU, trong đó thông báo chính nó là root. Nếu một switch nghe một BPDU tốt hơn (tức là BPDU có bridgeID nhỏ hơn), switch đó sẽ không khai báo nó là root nữa. Thay vào đó, switch sẽ bắt đầu gửi ra các BPDU nhận được từ switch ứng cử viên tốt hơn. Cuối cùng, tất cả các switch ngoại trừ switch có bridge ID tốt nhất sẽ ngừng gửi BPDU. Switch chiến thắng trong quá trình bầu cử trở thành root switch.

Giá trị bridgeID nguyên thủy của 802.1D có hai trường:


- Trường priority 2 bytes: được thiết kế để cấu hình trên các switch khác nhau để ảnh hưởng đến kết quả của quá trình bầu của spanning tree.
- Một trường có độ dài 6-bytes chứa địa chỉ MAC, được dùng để so sánh trong trường hợp độ ưu tiên của các switch là bằng nhau. Chắc chắn là sẽ có một switch thắng quá trình bầu chọn. Định dạng của bridgeID ở dạng nguyên thủy và dạng đã định nghĩa lại:



Định dạng của BPDU bị thay đổi là do việc phát minh ra các phiên bản PVST+ và MST. Với kiểu bridgeID cũ, một bridgeID của một switch cho mỗi phiên bản spanning tree là giống nhau nếu switch dùng một MAC. Nếu dùng nhiều spanningtree, việc mỗi switch chỉ có một bridgeID có thể gây ra nhầm lẫn. Vì vậy Cisco dùng một địa chỉ MAC khác nhau cho từng vlan khi tạo ra bridgeID. Điều này dẫn đến các giá trị bridgeID khác nhau mỗi VLAN, nhưng cũng sẽ làm tốn nhiều địa chỉ MAC trong từng switch.

Trường SystemID mở rộng cho một mạng dùng nhiều phiên bản spanningtree, mà không cần dùng các địa chỉ MAC riêng biệt cho từng switch. Trường này cho phép các VLAN-ID được đặt trong 12 bit cuối cùng của trường priority. Một switch có thể dùng một địa chỉ MAC để xây dựng nên bridgeID và với chỉ số vlan trong trường SystemID, switch này vẫn có một bridgeID duy nhất trong từng VLAN. Việc sử dụng trường systemID mở rộng còn được gọi là cơ chế giảm địa chỉ MAC (MAC address reduction).

Thứ Tư, 6 tháng 6, 2012

DNS (Domain Name System)

Hệ thống tên miền. Để có một trang web thì nội dung, chương trình của trang web phải để ở một máy chủ nào đó có địa chỉ nào đó trên mạng (ip tĩnh) và người dùng sẽ truy cập vào địa chỉ ip đó để vào trang web.
Các bạn có thể vào command line của win gõ "ping google.com.vn" sẽ ra địa chỉ 74.125.71.94.
Có thể nói là để nhớ hàng loạt các con số vô nghĩa này thì rất chi là khó, nên người ta đã sinh ra hệ thống tên miền này để thay thế, khi gõ google.com.vn thì người ta sẽ tìm trong cơ sở dữ liệu xem tên miền này tương ứng với địa chỉ ip nào để truy cập đến trang web ở máy chủ tương ứng.

Tuy nhiên không rõ vì sao mà giờ nguời dùng truy cập trực tiếp địa chỉ 74.125.71.94 thì lại bị chặn không truy cập được, nếu nó không chặn thì đã có 1 ví dụ rất tốt cho bài học này.

Bộ giao thức TCP/IP

I Giới Thiệu:
-Để các máy máy tính có thể liên lạc với nhau qua mạng, chúng phải sử dụng cùng 1 ngôn ngữ hay còn gọi là 1 giao thức (Protocol). Giao thức là 1 hệ luật và chuẩn cho phép các máy tính trong mạng liên lạc với nhau.
-TCP/IP là viết tắt của Transmission Control Protocol (Giao thức Điều Khiển Truyền Thông) / Internet Protocol (Giao thức Internet).
-TCP/IP không chỉ gồm 2 giao thức mà thực tế nó là tập hợp của nhiều giao thức. Chúng ta gọi đó là 1 Hệ Giao Thức hay Bộ Giao Thức (Suite Of Protocols). Bài viết chúng ta sẽ tập trung vào Bộ Giao Thức này.
II Tổng quát:
-Để cho các máy tính trao đổi dữ liệu với nhau TCP/IP sử dụng mô hình truyền thông 4 tầng hay còn gọi là Mô Hình DoD (Mô hình của Bộ Quốc Phòng Mỹ). Các tầng trong mô hình này là (Theo thứ tự từ trên xuống):
+ Tầng Ứng Dụng (Application Layer)
+ Tầng Giao Vận (Transport Layer)
+ Tầng Liên Mạng (Internet Layer)
+ Tầng Giao Diện Mạng (Network Interface Layer)
- Mỗi giao thức của Họ TCP/IP đều thuộc 1 trong các tầng này. Ta sẽ cùng tìm hiểu từng tầng .
1.Tầng Giao Diện Mạng (Network Interface Layer):
- Tầng Giao Diện Mạng có trách nhiệm đưa dữ liệu tới và nhận dữ liệu từ phương tiện truyền dẫn. Tầng này gồm các thiết bị phần cứng vật lí chẳng hạn như Card Mạng và Cáp Mạng.
- 1 Card Mạng chẳng hạn card Ethernet chứa 1 số HEX 12 kí tự (00-18-37-03-C0-F4) được gọi là Địa Chỉ MAC (Media Access Control) hay Địa Chỉ Truy Nhập Phương Tiện . MAC đóng vai trò quan trọng trong việc gán địa chỉ và truyền dữ liệu.
- 1 số giao thức tiêu biểu thuộc tầng này gồm :
+ ATM (Asynchronous Transfer Mode)
+ Ethernet
+ Token Ring
+ FDDI (Fiber Distributed Data Interface)
+ Frame Relay
2.Tầng Liên Mạng (Internet Layer):
- Nằm bên trên tầng giao diện mạng. Tầng này có chức năng gán địa chỉ, đóng gói và định tuyến (Route) dữ liệu. 4 giao thức quan trọng nhất trong tầng này gồm:
+ IP (Internet Protocol): Có chức năng gán địa chỉ cho dữ liệu trước khi truyền và định tuyến chúng tới đích.
+ ARP (Address Resolution Protocol): Có chức năng biên dịch địa chỉ IP của máy đích thành địa chỉ MAC.
+ ICMP (Internet Control Message Protocol): Có chức năng thông báo lỗi trong trường hợp truyền dữ liệu bị hỏng.
+ IGMP (Internet Group Management Protocol): Có chức năng điều khiển truyền đa hướng (Multicast)
3.Tầng Giao Vận (Transport Layer):
- Có trách nhiệm thiết lập phiên truyền thông giữa các máy tính và quy định cách truyền dữ liệu. 2 giao thức chính trong tầng này gồm:
+ UDP (User Datagram Protocol): Còn gọi là Giao Thức Gói Người Dùng. UDP cung cấp các kênh truyền thông phi kết nối nên nó không đảm bảo truyền dữ liệu 1 cách tin cậy. Các ứng dụng dùng UDP thường chỉ truyền những gói có kích thước nhỏ, độ tin cậy dữ liệu phụ thuộc vào từng ứng dụng
+ TCP (Transmission Control Protocol): Ngược lại với UDP, TCP cung cấp các kênh truyền thông hướng kết nối và đảm bảo truyền dữ liệu 1 cách tin cậy. TCP thường truyền các gói tin có kích thước lớn và yêu cầu phía nhận xác nhận về các gói tin đã nhận.
4.Tầng Ứng Dụng (Application Layer):
- Gồm nhiều giao thức cung cấp cho các ứng dụng người dùng. Được sử dụng để định dạng và trao đổi thông tin người dùng. 1 số giao thức thông dụng trong tầng này là:
+ DHCP (Dynamic Host Configuration Protocol): Giao Thức Cấu Hình Trạm Động
+ DNS (Domain Name System): Hệ Thống Tên Miền
+ SNMP (Simple Network Management Protocol): Giao Thức Quản Lý Mạng Đơn Giản
+ FTP (File Transfer Protocol): Giao Thức Truyền Tập Tin
+ TFTP (Trivial File Transfer Protocol): Giao Thức Truyền Tập Tin Bình Thường
+ SMTP (Simple Mail Transfer Protocol): Giao Thức Truyền Thư Đơn Giản
+ TELNET
***Bảng sau mô tả khái quát về Bộ Giao Thức TCP/IP:




Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

Giao thức AODV (Ad hoc On-Demand Distance Vector)

Đây là giao thức định tuyến cho mạng ad hoc. Giao thức này thuộc loại phản ứng lại theo yêu cầu, tức là việc thiết lập tuyến tới đích chỉ khi được yêu cầu.
Trong AODV, mạng ở chế độ silent cho đến khi một kết nối cần được thiết lập. Ở vị trí nút mạng cần một kết nối thì nó sẽ phát quảng bá một bản tin. Những nút AODV khác sẽ chuyển tiếp bản tin này và ghi lại nút mà chúng đã nghe được bản tin, tạo một sự bùng nổ các tuyến tạo về nút phát bản tin, có thể nói bằng một kiểu gần gũi hơn là "hiệu ứng lan tỏa" ấy, các nút nhận được bản tin quảng bá sẽ lưu thông tin nút phát đến nó -> có thể lần ngược về nút nguồn ban đầu.
Từ một nút ban đầu, sau một số lần lan tỏa thì sẽ có một nút biết được nút đích và nó sẽ phản hồi lại thông tin nút đích đã biết về nút nguồn. Và nếu có nhiều thông tin phản hồi các đường khác nhau từ các tuyến khác nhau về nút nguồn thì nút nguồn sẽ chọn tuyến có đường đi ngắn nhất.

Cái này không có trong vở nhưng đọc trên wiki tiếng anh thì để bản tin không bị truyền lan tỏa mãi thì nó sẽ được quy định một thời gian sống "time to live" cho phép bản tin lan tỏa bao nhiêu lần, chứ cứ lan tỏa lung tung ra toàn mạng thì chỉ tổ tốn tài nguyên mà có khi tìm được đích từ lâu lắm rồi.

Khi một tuyến bị đứt thì nút cạnh chỗ đứt / nút đứt sẽ gửi thông báo lỗi về nút nguồn để yêu cầu tìm đường khác.

Ưu điểm của phương pháp:
  • Định tuyến chỉ thiết lập khi có yêu cầu
  • Thông tin khi tìm đường vừa được thiết lập ngay nên là thông tin mới nhất
Nhược:
  •  Khi có tuyến được yêu cầu thì có nhiều nút trả lời (tìm lắm đường cả thẳng cả cong, cả zic zắc..), tốn nhiều thông tin điều khiển.
  • Vẫn sử dụng các gói tin beaconing -> tốn băng thông không cần thiết (cái này không hiểu nhưng ở lớp day thế)

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

Mới mua cái wireless router w311r, có vài lời chia sẻ


Nhà không bắt được wifi chùa, mà nhiều lúc chỉ check tin, check mail cứ phải mở máy lên đợi khởi động thì mất công, không tiện tí nào nên mình quyết định mua 1 con phát wifi về để "cải thiện đời sống" vì mình có điện thoại và máy đọc sách đều hỗ trợ wifi cả.

Đầu tiên là chọn mua loại nào, chúng ta cần phân biệt một số loại phát wifi thông dụng gồm :Access Point, Wireless Router và Wireless Modem.

Con của mình là Wireless-N Broadband Router tức là loại wireless Router. Dòng này là dòng trung quốc, giá rẻ, phát cũng không xa nhưng mình để cách 1 tầng vẫn bắt được, thằng bạn dùng trước con này rồi thì bảo chất lượng cũng được.

Về khoản cài đặt, mặc dù học về viễn thông và đã từng học CCNA nhưng học là 1 chuyện, hành lại là chuyện khác, mình mù tịt khoản cài đặt, cộng thêm trước nghịch pass modem bị đơ không vào mạng, gọi bọn kỹ thuật mãi mới xử được nên rất ngại thao tác, cái khác hỏng thì còn lên mạng search xử lý,mạng hỏng rồi thì chỉ có khóc thôi ^_^ nên ra quán hỏi ông chủ quán, ông bảo ông cấu hình cho, đặt pass cho về cắm phát là chạy, thế là yên tâm, bạn nào không quen thì cứ theo cách này mà làm nhé, lưu ý là Access point thì không cấu hình được gì hết, không có pass đâu.

Con w311r này có 4 cổng LAN và 1 cổng WAN (cổng xanh nối từ modem đến nó qua cổng này), sau khi nối Internet thì nó ngoài phát wifi thì 4 cổng này có thể share tiếp cho 4 máy. Sau khi dùng hôm đầu tiên thì thấy không bị lỗi gì nhưng đến hôm sau thì phát hiện ra một số vấn đề:
  • Nhà mình có 2 máy 1 laptop và 1 cái PC, thỉnh thoảng mình hay gửi dữ liệu qua mạng LAN thông qua modem với tốc độ 100 Mbps (tương đương 12.5 Megabyte/s và thực tế cũng thấy dao động khoảng 11-12 hơn trừ khi send nhiều file nhỏ) nhưng nếu cắm vào con này thì tốc độ mạng LAN được có 1,1 Mb/s tức là chậm 10 lần. Chắc là không thiết kế cho truyền mạng LAN mà chỉ để phát wifi nên tốc độ chỉ thế thôi.
  • Các máy cùng cắm vào 1 modem hoặc cùng vào cái w311r này thì có thể nhận được nhau qua mạng LAN nhưng nếu một cái cắm vào modem, 1 cái cắm vào con này thì không nhận được nhau (không biết cấu hình thì có nhận được ra nhau không).
Chất lượng thì mới dùng nên không nói trước được nhưng nếu share mạng LAN trong gia đình thì nên lưu ý vấn đề trên

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

Phân biệt các thiết bị phát wifi thông dụng

Bộ phát wifi thông thường theo mình tìm hiểu thì gồm 3 loại :Access Point, Wireless Router và Wireless Modem- Access point: chỉ có cổng lan, cắp vào là phát, chả cấu hình gì (nghe trên mạng nói thế), search google thì ra được 1 cái hính có lẽ miêu tả rõ nhất, nhược điểm nhất có lẽ là không cấu hình được password, bọn hàng xóm bắt chùa ngay, kéo phim tối ngày còn mình thì yahoo không vào được, loại, không mua.

- Wireless Router : nhà mình có 1 cái tenda W311R ,gồm 1 cổng WAN (trong cái hộp thì nó ghi là cổng internet) và nhiều cổng LAN, trông cái cổng WAN ngoại trừ tô xanh ra thì nó vẫn dùng giắc như cổng LAN thường, dùng để nối từ modem đến nó, các cổng còn lại để chia sẻ đến nhiều máy . Có thể cấu hình được nhiều thứ với cái này, nhưng mình không thạo nên không nói được gì nhiều, chỉ biết là đặt được password (nhờ ông ngoài quán cấu hình sẵn hộ).



- Wireless Modem : như wireless Router nhưng nó là modem luôn, lấy thẳng dây net từ nhà mạng cắm vào, vừa tính năng share mạng lan (nhiều cổng lan), vừa phát wifi, có thể nói là tích hợp nhiều tính năng nhất trong 3 cái và cũng đắt nhất luôn

Mình post 3 cái hình chụp đằng đuôi lên để các bạn dễ phân biệt, access point thì chỉ có 1 cổng LAN, wireless router thì có mấy cổng nhưng nói chung là các chân giống nhau còn có 1chân khác (nhìn kỹ hình cuối) thì là wireless modem. Nhà mình có sẵn modem lúc lắp mạng bên viettel cho nên mình mua cái wireless router, còn không nếu chưa có gì mà muốn wifi thì các bạn nên mua wireless modem luôn cho gọn, tuy nhiên nếu thich mỗi cái chuyên dụng tính năng 1 cái hoặc phải share nhiều máy thì mua làm 2 vì modem nhiều cổng, thêm wireless modem nhiều cổng nữa thì sẽ tăng được số máy share

Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2012

Hệ thống định vị GLONASS

GLONASS (tiếng Nga: ГЛОбальная НАвигационная Спутниковая Система - ГЛОНАСС; chuyển tự: Global'naya Navigatsionnaya Sputnikovaya Sistema) là hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu của Liên bang Nga, tương tự như GPS (NAVSTAR) của Hoa Kỳ hay Galileo của Liên minh châu Âu.
Nền của hệ là 24 vệ tinh, chuyển động trên bề mặt Quả Đất theo 3 mặt quỹ đạo với góc nghiêng 64,8°, và độ cao 19100 km.
Vệ tinh đầu tiên của GLONASS được Liên Xô đưa lên quỹ đạo ngày 12 tháng 10 năm 1982, vào ngày 24 tháng 9 năm 1993 hệ chính thức được đưa vào sử dụng.

Các nguyên lý làm việc

Các vệ tinh của hệ GLONASS liên tục phóng ra các tín hiệu định vị theo 2 dạng: tín hiệu định vị chính xác chuẩn (Ch) ở tần số L1 (1,6 GHz) và tín hiệu định vị chính xác cao (C) ở tần số L1 và L2 (1,2 GHz). Thông tin, cung cấp bởi tín hiệu định vị Сh, mở cho tất cả người dùng trên nền toàn cầu và liên tục và đảm bảo khi dùng máy thu GLONASS, khả năng xác định:
  • các tọa độ ngang với độ chính xác 50-70 m (độ tin cậy 99,7%);
  • các tọa độ đứng với độ chính xác 70 m (độ tin cậy 99,7%);
  • các véc-tơ thành phần của vận tốc với độ chính xác 15 cm/s (độ tin cậy 99,7%)
  • thời gian chính xác với độ chính xác 0,7 mcs (độ tin cậy 99,7%).
Các độ chính xác này có thể tăng lên đáng kể, nếu dùng phương pháp định vị vi phân và/hay các phương pháp đo bổ sung đặc biệt.
Tín hiệu C về cơ bản, được chỉ định dành cho các nhu cầu của Bộ Quốc phòng Nga, và несанкционированное việc dùng nó không được khuyến khích. Câu hỏi về việc cung cấp tín hiệu C cho nhu cầu dân sự đang trong tình trạng xem xét.
Để xác định các tọa độ không gian và thời gian chính xác cần nhận và xử lý các tín hiệu định vị từ không ít hơn 4 vệ tinh GLONASS. Khi nhận các tín hiệu sóng định vị GLONASS máy thu, dùng các phương pháp kỹ thuật sóng đã biết, đo các độ dài đến các vệ tinh nhìn thấy và đo các vận tốc chuyển động của chúng.

Các lần phóng

  • 25 tháng 12 năm 2005, 8:07 Moskva, từ sân bay vũ trụ Baykonur, tên lửa mang Proton-K, đưa lên quỹ đạo một vệ tinh GLONASS và 2 vệ tinh GLONASS-M với nguồn mở sử dụng để làm đủ nhóm GLONASS.
  • 26 tháng 12 năm 2006, tên lửa mang Proton-K, đưa lên quỹ đạo 3 vệ tinh GLONASS-M.
  • 2007, có kế hoạch phóng 2 tên lửa mang Proton với 3 vệ tinh GLONASS-M trong mỗi cái
  • 2008, phóng tên lửa mang Proton với 3 vệ tinh GLONASS-M và tên lửa mang Sojuz với 2 máy vũ trụ GLONASS-K mới.

GLONASS ngày nay

Vào thời điểm này nhóm vệ tinh gồm 26 vệ tinh, gồm 21 vệ tinh đang hoạt động, còn 3 cái chuẩn bị đưa vào hoạt động và 2 dùng để dự phòng thay thế. Số lượng này chưa đủ để bao phủ toàn bộ bề mặt Quả Đất (cần tối thiểu 24 vệ tinh hoạt động cùng một lúc).
Độ mở tích phân GLONASS trên Quả Đất: 80%
Độ mở tích phân GLONASS trên Nga: 94%
Đứt quãng tối đa của sự định vị trên Quả Đất: 2.4 giờ
Đứt quãng tối đa của sự định vị trên Nga: 0.5 giờ
Để tăng số lượng vệ tinh lên 18 trên lãnh thổ Nga để việc định vị liên tục được đảm bảo 100%. Trên phần còn lại của quả đất theo đây sự ngắt trong việc định vị có thể đạt đến полутора часов. Việc định vị liên tục thực sự trên toàn bộ khu vực của quả đất được bảo đảm trên nhóm quỹ đạo từ 24 vệ tinh.
Các máy vũ trụ làm việc trong thời gian hiện tại gồm 6 vệ tinh «GLONASS-M», (1 phóng vào năm 2003, 2 — vào 2005, 3 — vào 2006), có thời gian bảo hành tồn tại tích cực là 7 năm. Các vệ tinh này, khác với các máy thế hệ trước, phóng 2 tín hiệu dành cho các nhu cầu dân dụng, cho phép tăng độ chính xác của việc xác định vị trí.
Tương ứng với yêu cầu của Tổng thống LB Nga nhóm tối thiểu từ 18 vệ tinh cần hoàn tất vào năm 2007. Nhóm đầy đủ từ 24 vệ tinh tương ứng với chương trình liên bang «Hệ định vị toàn cầu» cần hoàn tất vào năm 2010.
Các vệ tinh «GLONASS-М» trong thành phần nhóm quỹ đạo sẽ nằm, như tối thiểu, đến năm 2015. Các thử nghiệm bay của các vệ tinh негерметичных thế hệ mới «GLONASS-K» với các đặc tính tốt hơn (thời gian bảo hành tăng lên 10 năm và tần số thứ 3 của L-диапазон dành cho các nhu cầu dân dụng) cần được bắt đầu vào năm 2008. Vệ tinh này sẽ nhẹ hơn 2 lần so với thế hệ trước (ví dụ 700 kg so với 1415 kg ở «GLONASS-M»)
Trong tương lai, sau khi hoàn tất nhóm quỹ đạo từ 24 vệ tinh, để đảm bảo sự cung cấp của nó cần thực hiện mỗi năm 1 cuộc phóng 2 vệ tinh «GLONASS-К» trên tên lửa mang «Sojuz», để giảm khấu hao sử dụng.
Ngày 29 tháng 11 năm 2006, bộ trưởng Quốc phòng Sergey Ivanov, trong chuyến thăm Học viện định vị sóng và thời gian Nga, thông báo rằng hệ GLONASS trong thời gian tới sẽ dùng cho dân sự.

Sự cố 2010

3 vệ tinh định vị GLONASS - M phóng lên quỹ đạo ngày 5 tháng 12 năm 2010 từ sân bay vũ trụ Baikonur đã rơi xuống ngoài khơi quần đảo Hawaii, Thái Bình Dương do lỗi ở tên lửa đẩy Proton làm chệch hướng khi rời khỏi bệ phóng một góc 8 độ so với dự kiến.

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes