Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012

Giao tiếp hồng ngoại (IrDA)

IrDA là viết tắt của Infrared Data Association (giao tiếp dữ liệu hồng ngoại). Công nghệ này được sử dụng nhiều trong điều khiển từ xa của vô tuyến, điều hoà nhiệt độ, trong máy tính, máy tính cầm tay, các thiết bị y tế
và cả trong máy in...
Hai hiện hữu quen thuộc nhất với chúng ta sử dụng giao tiếp này là điều khiển từ xa và truyền dữ liệu (tốc độ thấp) trong điện thoại, tuy nhiên thì công nghệ này chỉ tồn tại trong điện thoại đời cũ thôi, giờ không còn nhiều thiết bị mới dùng giao tiếp này mà chủ yếu dùng bluetooth hay thậm chí wifi để giao tiếp.
Về công nghệ thì cái này mình nắm không rõ, chỉ dựa vào kinh nghiệm và quan sát thực tế thì cái này truyền sóng yếu và thường là trực tiếp, có tính phản xạ nhưng nhìn chung là rất yếu, trước đây đã từng nghịch cho cái điều khiển quay ngược vào tường để bấm chuyển kênh trên ti vi thì thấy vẫn được với phòng nhỏ, để 2 cái điều khiển. Một cái pin khỏe, một cái pin yếu cùng bấm thì nếu quay cái pin yếu về ti vi, cái pin khỏe đối ngược lại thì ti vi không nhận được tín hiệu, không rõ là do tín hiệu bị nhiễu bởi tín hiệu khỏe hơn hay chỉ đơn giản là cái điều khiển kia nó che mất đường truyền thẳng của điều khiển pin yếu. Với điện thoại, các máy điện thoại của mình không có cái nào có cổng hồng ngoại cả, chỉ nhớ hồi năm nhất đại học thấy bọn nó mua điện thoại thường để gần hoặc gí cổng hồng ngoại 2 máy vào nhau thì mới truyền được dữ liệu và tốc độ rất là thấp thôi.
Với điện thoại có cổng hồng ngoại thì có 1 số phần mềm có thể giả lập để điều khiển tivi thay điều khiển, tuy nhiên các dòng tivi cao cấp hiện giờ thì đã có thể dùng sóng wifi bluetooth để điều khiển tivi bằng tablet, smartphone màn hình cảm ứng.

Về kỹ thuật thì không có gì nhiều chia sẻ, và ứng dụng thực tiễn nhất của nó là điều khiển thiết bị, mình chỉ có vài quan sát thực tế, search wiki kể cả tiếng anh cũng không có gì nhiều và nổi bật, bạn nào có nhu cầu tìm hiểu kỹ thì search google irDA là được.


Wi-Fi

Wi-Fi viết tắt từ Wireless Fidelity hay mạng 802.11 là hệ thống mạng không dây sử dụng sóng vô tuyến, giống như điện thoại di động, truyền hình và radio.
Hệ thống này đã hoạt động ở một số sân bay, quán café, thư viện hoặc khách sạn. Hệ thống cho phép truy cập Internet tại những khu vực có sóng của hệ thống này, hoàn toàn không cần đến cáp nối. Ngoài các điểm kết nối công cộng (hotspots), WiFi có thể được thiết lập ngay tại nhà riêng.
Tên gọi 802.11 bắt nguồn từ viện IEEE (Institute of Electrical and Electronics Engineers). Viện này tạo ra nhiều chuẩn cho nhiều giao thức kỹ thuật khác nhau, và nó sử dụng một hệ thống số nhằm phân loại chúng; 4 chuẩn thông dụng của WiFi hiện nay là 802.11a/b/g/n. 


Hoạt động

Máy tính xách tay cắm thêm thẻ adapter ở cổng PC card đang liên lạc với router có hai ăng-ten nằm đằng sau.
Truyền thông qua mạng không dây là truyền thông vô tuyến hai chiều. Cụ thể:
  • Thiết bị adapter không dây (hay bộ chuyển tín hiệu không dây) của máy tính chuyển đổi dữ liệu sang tín hiệu vô tuyến và phát những tín hiệu này đi bằng một ăng-ten.
  • Thiết bị router không dây nhận những tín hiệu này và giải mã chúng. Nó gởi thông tin tới Internet thông qua kết nối hữu tuyến Ethernet.
Qui trình này vẫn hoạt động với chiều ngược lại, router nhận thông tin từ Internet, chuyển chúng thành tín hiệu vô tuyến và gởi đến adapter không dây của máy tính.

Sóng WiFi
Các sóng vô tuyến sử dụng cho WiFi gần giống với các sóng vô tuyến sử dụng cho thiết bị cầm tay, điện thoại di động và các thiết bị khác. Nó có thể chuyển và nhận sóng vô tuyến, chuyển đổi các mã nhị phân 1 và 0 sang sóng vô tuyến và ngược lại.
Tuy nhiên, sóng WiFi có một số khác biệt so với các sóng vô tuyến khác ở chỗ:
  • Chúng truyền và phát tín hiệu ở tần số 2.5 GHz hoặc 5GHz. Tần số này cao hơn so với các tần số sử dụng cho điện thoại di động, các thiết bị cầm tay và truyền hình. Tần số cao hơn cho phép tín hiệu mang theo nhiều dữ liệu hơn.
  • Chúng dùng chuẩn 802.11:
    • Chuẩn 802.11b là phiên bản đầu tiên trên thị trường. Đây là chuẩn chậm nhất và rẻ tiền nhất, và nó trở nên ít phổ biến hơn so với các chuẩn khác. 802.11b phát tín hiệu ở tần số 2.4 GHz, nó có thể xử lý đến 11 megabit/giây, và nó sử dụng mã CCK (complimentary code keying).
    • Chuẩn 802.11g cũng phát ở tần số 2.4 GHz, nhưng nhanh hơn so với chuẩn 802.11b, tốc độ xử lý đạt 54 megabit/giây. Chuẩn 802.11g nhanh hơn vì nó sử dụng mã OFDM (orthogonal frequency-division multiplexing), một công nghệ mã hóa hiệu quả hơn.
    • Chuẩn 802.11a phát ở tần số 5 GHz và có thể đạt đến 54 megabit/ giây. Nó cũng sử dụng mã OFDM. Những chuẩn mới hơn sau này như 802.11n còn nhanh hơn chuẩn 802.11a, nhưng 802.11n vẫn chưa phải là chuẩn cuối cùng.
    • Chuẩn 802.11n cũng phát ở tần số 2.4 GHz, nhưng nhanh hơn so với chuẩn 802.11a, tốc độ xử lý đạt 300 megabit/giây.
  • WiFi có thể hoạt động trên cả ba tần số và có thể nhảy qua lại giữa các tần số khác nhau một cách nhanh chóng. Việc nhảy qua lại giữa các tần số giúp giảm thiểu sự nhiễu sóng và cho phép nhiều thiết bị kết nối không dây cùng một lúc.

Adapter
 
Một adapter cắm vào khe PCI cho máy tính để bàn.
Các máy tính nằm trong vùng phủ sóng WiFi cần có các bộ thu không dây, adapter, để có thể kết nối vào mạng. Các bộ này có thể được tích hợp vào các máy tính xách tay hay để bàn hiện đại. Hoặc được thiết kế ở dạng để cắm vào khe PC card hoặc cổng USB, hay khe PCI.
Khi đã được cài đặt adapter không dây và phần mềm điều khiển (driver), máy tính có thể tự động nhận diện và hiển thị các mạng không dây đang tồn tại trong khu vực./.

Router

Nguồn phát sóng WiFi là máy tính với:
  1. Một cổng để nối cáp hoặc modem ADSL
  2. Một router (bộ định tuyến)
  3. Một hub Ethernet
  4. Một firewall
  5. Một access point không dây
Hầu hết các router có độ phủ sóng trong khoảng bán kính 30,5 m về mọi hướng.

Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012

Mạng ad-hoc

1/ Khái niệm mạng Ad Hoc.
Ad hoc như những bộ định tuyến không dây. Mạng Ad hoc có thể hoạt động độc lập hoặc kết nối với mạng Mạng vô tuyến Ad hoc là mạng tập hợp các nút di động hoặc bán di động và không có cơ sở hạ tầng. Manet ( Mobile Ad-hoc Network) - Mạng không dây di động. Theo định nghĩa của Tổ chức Internet Engineering Task Force (IETF)- Mạng Manet là một vùng tự trị ( Autômmous System) của các router (đó chính là các node) được kết nối với nhau bằng liên kết không dây, các node có thể di chuyển một cách tự do nên kiến trúc của mạng thay đổi liên tục mà không thể dự đoán trước

Mỗi nút mạng có một giao diện vô tuyến và giao tiếp với nút mạng khác thông qua sóng vô tuyến hoặc tia hồng ngoại. Topo mạng thay đổi liên tục khi các nút mạng tham gia hoặc rời khỏi mạng hay khi kết nối vô tuyến trở nên không còn thích hợp.Mạng Ad hoc được hình thành bởi các nút di động có khả năng phát hiện ra sự có mặt của các nút khác và tự định dạng để tạo nên mạng. Ví dụ như một nút yêu cầu truyền tới một mạng ở xa nó thì trong mạng có thể thiết lập liên lạc qua những nút trung gian, các gói được chuyển tiếp tới nút nguồn, đích nhờ những nút trung gian. Do đó các nút mạng Internet.
Trong mạng Ad hoc không tồn tại khái niệm quản lý tập trung , nó đảm bảo mạng sẽ không bị sập vì trường hợp nút mạng di chuyển ra ngoài khoảng truyền dẫn của nút mạng khác vì nó trao đổi thông tin bằng phương pháp truyền gói tin qua nhiều bước (multi-hop), đồng thời mạng sẽ tự cấu hình lại. Ví dụ: Nếu nút mạng rời khỏi mạng sẽ gây ra sự cố mất liên kết , nút mạng bị ảnh hưởng có thể yêu cầu đường định tuyến mới và vấn đề sẽ được giải quyết. Điều này chỉ gây trễ trên mạng mà không ảnh hưởng đến người sử dụng vì mạng Ad hoc vẫn hoạt động bình thường.
Hiện nay tồn tại hai kiểu topa mạng Ad hoc:
1. Mạng có các thiết bị di động không đồng nhất (Hình dưới bên phải)
2. Mạng máy chủ di dộng (Hình dưới bên trái)

2/ Đặc điểm của mạng Ad Hoc
Một số đặc điểm chính của mạng Ad hoc:
- Mỗi máy chủ không chỉ đóng vai trò là một hệ thống cuối cùng mà còn hoạt động như một hệ thống trung gian
- Mọi nút mạng đều có khả năng di động
- Tôp mạng thay đổi theo thời gian
- Các nút di động sử dụng nguồn năng lượng pin có hạn
- Băng thông trong thông tin vô tuyến hẹp
- Chất lượng kênh luôn thay đổi
- Không có thực thể tập trung , nói cách khác là mạng phân bố
Có nhiều thiết bị khác nhau sử dụng trong mạng Ad hoc, chúng đều có đặc điểm chung là sử dụng nguồn năng lượng do pin cung cấp . Năng lượng mà pin có thể cấp cho các thiết bị này là có hạn, hơn nữa mọi hoạt động như thu phát vô tuyến , truyền lại và dẫn đường đểu tiêu thụ năng lượng. Vì vậy mà cần phải có những giao thức về năng lượng có hiệu quả cao và các kỹ thuật điều khiển công suất tốt hơn. Điều này cũng khó làm được bởi vì công nghệ pin không có được sự phát triển mạnh mẽ nhanh chóng như công nghệ sản xuất chip… do đó điểm này được coi là một nhược điểm của mạng Ad hoc.

3/ Định tuyến trong mạng Ad Hoc
Trong mạng thông tin vô tuyến nói chung và mạng Ad hoc nói riêng do mọi nút mạng đều có khả năng di chuyển nên topo mạng cũng thay đổi theo thời gian. Đặc điểm này gây ra khó khăn trong việc truyền tải gói tin. Mạng Ad hoc riêng gói tin muốn đến được đích thì phải truyền qua nhiều trạm và nút mạng do đó để gói tin đến được đích thì nút mạng phải sử dụng phương pháp định tuyến . Giao thức định tuyến có hai chức năng :tìm, chọn đường tốt nhất và chuyển gói tin đến đúng đích. Dễ thấy rằng chức năng thứ hai rất đơn giản có thể sử dụng nhiều giao thức và cấu trúc dữ liệu có sẵn ví dụ như bảng định tuyến. Do đó ta sẽ đề cập sâu hơn về việc tìm, chọn đường của các nút.

3.1/ Định tuyến Bellman-Ford
Nhiều lược đồ định tuyến trước đây được xây dựng cho mạng không dây Ad hoc dựa trên thuật toán Bellman-Ford. Các lược đồ này cũng được nghiên cứu giải quyết các vấn đề của lược đồ Distance Vector (DV). Trong thuật toán Bellman-Ford, mọi nút i duy trì một bảng định tuyến hay ma trận chứa thông tin khoảng cách và thông tin về nút kế tiếp với i trên đường đi ngắn nhất tới đích j bất kỳ, trong đó khoảng cách chính là chiều dài ngắn nhất từ i tới j. Để cập nhật thông tin về đường đi ngắn nhất mỗi nút sẽ thường xuyên trao đổi bảng định tuyến với các nút bên cạnh nó. Dựa trên bảng định tuyến từ các nút lân cận đó , nút i biết được khoảng cách ngắn nhất từ các lân cận của nó tới nút bất đích bất kỳ. Do đó , với mỗi nút đích j, i sẽ chọn một nút k cho chặng kế tiếp sao cho khoảng cách từ i qua k tới j là nhỏ nhất . Các thông tin tính toán mới này sẽ được lưu trữ vào bảng định tuyến của i và được trao đổi ở vòng cập nhật định tuyến tiếp theo. Định tuyến này có ưu điểm là đơn giản và tính toán hiệu quả do đặc điểm phân bố. Tuy nhiên nhược điểm của nó là hội tụ chậm khi topo mạng thay đổi và có xu hướng tạo các vòng lặp định tuyến đặc biệt là khi các điều kiện liên kết không ổn định.

3.2/ Định tuyến Link State
Định tuyến Link State còn gọi là định tuyến trạng thái liên kết. Định tuyến này cũng là một trong những thuật toán được sử dụng rộng rãi trong nhiều giao thức, chẳng hạn như OSPF. Mặc dù định tuyến Link State hiếm khi được sử dụng cho mạng không dây, song nó lại chứa nhiều tiềm năng cung cấp các giải pháp định tuyến theo yêu cầu cho các tiêu chuẩn định tuyến khác nhau.
Trong định tuyến Link State, khi có một nút phát hiện ra có thay đổi trong vùng kết nối với nó, nút làm tràn trạng thái kết nối mới bởi gói chứa thông tin kết nối cục bộ được cập nhập. Các nút khác thông báo về sự thay đổi này khi gói trạng thái liên kết tới, do đó thông tin về topo mạng thay đổi theo. Định tuyến Link State đáp lại sự thay đổi mạng nhanh hơn DBF và tương tự với định tuyến on-demand. Nó tính toán đường đi theo kiểu tập trung để dễ dàng chống lại các vòng lặp định tuyến. Tuy nhiên do định tuyến Link State cũng dựa vào cơ chế flooding để quảng bá thông tin về sự thay đổi kết nối của nút, phụ trội điều khiển làm cho định tuyến Link State có chất lượng kém hơn DBF và on-demand trong môi trường không dây bất chấp độ chính xác mà nó cung cấp. Vấn đề khác trong định tuyến Link State là một nút có thể không tìm ra những biến đổi về topo mạng chính xác nếu toàn bộ mạng được chia thành hai phần và sau đó được khôi phục lại.

3.3/ Định tuyến tìm đường
Các giao thức mới như DSDV (Destination Sequenced Distance Vector) và WRP (Wireless Routing Protocol) dựa trên DBF để cung cấp định tuyến lặp tự do. Cho dù là vấn đề đã được giải quyết thì vẫn còn tồn tại vấn đề về độ thiếu chính xác trong định tuyến DBF, vấn đề này có thể gây ra suy giảm hiệu suất mạng. Nguyên nhân dẫn đến sự thiếu chính xác là do nút mạng không có được cac thông tin trạng thái toàn mạng dẫn đến các quyết định đưa ra chỉ tối ưu trong phạm vi cục bộ, nó không đảm bảo một giải pháp tối ưu trong môi trường di động. Thêm vào đó khi DBF chỉ duy trì một đường đi duy nhất tới đích, nó thiếu khả năng thích nghi với các lỗi liên kết và yêu cầu nghiên cứu mở rộng cho các hỗ trợ multicasting.

3.4/ Định tuyến On-demand
Định tuyến On-demand được biết đến như DC (Diffusion Computation) cũng được sử dụng trong mạng không dây. Trong lược đồ định tuyến On-demand, một nút xây dựng đường đi bằng cách chất vấn tất cả các nút trong mạng. Gói chất vất tìm được ID của các nút trung gian và lưu giữ ở trường Path. Khi dò tìm các chất vấn, nút đích hay các nút đã biết đường đi tới đích trả lời chất vấn bằng cách phúc đáp “source routed” cho nơi gửi. Do nhiều phúc đáp nên có nhiều đường đi được tính toán và duy trì. Sau khí tính toán đường đi nút liên kết bất kỳ bắt đầu các chất vấn , phúc đáp khác nên luôn cập nhật định tuyến. Mặc dù các tiếp cận dựa trên cơ sở DC có độ chính xác cao hơn và phản ứng nhanh hơn với sự thay đổi mạng nhưng phụ trộ điều khiển quá mức do thường xuyên yêu cầu flooding đặc biệt khi tính di động cao hơn và lưu lượng dày đặc phân bố đều nhau. Kết quả là các giao thức định tuyến On-demand chỉ phù hợp với mạng không dây băng thông rộng trễ truyền gói nhỏ và lưu lượng rất mỏng.

3.5/ Định tuyến vùng
Định tuyến vùng là một giao thức định tuyến khác thiết kế trong môi trường Ad hoc. Đây là giao thức lai giữa định tuyến On-demand với một giao thức bất kỳ đã tồn tại. Trong định tuyến vùng mỗi nút xác định vùng riêng khi nút ở khoảng cách nhất định. Hai lược đồ định tuyến khác nhau được yêu cầu cho định tuyến vùng. Để định tuyến trong vùng có thể sử dụng bất kỳ lược đồ giao thức nào DBF hoặc LS. Mục đích trong vùng là để duy trì thông tin đầy đủ về khả năng nút đạt tới đích của nút ở trong vùng đang xét. Định tuyến vùng trung gian sử dụng định tuyến On-demand để tìm đường đi.Định tuyến vùng kết hợp hai lược đồ định tuyến nêu trên và hoạt động như sau: khi có lưu lượng cần được định tuyến, nó kiểm tra xem đích có ở trong vùng đó hay không. Nếu nút đích ở trong vùng trung gian duy trì thông tin cần thiết. Khi nút gửi một lưu lượng tới đích ở phạm vi ngoài vùng của nút, định tuyến vùng sẽ gửi các gói yêu cầu theo kỹ thuật multicasting tới các nút đường biên để tìm đường đi, giao thức định tuyến trong vùng cung cấp đường đi ngắn nhất. Nếu một số nút đường biên có thông tin về đích thì các gói phúc đáp sẽ được gửi trở lại cho nguồn. Ngược lại, các nút đường biên sẽ vẫn cứ yêu cầu các nút đường biên khác cho đường đi tới đích.
Ưu điểm của định tuyến vùng là khả năng mở rộng cấp độ khi nhu cần lưu trữ cho bảng định tuyến giảm xuống. Tuy nhiên do gần giống với định tuyến On-demand nên định tuyến vùng cũng gặp phải vấn đề về trễ kết nối và điểm kết thúc của các gói yêu cầu. 

4/ Giao thức định tuyến trong mạng Ad Hoc
Phân loại các giao thức định tuyến:
- Dựa trên bảng định tuyến: DSDV, WRP,
- Theo yêu cầu: AODV, DSR, LMR > TORA, ABR > SSR

4.1 DSDV
4.1.1 Mô tả
DSDV là giao thức định tuyến vecto khoảng cách theo kiểu từng bước: trong mỗi nút mạng duy trì bảng định tuyến lưu trữ đích có thể đến ở bước tiếp theo của định tuyến và số bước để đến đích. DSDV yêu cầu nút mạng phải gửi đều đặn thông tin định tuyến quảng bá trên mạng
Ưu điểm của DSDV là đảm bảo không có đường định tuyến kín bằng cách sử dụng số thứ tự đệ đánh dấu mỗi đường. Số thứ tự cho biết mức độ “mới” của đường định tuyến, số càng lớn thì mức độ đảm bảo càng cao (đường R được coi là tốt hơn R’ nếu số thứ tự của R lớn hơn, trong trường hợp có cùng số thứ tự thì R phải có số bước nhỏ hơn). Số thứ tự sẽ tăng khi nút A phát hiện ra đường đến đích D đị phá vỡ, sau đó nút A quảng bá đường định tuyến của nó tới nút D với số bước không giới hạn và số thứ tự sẽ tăng lên.
Về cơ bản DSDV dùng thuật toán vecto khoảng cách có điều chỉnh cho phù hợp với mạng Ad hoc: có xét đến thay đổi cấu trúc mạng giữa các lần quảng bá thông tin. Để giảm lượng thông tin trong các gói tin cập nhật thông tin DSDV sử dụng hai loại bản tin: bản tin đầy đủ và bản tin có thông tin mới (so với thông tin cập nhật trước đó).

4.1.2 Đặc điểm
DSDV phụ thuộc vào thông tin quảng bá định kỳ nên nó sẽ tiêu tốn thời gian để tổng hợp thông tin trước khi đường định tuyến được đưa vào sử dụng. Thời gian này là không đáng kể đối với mạng có cấu trúc cố định nói chung (bao gồm cả mạng có dây), nhưng với mạng Ad hoc thời gian này là đáng kể, có thể gây ra mất gói tin trước khi tìm ra được định tuyến hợp lý. Ngoài ra, bản tin quảng cáo định kỳ cũng là nguyên nhân gây ra lãng phí tài nguyên mạng

4.2 AODV
4.2.1 Mô tả
4.2.2 Mô tả chung
Giao thức định tuyến AODV cho phép định tuyến nhiều bước giữa các nút mạng để thiết lập và duy trì mạng Ad hoc. AODV dựa trên thuật toán vecto khoảng cách nhưng thuộc loại định tuyến yêu cầu, AODV chỉ yêu cầu định tuyến khi cần thiết và không yêu cầu nút mạng phải duy trì đường định tuyến đến các nít mạng không tham gia trao đổi thôngtin
AODV cho phép: định tuyến mở khi liên kết bị phá vỡ thông báo được gói đi ngay lập tức đến nhóm nút mạng liên quan và chỉ những nút mạng này thôi. Hơn nữa AODV cũng hỗ trợ định tuyến multicast và giải quyết được vấn đề đếm vô hạn trong thuật toán Bellman-Ford. Việc sử dụng số thứ tự ở nút mạng đích giúp cho đường định tuyến luôn được cập nhật và không hình thành đường định tuyến khép kín.
Thuật toán sử dụng nhiều dạng bản tin khác nhau để phát hiện và duy trì liên kết trong mạng. Khi nút mạng muốn sử dụng hoặc tìm đường định tuyến đến nút mạng khác, nó quảng bá bản tin yêu cầu đường định tuyến RREQ đến tất cả nút mạng gần nó. Bản tin RREQ này truyền trên mạng đến khi nó đến được nút mạng đích hoặc một nút mạng có đường định tuyến đến đích. Sau đó bản tin RREP sẽ được gửi lại, thông báo với nút nguồn.
Ngoài ra AODV còn sử dụng bản tin HELLO (là dạng bản tin RREP thu gọn) để quảng bá tới nút mạng bên cạnh. Bản tin này cho biết sự hiện diện của nút mạng nguồn trong mạng và nút mạng gần đó sử dụng đường định tuyến thông qua nút mạng nguồn phát tín hiệu quảng bá, đường định tuyến đó là hợp lệ. Nếu nút mạng không nhận được bản tin HELLO từ nút mạng A và liên kết đến nút A coi như bị phá vỡ và nó cũng thông báo cho nút mạng liên quan thông quan bản tin thông báo liên kết bị hỏng (RREP)

4.2.2.1 Quản lý bảng định tuyến
AODV lưu giữ thông tin cho mỗi đường định tuyến trong bảng định tuyến
- Địa chỉ IP của nút mạng đích
- Số thứ tự của nút mạng đích
- Số các nút mạng để tới đích
- Nút mạng trong bước tiếp theo
- Thời gian tồn tại của đường định tuyến
- Danh sách các nút mạng gần kề còn hoạt động
- Bộ đệm yêu cầu: để bảo đảm môi yêu cầu được xử lý một lần không bị bỏ sót

4.2.2.2 Tìm kiếm đường định tuyến
Trong trường hợp nút mạng quảng bá bản tin RREQ khi nó cần một đường đến nút mạng đích và không có đường nào có sẵn (thông thường đường đến nút mạng đích không biết hoặc đường đó bị quá thời gian) Sau khi quảng bá PREQ, nút mạng chờ bản tin RREP, trong một thời gian nhất định mà nó không nhận được trả lời thì bản tin RREQ lại được gửi đi hoặc mặc định là không có đường định tuyến đến nút mạng đó
Khi nhận được RREQ mà không có đường định tuyến đến đích theo yêu cầu thì nó sẽ chuyển bản tin RREQ đi, quảng bá lại RREQ. Nút mạng cũng tạo ra một đường định tuyến ngược đến địa chỉ IP nguồn trong bảng định tuyến của nó với nút mạng trung gian có địa chỉ IP trùng với địa chỉ chứa trong trường IP của nút mạng bên cạnh đã gửi quảng bá bản tin RREQ, điều này thực hiện được nhở việc ghi lại đường ngược đến nút mạng đưa ra yêu cầu và có thể được sử dụng cho bản tin cuối cùng RREP để tìm đường đến nút mạng đó.
Khi bản tin RREQ đến được nút mạng đích hoặc nút mạng có định tuyến đến đích, thì bản tin RREP được tạo ra và gửi unicast đến nút mạng đưa ra yêu cầu. Trong khi RREP được chuyển tiếp thì một đường định tuyến được tạo ra đến đích và khi RREP đến được, nút mạng đưa ra yêu cầu thì đường định tuyến từ nút mạng nguồn đến nút mạng đích đã tồn tại.

4.2.2.3 Cập nhật đường định tuyến
Khi một nút mạng phát hiện đường định tuyến đến nút mạng bên cạnh không hoạt động, nó sẽ xóa trong bảng định tuyến và gửi một bản tin liên kết hỏng. AODV sử dụng danh sách nút mạng bên cạnh còn hoạt động để ghi nhớ nút mạng đang sử dụng đường định tuyến trong bảng định tuyến. Nút mạng nhận được bản tin này cũng sẽ lặp lại quá trình gửi bản tin. Cuối cùng bản tin cũng gửi đến tất cả nút mạng có liên quan, từ đó chúng có thể dừng việc gửi thông tin hoặc yêu cầu đường định tuyến mới thông qua bản tin RREQ.

4.2.2 Đặc điểm
AODV giảm được lượng lớn thông tin định tuyến trên mạng nhờ sử dụng phương thức định tuyến theo yêu cầu. AODV coi trọng định tuyến hơn so với giao thức DRS điều này cho phép mạng Ad hoc có thể kết nối đến mạng có dây dễ dàng hơn (như mạng internet)
AODV sử dụng số thứ tự SeqNum nên có thể làm mơi đường định tuyến và SeqNum sẽ tăng khi có vấn đề ở khu vực xung quanh, đồng thời chống được định tuyến kín. Tuy nhiên, SeqNum dùng cho thuật toán định tuyễn cũng nảy sinh những vấn đề mới: điều gì sẽ xảy ra khi SeqNum không đồng bộ trên toàn mạng (nếu như mạng bị chia nhỏ theo các khu vực khác nhau hoặc số thứ tự bị trùng lặp).
AODV hỗ trợ một đường định tuyến cho một nút mạng đích, nhưng cũng dễ dàng thay đổi để xác định nhiều đường định tuyến cho mỗi đích. Thay vì yêu cầu một đường định tuyến mới khi định tuyến cũ không hợp lệ thì AODV có thể chọn đường định tuyến được lưu trữ đến cùng nút mạng đích đó với xác suất hợp lệ cao hơn.
AODV sử dụng bản tin HELLO ở mức IP, hỗ trợ lớp liên kết, nên chất lượng hoạt động của giao thức là điều cần quan tâm và cần cải tiến. Bản tin HELLO sẽ thêm phần tiêu đề vào gói tin định tuyến. AODV không hỗ trợ liên kết một chiều. Khi nút mạng nhận yêu cầu RREQ, nó sẽ khởi tạo đường định tuyến ngược đến nút nguồn bằng cách sử dụng những nút mạng đã chuyển tiếp bản tin RREQ. Đường định tuyến trả lời này thường là unicast và giống với đường đã sử dụng. Do vậy khi hỗ trợ liên kết một chiều AODV có thể khởi tạo tất cả liên kết chứ không chỉ là liên kết hai chiều như hiện nay. Tuy nhiên khi mô tả lớp MAC trong IEEE 802.11 không hoạt động với liên kết này.

4.3. DSR
4.3.1 Mô tả
4.3.1.2 Mô tả chung
Giao thức định tuyến DSR nằm trong lớp giao thức theo yêu cầu và cho phép nút mạng có thể tìm kiếm đường định tuyến thông qua nhiều nút mạng đến bất kỳ nút mạng đích nào. Định tuyến theo yêu cầu (hoạc từ nút nguồn) nghĩa là trong tiêu đề của mỗi gói tin chứa danh sách theo thứ tự nút mạng mà gói tin qua để đến nút mạng đích. DSR không sử dụng bản tin định kỳ (không có bản tin quảng bá đường định tuyến) nên giảm được băng thông mạng, bảo tôn được năng lượng pin và giảm được thông tin định tuyến. Để thực hiện những việc trên DSR dựa trên sự hỗ trợ của lớp MAC (lớp MAC sẽ thông tin cho giao thức định tuyến về trạng thái các liên kết). DSR cũng sử dụng hai cơ chế cơ bản là tìm kiếm đường và cập nhật đường định tuyến.

4.3.1.3 Thủ tục tìm kiếm đường
Nút mạng X muốn thông tin với nút mạng Y thì nó cần có một đường định tuyến nguồn tới Y, nút X sẽ gửi quảng bá gói tin RREQ. Tất cả các nút mạng nhận đượng yêu cầu này sẽ tìm kiếm trong bộ đệm đường định tuyến đến Y. DSR lưu toàn bộ các đường định tuyến thông dụng trong bộ đệm của nó. Nếu như không có đường định tuyến nào được tìm thấy thì nút mạng sẽ chuyển tiếp RREQ đi và thêm cả địa chỉ của nó. Yêu cầu này sẽ truyền trên mạng đến khi đến được nút mạng Y hoặc đến được nút mạng có định tuyến đến nút mạng Y. Khi đó bản tin trả lời RREP được gửi theo kiểu unicast ngược lại nút mạng nguồn. RREP chứa nút mạng trong mạng để có thể đến nút mạng Y. Trong thủ tục tìm đường, đầu tiên nút mạng gửi bản tin RREQ với giới hạn tối đa đường truyền được đặt ra là 0 để cho các nút mạng bên cạnh nó quảng bá lại bản tin này. Theo giá của gói tin quảng bá, kỹ thuật này cho phép nút mạng truy vấn đến bộ đệm định tuyến của nút mạng bên cạnh nó.
Các nút mạng cũng có thể hoạt động ở giao diện mạng theo chế độ lẫn lộn, không lọc địa chỉ giao diện và làm cho giao thức mạng nhận được tất cả gói tin mà giao diện nhận được. Các gói tin này được quét bởi đường định tuyến nguồn hoặc do các bản tin báo lỗi định tuyến và sau đó sẽ được loại bỏ.
Đường định tuyến ngược lại nút mạng X có thể nhận được theo nhiều cách khác nhau: cách đơn giản nhất là nghịch đảo lại bản ghi trong gói tin, tuy nhiên nó đòi hỏi liên kết phải cân xứng. Theo đó, DSR cũng kiểm tra bộ đệm định tuyến của nút mạng trả lời, nếu đường định tuyến được tìm thấy nó sẽ được sử dụng thay thế. Cách thứ hai là sử dụng ngay bản tin trả lời nút X. Tức là DSR có thể tính toán sửa được các đường liên kết một chiều (không cân xứng), khi đường định tuyên được tìm thấy nó sẽ được lưu trong bộ đệm với nhãn thời gian và giai đoạn duy trì đường định tuyến bắt đầu.

4.3.1.4 Cập nhật đường định tuyến
Thủ tục này được thực hiện bằng cách gói tin S được gửi đi để kiểm tra cấu trúc mạng, nếu thay đổi nó không sử dụng đường định tuyến đến nút mạng đích D (có thể do nút mạng nằm trong danh sách di chuyển ra ngoài mạng hoặc ngắt đường định tuyến). Khi thủ tục này phát hiện vấn đề với thời gian định tuyến đang sử dụng, gói tin báo lỗi định tuyến được gửi trở lại nút mạng nguồn, nút mạng này sẽ xoá bỏ nút mạng báo lỗi trong bộ đệm. Do đó đường định tuyến có chứa nút mạng đó sẽ bị ngắt tại điểm nút mạng đó.

4.3.2 Đặc điểm
DSR tận dụng ưu điểm tối đa của định tuyến từ nút nguồn. Nút mạng trung gian không cần duy trì, cập nhậ thông tin định tuyến để định tuyến gói tin mà chúng chuyển tiếp, cũng không cần bản tin quảng bá thông tin định tuyến định kỳ. Giao thức DSR có thể cập nhật đường định tuyến bằng cách quét thông tin trong gói tin nhận được. Đường định tuyến từ nút A đến nút C thông qua nút B: nút A có thể lấy thông tin từ nút C và cũng có thể lấy thông tin từ nút B. Định tuyến nguồn cũng có nghĩa là B lấy thông tin từ nút A và C, C cũng lấy thông tin từ A vàB. Tuy nhiên gói tin mang thông tin của phần định tuyến và phần thông tin này sẽ lớn dần khi gói tin đi qua nhiều nút mạng trước khi tới nút mạng đích. Khi hoạt động ở chế độ lẫn lộn, bảo mật là một vấn đề quan trọng, thủ tục lọc địa chỉ ở giao diện bị tắt và gói tin được quét lấy thông tin. Do đó có thể những người không hợp pháp lấy được thông tin này. Ứng dụng vì thế cần có cơ chế bảo mật của mình trước khi gửi gói tin đi. Giao thức định tuyến là đối tượng dễ tấn công bảo mật do đó nó cần có cơ chế bảo mật, có thể dùng giao thức IPSec. DSR hỗ trợ liên kết một chiều do sử dụng chế độ piggyback, và yêu cầu giao thức MAC hỗ trơ liên kết này.

4.4 ZRP
4.4.1 Mô tả
4.4.1.1 Mô tả chung
Giao thức ZRP la giao thứ sử dụng hỗn hợp hai kiểu tương tác và dự đoán trước. Nó chia thành nhiều vùng định tuyến và chỉ rõ hai giao thức riêng biệt hoạt động trong và giữa các vùng định tuyến.
Giao thức IARP hoạt động trong các vùng định tuyến và lấy được khoảng cách ngắn nhất và đường định tuyến đến tất cả nút mạng trong vùng. Nó không chỉ rõ giao thức định tuyến theo kiểu dự đoán trước nào, như vecto hay trạng thái liên kết. Các vùng định tuyến khác nhau có thể hoạt động với giao thức intrazone khác nhau ngay cả khi nó bị giới hạn với những vùng này. Khi có sự thay đổi cấu trúc mạng thì thông tin cập nhật chỉ được truyền trong các vùng định tuyến liên quan chứ không phải toàn mạng.
Giao thức thứ hai, IERP là giao thức tương tác được sử dụng để tìm đường định tuyến giữa các vùng định tuyến, khi nút mạng đích không nằm trong vùng định tuyến. Giao thức sẽ quảng bá RREQ đến tất cả nút mạng nằm ở đường biên trong vùng định tuyến. Thủ tục này được lặp lại cho đến khi nút mạng yêu cầu được tìm thấy và bản tin được trả lời được gửi đến nút nguồn. IERP sử dụng giao thứuc BRP và ZRP.

4.4.1.2 Vùng định tuyến
Được định nghĩa là tập hợp nút mạng, nằm trong khoảng cách tối thiểu nào đó trong số bước bước từ nút yêu cầu. Khoảng cách được hiểu là bán kính của vùng. Để yêu cầu không quay lại vùng định tuyến trước, ZRP sử dụng danh sách yêu cầu được xử lý PRL, khi nút mạng nhận được yêu cầu nó so sánh PRL, nếu yêu cầu đã đựoc xử lý thì lập tức bị loại bỏ.

Mạng sử dụng giao thức ZRP

4.4.2 Đặc điểm
Đây là giao thức đựoc quan tầm nhiều với mạng Ad hoc, nó có thể điều chỉnh trong điều kiện vận hành của mạng (chẳng hạn sự thay đổi đường kính vùng định tuyến). Tuy nhiên nó không thực hiện hoàn toàn do đường kính vùng định tuyến được khuyến nghị do người quản trị mạng khởi tạo hoặc với giá trị mặc định của nhà sản xuất. Hoạt động của giao thức phụ thuộc nhiều vào quyết định này. Do áp dụng cả hai loại định tuyến: định tuyến theo bảng và theo yêu cầu nên giao thức định tuyến tận dụng được ưu điểm của cả hai. Đường định tuyến được tìm rất nhanh trong vùng định tuyến, còn đường định tuyến ngoài có thể được truy vấn từ nút mạng được chọn lựa. Tuy nhiên, giao thức intrazone không xác định nút mạng sẽ phải hộ trợ nhiều giao thức định tuyến khác nhau, nó không thực sự khả thi với thiết bị nhỏ như PDA. Do đó sử dụng cùng giao thức định tuyến intrazone sẽ đem lại hiệu quả hơn.
ZRP giới hạn thông tin về thay đổi cẩu trúc mạng, nó chỉ gửi đến nút mạng bên cạnh có thay đổi (trái ngược với kiểu dự đoán trước, thông tin sẽ gửi trên toàn mạng), tất nhiên sự thay đổi cấu trúc sẽ gây nhiều ảnh hưởng đến vùng định tuyến

4.5 TORA
4.5.1 Mô tả
TORA là giao thức định tuyến phân tán, thuật toán cơ bản là thuật toán hoán vị liên kết, nó được thiết kế nhằm tối thiểu hoá phản ứng với sự thay đổi về cấu trúc mạng. Khái niệm quan trọng trong giao thức này là các bản tin điều khiển được khoanh vùng trong tập hợp nhỏ các nút mạng. TORA đảm bảo tất cả các đường định là là vòng mở và cung cấp nhiều đường định tuyến cho mỗi cặp nút mạng nguồn và đích. Nó chỉ thực hiện thuần tuý chức năng định tuyến, chức năng khác phụ thuộc vào giao thức IMEP.
Ba chức năng cơ bản là : Tạo định tuyến, cập nhật đường định tuyến, xoá bỏ đường định tuyến. Chức năng tạo đưòng định tuyến đơn giản là gán hướng cho liên kết mạng vô hường hoặc một phần mạng vô hướng, xây dựng lên đồ thị xoắn có hướng bắt từ nút mạng đích.

Đồ thị xoắn có gốc ở nút đích D
TORA gắn cho mỗi nút trong mạng một giá trị “chiều cao”, tất cả bản tin trong mạng được di chuyển theo chiều xuôi xuống: từ nút mạng có chiều cáo hơn đến nút mạng có chiều cao thấp hơn. Đường định tuyến được tìm thông qua bản tin truy vấn QRY và bản tin cập nhật UPD. Khi nút mạng không có liên kết xuống cần có định tuyến đến nút mạng đích, nó sẽ quảng bá gói tin QRY, gói tin này truyền trên mạng đến khi nó gặp được nút mạng đích hoặc có đường định tuyến đến nút mạng đích. Sau đó nó quảng bá UPD với chiều cao của nó. Tất cả nút mạng nhận được gói tin cập nhật này sẽ gửi chiều cao của nó đến nút có chiều cao lớn hơn giá trị trong gói UPD. Nút mạng cũng quảng bá gói tin UPD của riêng nó, kết quả thu được một số liên kết định hướng từ nút gửi bản tin truy vấn đến nút mạng đích. Duy trì đường định tuyến khi cấu trúc mạng thay đổi theo kiểu đường định tuyến đến đích được thành lập lại trong khoảng thời gian có hạn. Thủ tục xoá đường định tuyến được thực hiện thông quan bản tin CLR.

4.5.2 Đặc điểm
Thuật toán hoán vị sẽ thay đổi cùng với sự thay đổi liên kết thông qua thuật toán phân tán trong vùng nhỏ đơn lẻ, điều này không cho phép bản tin CLR được truyền quá xa trong mạng. Theo dự án CMU Monarch cho thấy phần tiêu đề trong TORA khá lớn do sử dụng giao thức
IMEP. Đồ thị bắt nguồn ở đích (nút mạng có chiều cao thấp nhất) nhưng nút phải gửi bản tin truy vấn không cần có chiều cao lớn nhất. Tuy nhiên, nảy sinh tình huồng: có nhiều đường định tuyến giữa cặp nút mạng nguồn-đích nhưng chỉ có một đường được tìm thấy. Có thể giải thích là chiều cao ban đầu dựa trên khoảng cách giữa các nút mạng trung gian trước khi đến nút mạng đích.

4.6 IMEP
4.6.1 Mô tả
IMEP là giao thức thiết kế hỗ trợ hoạt động của nhiều giao thức định tuyến trong mạng Ad hoc. Ý tưởng giao thức tổng quát cho tất cả giao thức định tuyến sử dụng, nó kết hợp các kỹ thuật mà các giao thức lớp trên cần:
- Phán đoán trạng thái liên kết
- Kết hợp các bản tin điều khiển
- Quảng bá một cách tin cậy
- Giải địa chỉ lớp mạng
- Các thủ tục chứng thực bảo mật liên quan router.
IMEP cũng đưa ra cấu trúc nhận dạng router MANET, nhận dạng giao diện và đánh địa chỉ, với mục đích nâng cao chất lượng hoạt động của giao thức và giảm thiểu số lượng bản tin điều khiển, ghép các chức năng chung. Chính vì thế mà TORA và OLSR sử dụng IMEP cho các chứng năng khác định tuyến


Giao thức định tuyến IMEP

4.6.2 Đặc điểm
Ý tưởng thiết kế giao thức này rất hay nhưng đứng từ quan điểm chất lượng hoạt động của giao thức thì giao thức lại chưa đạt. Nó thêm thành phần chia lớp vào bộ giao thức và khi thực hiện trong dự án CMU Monarch IMEP đã sinh ra quá nhiều thông tin tiêu đề .

4.7 CBRP
4.7.1 Mô tả
4.7.1.1 Mô tả chung
CBRP chia nút mạng trong mạng Ad hoc thành các cluster chồng nhau hoặc rời rạc. Mỗi một cluster có một nút mạng đại diện có chứa các thông tin quan hệ nút mạng cho cluster đó. Đường định tuyến trong một cluster được tìm kiếm tự động thông qua thông tin quan hệ giữa các nút mạng.
CBRP dựa tên thuật toán định tuyến nguồn tương tự như DSR, có nghĩa là định tuyến giữa các cluster được thực hiện thông qua bản tin RREQ gửi trên toàn mạng, chỉ khác là sô lượng nút nhỏ hơn. Trong khi giao thức định tuyến theo mặt phẳng sẽ chịu khối lượng tiêu đề quá tải khi mở rộng, CBRP cũng giống như các giao thứuc phân tán khác, điều này có lợi khi mà cấu trúc mạng thay đổi liên tục, hơn nữa sẽ chú ý đến sự tồn tại của liên kết một chiều.

4.7.1.2 Phán đoán liên kết.
Mỗi nút mạng trong CBRP biết tên liên kết hai chiều đến nút mạng bên cạnh cũng như liên kết một chiều từ nút mạng bên cạnh đến nó thông qua bảng danh sách nút mạng nằm trong phạm vi truyền dẫn. Mỗi nút mạng sẽ gửi quảng bá định kỳ các bản tin HELLO đến nút bên cạnh, có chứa thông tin: ID của nút mạng, có vai trò của nút mạng và bảng nút mạng nằm trong phạm vi truyền dẫn. Thông tin trong bản tin HELLO được sử dụng để cập nhật thông tin trong bảng của mỗi nút mạng. Nếu một nút không nhận được bản tin HELLO thì thông tin trong bảng sẽ bị loại bỏ.

4.7.1.3 Cluster
Thuật toán thông tin cluster rất đơn giản, nút mạng với ID nhỏ nhất được chọn là cluster đứng đầu, nó quan tâm đến nút mạng mà nó liên kết hai chiều đến nút mạng thành viên của nó. Một nút mạng coi như là nít mạng thành viên của một cluster nếu nó liên kết hai chiều đến cluster đứng đầu, như vậy một nút mạng có thể thuộc nhiều cluster.Các cluster được nhận dạng bởi nhiều tiêu đề đại diện của chúng, khi hai cluster đứng đầu di chuyển gần nhau thì một trong hai sẽ mất vai trò đứng đầu cluster.


Liên kết hai chiều đến các Cluster

4.7.1.4 Định tuyến
Định tuyến trong CBRP dựa trên định tuyến nguồn và tìm kiếm đường thông qua việc gửi RREQ trên toàn mạng tất nhiên với một số lượng nhỏ các nút mạng trong cluster. Khi nút mạng X muốn có đường đến nút mạng Y thì nó gửi bản tin RREQ với bản ghi định tuyến chỉ có nó. Bất kỳ nút mạng nào khi nhận được gói tin sẽ thêm ID của nó vào trong RREQ. Mỗi nút mạng chỉ chuyển tiếp gói tin một lần nhờ kiểm tra trong bản ghi định tuyến.
Trong CBRP, bản tin RREQ theo đường định tuyến dạng:
Nút mạng nguồn > Cluster đứng đầu > Gateway > Cluster đứng đầu > Gateway…> Nút mạng đích.
Nút mạng Gateway cho một cluster là nút mạng có đường liên kết hai chiều hoặc một chiều đến một nút mạng nằm trong cluster khác. RREQ sẽ được chuyển đi như trên cho đến khi đến được môt nút có khả năng cung cấp đường định tuyến. Khi RREQ đến được đích, nút mạng đích có thể chon đường đin ngược lại đến nguồn trong gói tin trả lời RR.

4.7.2 Đặc điểm
Giao thức định tuyến này có nhiều đặc điểm chung với các giao thức định tuyến đã trình bày ở trên: nó có cơ chế tìm đường và loại bỏ đường tương tự với DSR và AODV. Giải pháp clustering là một giải pháp hay với mạng Ad hoc quy mô lớn, nó có khả năng mở rộng hơn với các giao thức khác, giới hạn được các bản tin điều khiển được gửi đi trong mạng. CBRP có các lợi thế khi tận dụng các liên kết một chiều. Tuy nhiên, câu hỏi tối ưu với CBRP là kích thước của cluster là bao nhiêu.

Nguồn từ forum saobacdau nhưng hiện forum đang bị die

Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2012

Giới thiệu về các định dạng video thường gặp

Hiện nay có rất codec sử dụng để encode video cùng hàng tá các chuẩn khác nhau khác để hiệu chỉnh, xem phim có subtitle... etc. Chính vì có quá nhiều thứ nên có lẽ chúng ta phải được tìm hiểu một cách cẩn thận và ghi lại để tiện cho việc tra cứu về sau.

VỀ CODEC:

Codec là từ viết tắt của coder/decoder, nó chỉ là một mẩu chương trình nhỏ. Hay chúng ta có thể gọi nó là một công thức mà mọi chương trình media player cần đến nó. Chương trình sẽ đọc dữ liệu file media, dùng codec để giải mã chúng và đưa ra cho chúng ta nội dụng chính xác = hình ảnh/âm thanh của dữ liệu đó - đây là quá trình giải mã, một quá trình rất thông dụng trong cuộc sống số bình thường. Quá trình mã hoá cũng gần như tương tự có điều theo chiều gần ngược lại (vì có nhiều cách để encode)
Chính vì mỗi loại video/âm thanh có cách ghi theo chuẩn codec mà nó sử dụng nên việc đọc file video/âm thanh cũng cần codec đó để giải mã. Vậy là cũng ko có gì khó khăn khi bạn gặp thông báo lỗi "ko tìm thấy codec" hoặc "ko thể render" một file video nào đó.

Có 3 chuẩn codec MPEG (theo chuẩn MPEG thôi, còn rất nhiều codec khác):
- MPEG-1: sử dụng trong VCD thông thường. Đây có lẽ là codec video cơ bản và cũ nhất của các loại video số. Có vẻ như nó sử dụng một chuỗi các hình ảnh nén bằng định dạng MPEG để tạo phim (Mình ko quan tâm nó lắm nên cũng chả buồn tìm hiểu sâu).
- MPEG-2: sử dụng trong DVD video và SVCD.
- MPEG-4: các loại codec tiên tiến hiện nay. Trong này có rất nhiều dòng codec nhỏ khác nhau, tuy chung gốc MPEG-4 nhưng lại có những quãng đường phát triển khác hẳn nhau.

VỀ CÁC ĐUÔI : .AVI .OGM .MPG .WMV.. etc

Do có rất nhiều codec khác nhau tương ứng với rất nhiều nhà phát triển codec khác nhau nên cách qui ước cũng khác nhau. Có thể tạm chia làm 2 loại:
- Loại đuôi tập tin sẽ chỉ ra loại codec file đó sẽ sử dụng, bao gồm: .WMV .RM .RMVB .MPG .MPEG .MOV..
- Loại đuôi tập tin không chỉ đính xác ra loại codec file đó sẽ sử dụng, chỉ thể hiện đó là file media: .AVI .MKV .OGM .MP4.. (còn rất nhiều loại nữa nhưng không phổ biến)
Nhưng, cả hai loại trên có một điểm chung - chúng chỉ là các container để chứa nội dung mà thôi, còn việc nội dung đó như thế nào, cách ghi ra làm sao chỉ khi trình media player mở ra và đọc nó sẽ biết file đó sử dụng codec gì. Nói cách khác, các file media đều thuộc loại thứ 2 - đuôi tập tin chỉ nói lên chúng là file media mà thôi.
Lấy VD: file "fatcat.avi" là file container, trong đó bao gồm một đoạn video được nén với codec DivX và âm thanh nén với MP3. Cả video và âm thanh có độ dài như nhau. Khi mở file này, Media player sẽ dùng codec DivX để giải mã video và codec MP3 để giải mã âm thanh, phát chúng cùng một lúc để tạo thành bộ phim có cả hình lẫn tiếng.

Từ lý thuyết trên, luận ra rằng: nếu định làm đĩa hình VCD thì cần convert video ra dạng MPEG-1 và MPEG-2 nếu định làm DVD video.

+ MPEG-4

MPEG-4 là một chuẩn nén video được phát triển bởi một nhóm gọi là "Moving Picture Experts Group" (hay gọi là MPEG). MPEG-4 được biết đến như là một "chuẩn nén của hình ảnh & âm thanh bit-rate thấp". Có rất nhiều chuẩn được phát triển bởi nhóm này và đã được chấp nhận bởi tố chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO - International Standards Organization) hay còn gọi là chuẩn-ISO ^^"
MPEG-4 là chuẩn-ISO/IEC #14496. Vì XviD đi theo chuẩn MPEG-2 part 2 nên nó còn được biết đến như là MPEG-4 chuẩn ISO #14496-2 (chuẩn mới nhất của MPEG-4 đó là MPEG-4 part 10/AVC (Advanced Video Coding) hay còn gọi là H.264)

Thực tế, MPEG-4 là một chuẩn nén video với rất nhiều các phần mở rộng mà đặc biệt được thiết kế để đạt tới chất lượng cao nhất của chuẩn nội dung video. Chuẩn nội dung ở đây là chuẩn trong các video trong thế giới thật, nó không được thiết kế để nén video dựng bởi trình 3D, phim hoạt hình trên TV thông thường hay là anime (đó là lý do tại sao các video thuộc thể loại trên nén không tốt lắm khi sử dụng MPEG-4)
Các chuẩn codec thông thường thuộc họ MPEG-4 là DivX, 3ivx, Quicktime MPEG4 và XviD. Mặc dù chúng là họ hàng với nhau, tuy nhiên một phim được nén bởi một trong các codec trên sẽ không thể được giải mã bằng codec anh em của nó. Vì giữa chúng vẫn có những điểm khác nhau cơ bản không thể thay thế. Lấy ví dụ bằng việc xử lý tập tin video có nhiều hơn 1 tỷ frame - đó là việc mà DivX không thể thực hiện được, trong khi XviD lại có thể. Ví dụ khác sẽ là XviD có đến 3 điểm warppoint GMC (Global Motion Compensation) trong khi DivX chỉ có 1 điểm - điều này dẫn đến sự khác biệt trong cấu trúc phần cứng để có thể giải mã được đoạn video được nén bằng codec DivX hay XviD (phần cứng để giải mã DivX sẽ nhẹ nhàng hơn).
Có một số đầu đọc DVD phù hợp chuẩn MPEG-4 có thể đọc được video DivX. Để mở rộng khả năng đọc các chuẩn MPEG-4 khác sẽ không khó khăn mấy. Việc này chỉ cần được thực hiện bằng một số thay đổi nhỏ trong EEPROM liên kết với bộ xử lý video của đầu đọc - hay nói cách khác là flash lại bộ EEPROM của đầu đọc.
Kỹ hơn về MPEG-4, các lý thuyết cơ bản

Để có thể nén được 2h video chất lượng cao mà chỉ nhỏ để đút vừa một đĩa CD đòi hỏi cả một thuật toán phức tạp. MPEG-4 làm việc này bằng cách bỏ bớt những thông tin mà người xem không cảm nhận được bằng cách biến đổi dữ liệu về các điểm ảnh trên video thành công thức toán học gần giống với đoạn dữ liệu đó. Việc biến đổi này gần giống nhau đến mức con người bình thường sẽ rất khó có thể nhận ra sự khác biệt giữa video nguồn và video kết quả (tất nhiên, đó chỉ là lý thuyết).
Đầu tiên, mảng màu của khung hình ban đầu sẽ được biến đổi thành một mảng màu đặc biệt được gọi là YV12. Mắt người thông thường kém nhạy cảm với các màu sắc hơn là với các mức độ sáng tối (liếc nhìn thật nhanh qua bầu trời, bạn sẽ cảm nhận rõ nhất trời sáng hay trời tối hơn là bầu trời có màu gì). Chính vì vậy, MPEG-4 đánh giá độ sáng tối của hình ảnh quan trọng hơn là màu sắc. Điều này đem đến một kết quả là độ sáng tối được ghi lại trong mỗi pixel còn thông tin màu sắc sẽ chỉ được ghi lại sau mỗi 4 pixel.

Trong các codec phổ biến hiện nay, có thể kể đến DivX, XviD và H.264 Ngoài ra còn một số đối thủ cũng khá cạnh tranh khác (có điều cung cách phát triển ích kỷ) là Real Media và Window Media Audio/Video.

+ DivX

Một codec nổi tiếng và rất rất phổ biến trong nhóm MPEG-4, có thể coi đã lên dạng lão làng khi có khá nhiều đầu đọc DVD đọc luôn cả DivX. So sánh giữa chuẩn MPEG-2 và DivX thì chất lượng có thể coi là như nhau có điều DivX trội hơn ở bit-rate thấp, điều này đồng nghĩa với việc chúng ta có thể có một đoạn phim tương tự DVD video nhưng nhẹ hơn chỉ cỡ bằng 1/2 của DVD video.
Tuy phổ biến như vậy nhưng so với các codec chị em của nó gần đây thì DivX bắt đầu tỏ ra yếu thế, đặc biệt là trước XviD và H264 và một số codec đang phát triển khác.

DivX homepage: http://www.divx.com
DivX codec download: http://www.divxmovies.com/codec/

+ XviD

Xvid là một codec theo chuẩn MPEG-4. Nó có thể nén một file video thành những dữ liệu theo chuẩn của MPEG-4 và có thể được lưu trữ dưới dạng .AVI .OGM .MP4 hay khác. Bản thân codec này không thể tự nén video mà nó phải nhờ một công cụ khác giúp nó, VD đó có thể là trình VirtualDub.
Thông thường một codec sẽ đi kèm cả Decoder và Encoder, nhưng cũng có trường hợp một bộ cài chỉ có Decoder mà thôi - với bộ cài đó bạn chỉ có để xem phim dùng codec đó mà không thể nén phim bằng codec đó. Bộ filter chỉ có decoder có thể kể đến là Nic's decoder filter.

Xvid codec là một dự án mã nguồn mở GNU-GPL. Nghĩa là mã nguồn của nó có thể được download bởi bất kỳ ai và chỉnh sửa theo bất kỳ ý thích nào của họ. XviD là chuỗi kí tự viết ngược của DivX (phát triển bởi một công ty thương mại) - có lẽ nó giống như một sự thách thức với codec DivX. Sự thật cho thấy XviD vượt trội về chất lượng nén hơn hẳn DivX.

XviD homepage: http://www.xvid.org
XviD codec download: http://www.koepi.org/XviD-1.1.2-01112006.exe (ver1.1.2 stable)

+ RM/RMVB

Codec rất quen thuộc và phổ biến nhất TQ, nếu bạn bắt gặp 1 phim bộ tiếng Hoa bất kỳ được share trên mạng, thì chắc chắn rằng 99% sẽ là dạng rmvb. Đây là codec riêng từ RealOne. Loại này cho ra ảnh phim rõ nét, sáng đẹp và dung lượng của file khá nhỏ, đặc biệt có chút nhỉnh hơn AVI nếu như là rip từ DVD ..
Phải nói coi 1 tập phim dạng rmvb - dvd rip thật chẳng thua gì DVD chính hiệu, rất tuyệt vời !

+ H.264

H264 là một codec thật sự ấn tượng.
Lần đầu tiên mình chứng kiến sức mạnh của H264 là từ một đoạn anime dài 24 phút, cỡ 704x400 pixel với âm thanh MP3 128kbps mà chỉ có 76.2MB (video bit-rate là 301kbps) - chất lượng của nó gần bằng đoạn anime tương tự như thế nén với DivX nhưng nặng vào cỡ 233MB.
Lần thứ hai là chính tay mình nén một đoạn video 3 phút từ MPEG-1 (gốc) nặng 116MB ra H264 (nặng 32MB) - thật sự mà nói thì xem bản H.264 còn đẹp hơn cả bản gốc T_T Nguyên nhân của sự kỳ cục ấy là do H.264 sử dụng một thuật toán nào đó làm mờ đi các chi tiết mà nó thật sự cần thiết trong các khung hình. Nó giống như là được de-cube, xoá nhoà các vết ô vuông của codec MPEG-1 tạo ra vậy. Thật sự ấn tượng.
Hiện có một project giúp H264 đến người sử dụng miễn phí đó là compressor/decompressor x264. Có thể xem thêm về nó tại: http://www.videolan.org/developers/x264.html

+ VP60, VP72

Dòng codec mới nổi lên với kết quả được đánh giá là nổi trội nhất hiện nay có điều nó đang phát triển, chưa hoàn chỉnh. Nhưng rất có thể chỉ một thời gian nữa thì VP72 sẽ là đối thủ nặng ký nhất đối với H264 và XviD. Riêng DivX và gì gì khác cho về hưu luôn bây giờ kẻo trễ.
Thông tin về codec này mình chưa nắm nhiều lắm, nhưng chắc sẽ phải tìm hiểu thêm về nó để theo kịp thời đại ^^"

LỰA CHỌN:

Để chọn codec nào hay nhất thực ra cũng có nhiều thứ tác động đến quyết định. Nhưng có thể nhận xét ngay rằng, việc chọn codec càng ít phổ biến thì việc edit/playback càng trở nên khó khăn.
Như bên TQ thì toàn chơi RealMedia chẳng hạn ..

Sưu tầm

Một số phương thức báo hiệu cứu nạn



Search mạng không thấy bài nào về khoản này ok cả nên mình mạn phép viết mặc dù chẳng có chuyên môn cũng chưa thử bao giờ. Dưới đây là một vài phương pháp báo hiệu khi bị lạc, tàu gặp nạn trên biển hay đảo hoang .. Những cái này liên quan đến kỹ năng sinh tồn và đã phát thông tin cứu nạn thì cũng thuộc lĩnh vực viễn thông luôn :

Báo hiệu bằng hình ảnh : có vẻ như đây là hình thức được sử dụng nhiều nhất, các phương pháp cũng rất đa dạng.
  • Báo hiệu bằng pháo sáng : thường thấy khi tàu gặp nạn, hiệu quả tốt trong buổi đêm tuy nhiên pháo sáng kéo dài không lâu.
  • Báo hiệu bằng cờ : treo một lá cờ lên vị trí cao hoặc dùng cờ vẫn, cờ có thể in ký hiệu nào đó tùy theo quy ước nhưng mà thường màu sắc càng bắt mắt càng tốt.
  • Dùng khói : cách này cũng là cách hay tuy nhiên cần cẩn thận không sẽ gây hỏa hoạn
  • Dùng đèn : chắc trên tàu biển phải trang bị đèn pha chiếu xa (hoặc đèn loại khác chiếu xa hơn) hay ứng dụng rất thông dụng là ngọn hải đăng, đèn biển ..
  • Dùng gương : thấy trên phim có trường hợp dùng 1 mảnh gương hứng ánh sáng hắt lên máy bay hoặc tàu làm lóa mắt phi công hay vào thân tàu làm nó chói lên để người ở xa có thể phát hiện.
  • Dùng chính thân thể : bạn có thể huơ tay, nhảy nhót hay làm gì đó (khoe body chẳng hạn, đặc biệt tác dụng nếu là các bạn nữ dáng chuẩn ^^ hay theo chiều hướng ngược lại cũng có thể rất nổi bật), khoa học chứng minh rằng loài rắn thị lực rất kém, chỉ phát hiện ra loài vật khi chúng chuyển động -> dù dùng gì thì cũng nên ở trạng thái chuyển động, khoe thì cũng phải đổi tư thế liên tục để dễ được phát hiện. Với các fan bóng đá thì có thể cởi áo ra quay.
  • Để lại vết tích trong 1 diện tích rộng trên mặt đất : đơn giản và dễ bắt gặp nhất thì chúng ta hay thấy mấy diễn viên lạc đảo hoang hay xếp đá thành chữ SOS trên bãi biển, ở trên cao dễ nhìn thấy, hoặc có khi dựng lều ngay tại bờ biển cũng dễ nhận thấy từ xa.
Báo hiệu bằng âm thanh : tác dụng không lâu và có vẻ không thông dụng bằng, mình cũng biết ít hình thức hơn, thấy chủ yếu dùng loa đài, còi, súng, thuốc nổ, gây đổ vỡ hay nổ 1 cái gì đó hoặc không cần thiết bị gì thì hét lên (động cơ sức người)

Báo hiệu bằng mùi : thường là mùi khét của đám cháy hoặc một số loại khác như thức ăn. Báo hiệu này phụ thuộc nhiều vào gió, nếu phát tán theo hướng gió thì có thể truyền tín hiệu được khá xa.

Cách xa nhất vẫn là gửi tín hiệu SOS bằng các thiết bị điện báo, giờ thì không biết thế nào, có khi bây giờ người ta gọi bằng điện thoại vệ tinh hay các thiết bị cao cấp khác.

Bài này mình chỉ múa rìu qua mắt thợ thôi, mục đích là để cho các bạn thấy những khía cạnh khác của viễn thông thay vì những bài giảng nhàm chán hoặc những thứ xa vời phải công nghệ thật hiện đại mới làm được.

Wireless LAN (WLAN) - mạng LAN không dây

Mạng LAN không dây là mạng cục bộ gồm các máy tính liên lạc với nhau bằng sóng radio.
Chuẩn IEEE 802.11 định nghĩa tầng vật lý và tầng MAC cho một mạng nội bộ không dây. Thành tố cơ bản của 802.11 là tế bào (cell) với tên gọi là BSS (basic service set - bộ dịch vụ cơ bản). Mỗi BSS thường gồm một vài máy trạm không dây và một trạm cơ sở trung tâm được gọi là AP (access point - điểm truy cập). Các máy trạm (có thể di động hoặc cố định) và trạm trung tâm liên lạc với nhau bằng giao thức MAC IEEE 802.11 không dây. Có thể kết nối nhiều trạm AP với nhau bằng mạng hữu tuyến Ethernet hoặc một kênh không dây khác để tạo một hệ thống phân tán (DS - distributed system)
Các máy trạm dùng chuẩn IEEE 802.11 có thể nhóm lại với nhau để tạo thành một mạng ad hoc - mạng không có điều khiển trung tâm . Trong trường hợp này, mạng được hình thành tức thời khi một số thiết bị di động tình cờ thấy mình đang ở gần nhau trong khi đang có nhu cầu liên lạc mà không tìm thấy một cơ sở hạ tầng mạng sẵn có tại chỗ (chẳng hạn một BBS 802.11 với một trạm AP). Một ví dụ về mạng ad hoc được hình thành là khi một vài người mang máy tính xách tay gặp nhau tại một bến tầu và muốn trao đổi dữ liệu mà không có một trạm AP ở gần đó.

Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2012

Địa chỉ MAC

Địa chỉ MAC là gì? Làm thế nào để tìm được địa chỉ MAC của card mạng? Ứng dụng của địa chỉ MAC? là những câu hỏi chúng tôi thường xuyên nhận được từ bạn đọc. Đây là những khái niệm mà hầu hết các tài liệu về mạng căn bản đều đề cập đến. Chúng tôi chỉ tổng hợp lại nhằm giúp người dùng gia đình hiểu rõ hơn về địa chỉ MAC và 1 vài ứng dụng của địa chỉ MAC ở mức độ cơ bản.
KHÁI NIỆM

Trong mô hình OSI (Open Systems Interconnection) hay mô hình tham chiếu kết nối các hệ thống mở thì địa chỉ MAC (Media Access Control) nằm ở lớp 2 (lớp liên kết dữ liệu hay Data Link Layer). Nói một cách đơn giản, địa chỉ MAC là địa chỉ vật lý hay còn gọi là số nhận dạng (Identification number) của thiết bị. Mỗi thiết bị (card mạng, modem, router...) được nhà sản xuất (NSX) chỉ định và gán sẵn 1 địa chỉ nhất định; thường được viết theo 2 dạng: MM:MM:MM:SS:SS:SS (cách nhau bởi dấu :) hay MM-MM-MM-SS-SS-SS (cách nhau bởi dấu -). Địa chỉ MAC là một số 48 bit được biểu diễn bằng 12 số hexa (hệ số thập lục phân), trong đó 24bit đầu (MM:MM:MM) là mã số của NSX (Linksys, 3COM...) và 24 bit sau (SS:SS:SS) là số seri của từng card mạng được NSX gán. Như vậy sẽ không xảy ra trường hợp hai thiết bị trùng nhau địa chỉ vật lý vì số nhận dạng ID này đã được lưu trong chip ROM trên mỗi thiết bị trong quá trình sản xuất, người dùng không thể thay đổi được.
MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĐỊA CHỈ MAC VÀ IP

Như đã đề cập ở trên, địa chỉ MAC làm việc ở lớp 2 trong khi địa chỉ IP làm việc ở lớp 3 (lớp mạng hay Network Layer). Địa chỉ MAC là cố định (được thiết lập cứng) trong khi địa chỉ IP có thể thay đổi được (thiết lập mềm). Trong mạng luôn duy trì một ánh xạ giữa địa chỉ IP và địa chỉ MAC của thiết bị. Do đó, các thiết bị thường dùng cơ chế ARP (Address Resolution Protocol) và RARP (Reverse Address Resolution Protocol) để tìm được địa chỉ MAC, IP của các thiết bị khác khi cần thiết lập kết nối. DHCP cũng thường dựa vào địa chỉ MAC để quản lý việc gán địa chỉ IP cho mỗi thiết bị.
CÁCH TÌM ĐỊA CHỈ MAC

Có nhiều cách để xác định địa chỉ MAC, chẳng hạn như dựa vào loại thiết bị đang sử dụng, vào hệ điều hành (HĐH) đang sử dụng.

Với HĐH Windows: Sử dụng lệnh “winipcfg” (Windows 95, 98 và ME) hoặc “ipconfig /all” (Windows NT, 2000, XP, Vista, Windows 7). Cả hai lệnh “winipcfg” và “ipconfig” đều có thể hiển thị nhiều địa chỉ MAC tương ứng với nhiều card mạng khác nhau trên cùng máy tính.

Với HĐH Unix/Linux: Tùy thuộc vào phiên bản HĐH mà lệnh tìm địa chỉ MAC sẽ khác nhau, chẳng hạn trong Linux và 1 vài phiên bản của Unix, lệnh "ifconfig -a" sẽ trả về địa chỉ MAC của thiết bị hoặc có thể tìm địa chỉ MAC trong file log (/var/log/messages hay /var/adm/message). Bên cạnh đó, HĐH cũng hiển thị địa chỉ MAC trên màn hình trong quá trình hệ thống khởi động.

HĐH Macintosh: Trong Macintosh, bạn có thể tìm địa chỉ MAC trong TCP/IP Control Panel. Nếu chạy trên Open Transport, địa chỉ MAC thường xuất hiện bên dưới màn hình "Info" hay "User Mode/Advanced". Nếu chạy trên MacTCP, địa chỉ MAC sẽ ở dưới biểu tượng "Ethernet".
ỨNG DỤNG ĐỊA CHỈ MAC

Quản lý kết nối không dây trên Access Point, Router

Hầu hết các Access Point (AP) và router đều có tính năng quản lý kết nối nhằm tăng cường khả năng bảo mật cho mạng Wi-Fi. Mặc định tính năng này là tắt nên bất kỳ máy khách nào cũng có thể truy cập vào mạng nếu dò được tên mạng (hay còn gọi là SSID) và mật khẩu mã hóa. Để kích hoạt chức năng lọc địa chỉ MAC, trước tiên bạn cần thu thập địa chỉ MAC của từng máy khách (xem lại phần Tìm địa chỉ MAC) cho phép kết nối tới mạng Wi-Fi. Sau đó, bạn chỉ cần điền chúng vào mục lọc địa chỉ MAC trên AP hoặc router, nhấn Ok để xác nhận việc cập nhật danh sách. Sau khi thiết lập, các máy khách không có tên (địa chỉ MAC) trong danh sách sẽ không được phép đăng nhập mạng.

Ghi chú: Việc lọc địa chỉ MAC còn nhiều hạn chế do 1 số phần mềm có thể tạo địa chỉ MAC “ảo" tuy nhiên mạng của bạn vẫn an toàn hơn khi có thêm một lớp bảo mật.
KHỞI ĐỘNG MÁY TÍNH TỪ XA

Để khởi động máy tính từ xa đòi hỏi router và máy tính cùng hỗ trợ chức năng Wake on LAN (WoLAN). Việc thiết lập WoLAN cũng tương đối đơn giản. Cách thực hiện như sau: Trong giao diện cấu hình của router, chọn mục Application và chọn Wake On LAN và nhập địa chỉ MAC của card mạng máy tính cần khởi động. Nếu muốn "đánh thức" 1 máy tính nào đó dựa vào địa chỉ IP, bạn cần kết hợp với tính năng "Bind IP to MAC" - gán cố định địa chỉ IP theo MAC.
Cách đổi địa chỉ MAC
Như đã đề cập bên trên, địa chỉ MAC thường được gán cố định và lưu trong chip ROM trên mỗi thiết bị nhằm tránh trường hợp trùng địa chỉ MAC giữa hai thiết bị. Tuy nhiên trong một số trường hợp cần thiết, bạn vẫn có thể thay đổi địa chỉ MAC để việc cài đặt ứng dụng được thuận tiện hơn, chẳng hạn:
- Với Windows: Địa chỉ MAC thường được lưu trong registry. Do đó, sử dụng lệnh “regedit” để thay đổi địa chỉ MAC. Windows XP có thêm tùy chọn cho phép thay đổi địa chỉ MAC của một số card mạng trong tab Adavanced. Ngoài ra, bạn có thể dùng tiện ích để thực hiện việc này, chẳng hạn tiện ích miễn phí Macshift (http://devices.natetrue.com/macshift).
- Với Mac OS: Sử dụng tính năng MAC Spoofing trên máy tính.
- Với FreeBSD: Sử dụng lệnh theo cú pháp "ifconfig <interface> link <address>" để thay đổi địa chỉ MAC.
- Với Linux: Sử dụng lệnh theo cú pháp "ifconfig <interface> hw <class> <address>" hoặc sử dụng GNU MAC Changer.
- Với Solaris: Sử dụng lệnh theo cú pháp "ifconfig <interface> <ether> <address>".
Minh Thư 

MAC (giao thức mạng)

MAC (tiếng Anh: Media Access Control hay Medium Access Control có nghĩa là "điều khiển truy nhập môi trường") là tầng con giao thức truyền dữ liệu - một phần của tầng liên kết dữ liệu (tầng 2) trong mô hình 7 tầng OSI. Nó cung cấp các cơ chế đánh địa chỉ và điều khiển truy nhập kênh (channel access), các cơ chế này cho phép các trạm cuối (terminal) hoặc các nút mạng liên lạc với nhau trong một mạng, điển hình là mạng LAN hoặc MAN. Giao thức MAC không cần thiết trong liên lạc điểm-tới-điểm song công (full-duplex).
Tầng con MAC hoạt động với vai trò một giao diện giữa tầng con điều khiển liên kết lôgic LLC và tầng vật lý của mạng.
Tầng MAC cung cấp một cơ chế đánh địa chỉ được gọi là địa chỉ vật lý hoặc địa chỉ MAC. Đây là một con số được cấp một cách phân biệt cho từng bo mạch mạng, cho phép chuyển giao các gói dữ liệu tới đích trong một mạng con, nghĩa là một mạng vật lý không có các thiết bị định tuyến, ví dụ một mạng Ethernet.
MAC - Media access control thường được dùng như là một từ đồng nghĩa với giao thức đa truy nhập (multiple access protocol), do tầng con MAC cung cấp giao thức và các cơ chế điều khiển cần thiết cho một phương pháp truy nhập kênh nhất định (channel access method). Việc này cho phép nhiều trạm kết nối tới cùng một môi trường vật lý dùng chung môi trường đó. Ví dụ về các môi trường vật lý dùng chung là bus network, ring network, hub network, mạng không dây và các liên kết điểm-tới-điểm bán song công (half-duplex).
Các ví dụ về các giao thức đa truy nhập kiểu gói tin (packet mode) dành cho các mạng nối dây đa chặng (multi-drop):
  • CSMA/CD (dùng trong Ethernet và IEEE 802.3),
  • Token ring (IEEE 802.4)
  • Token bus (IEEE 802.5)
  • Token passing (dùng trong FDDI).
Các ví dụ về các giao thức đa truy nhập có thể được sử dụng trong các mạng không dây dùng sóng radio gửi dữ liệu theo gói tin:
  • CSMA/CA
  • Slotted ALOHA
  • Dynamic TDMA
  • Reservation ALOHA (R-ALOHA).
  • CDMA
  • OFDMA
Địa chỉ MAC

Các địa chỉ MAC có chiều dài 6bytes, thường bao gồm 3 loại: Unicast: Bit I/G là bit có trọng số lớn nhất trong octet có trọng số lớn nhất được gán bằng 0. Broadcast: Là một địa chỉ tượng trưng cho tất cả các thiết bị trong mạng LAN segment ở một thờI điểm. Địa chỉ này có dạng 0xFFFF.FFFF.FFFF. Multicast: Bit I/G được gán bằng 1.
Các tài liệu IEEE chỉ ra các địa chỉ Ethernet với các bit có trọng số lớn nhất bên trái. Tuy nhiên bên trong mỗi octet, bit nằm bên trái nhất lại là bit có trọng số thấp nhất; bit nằm bên phải nhất thì được gọi là bit có trọng số lớn nhất. Nhiều tài liệu gọi dạng địa chỉ này là non-canonical. Bất chấp thuật ngữ nào được dùng, thứ tự bit bên trong mỗi octet là quan trọng để có thể hiểu được ý nghĩa của hai bit có trọng số lớn nhất trong một địa chỉ Ethernet:
The Individual/Group (I/G) bit: Nếu địa chỉ là unicast, I/G=0, nếu là multicast hay broadcast, I/G=1. The Universal/Local (U/L) bit: nếu bit này = 0, địa chỉ vendor được gán. Nếu bit U/L=1: địa chỉ này đã được người quản trị dùng và ghi đè lên giá trị do nhà sản xuất gán.
Bit I/G sẽ chỉ ra khi nào địa chỉ MAC là tượng trưng 1 một thiết bị đơn lẻ hay một nhóm các thiết bị. Bit U/L sẽ chỉ ra các địa chỉ được cấu hình cục bộ. Ví dụ, địa chỉ multicast được dùng bởi IP Multicast luôn được bắt đầu bằng 0x01005E. Giá trị hex 01 chuyển sang dạng nhị phân là 00000001, với giá trị bit most significant bằng 1, xác nhận việc sử dụng bit I/G.
Như vậy, địa chỉ MAC cho cả ba trường hợp multicast/unicast/broadcast được quyết định dựa trên ý nghĩa của vị trí một số bit trong các octet địa chỉ.
Ở cấp độ ccna, có thể bạn cần nắm thông tin là địa chỉ mac chia thành hai phần, một phần do nhà sản xuất qui định, một phần gọi là OUI, do IEEE qui định dành cho các vendor.

So sánh các giải pháp MAC

Xem trước bài này http://tongquanvienthong.blogspot.com/2012/03/truy-nhap-va-cac-giai-phap-chia-se-moi.html

MAC (tiếng Anh: Media Access Control hay Medium Access Control có nghĩa là "điều khiển truy nhập môi trường")

Aloha & Slotted Aloha
  • Đơn giản & truyền nhanh ở tải thấp
  • Chấp nhận được số lượng lớn người dùng truyền dữ liệu kiểu cụm với lưu lượng thấp
  • Độ trễ thay đổi lớn ở tải thấp
  • Hiệu suất không phụ thuộc vào a (Trễ truyền sóng / Thời gian truyền một frame)
CSMA-CD
  • Truyền nhanh và có hiệu suất cao với tích trễ băng tần thấp
  • Có thể hỗ trợ một số lượng lớn người sử dụng truyền cụm
  • Trễ thay đổi và không dự đoán trước được

Đặt chỗ
  • Truyền theo yêu cầu các dòng dữ liệu kiểu cụm hoặc liên tục
  • Hỗ trợ được số lớn người sử dụng có lưu lượng thấp với phương thức đặt chỗ S-Aloha
  • Có thể tích hợp QoS
  • Xử lý tích trễ-băng thông lớn thông qua việc trao quyền trễ 

Thăm dò
  • Tổng quát hóa của ghép kênh phân chia thời gian
  • Tạo công bằng thông qua các cơ hội truy nhập thường xuyên
  • Có thể cung cấp các giới hạn về trễ truy nhập Phẩm chất suy giảm với tích trễ-băng thông lớn

Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2012

SIM điện thoại tích hợp NFC, công nghệ thanh toán của tương lai


Hiệp hội GSM Association gồm các nhà mạng lớn trên thế giới cho biết đã có đến 45 công ty viễn thông đồng ý sẽ hỗ trợ và tích hợp kết nối NFC vào những chiếc SIM của điện thoại. Điều này có nghĩa là bất cứ điện thoại nào dù cho cao cấp hay bình dân, có hệ điều hành hay không thì đều cũng có thể sử dụng NFC. Trong số 45 công ty kể trên có cả các hãng viễn thông lớn như AT&T, Vodafone, Verizon của Mỹ và một số hãng công ty khác ở châu Á. Họ cùng có chung mục tiêu là làm cho SIM điện thoại tích hợp NFC trở nên phổ biến để nhu cầu thanh toán qua NFC trở nên thuận tiện và dễ dàng hơn.

Một khi NFC trở nên phổ biến thì các dịch vụ thanh toán điện tử tương tự như Google Wallet chắc chắn sẽ xuất hiện nhiều hơn. Việc đưa NFC vào SIM là một bước đi thông minh vì nhờ đó mà bất cứ ai có điện thoại, miễn là có gắn SIM, đều sẽ có thể dùng điện thoại để thanh toán hóa đơn qua NFC chứ không cần họ phải sử dụng các smartphone chạy iOS, Android hay BlackBerry... Tuy mang lại tiềm năng lớn như thế nhưng người to cũng không quên lo ngại việc các hacker có thể ăn cắp thông tin SIM và nhân bản SIM của người khác để sử dụng một cách trái phép.

Người ra lo rằng một khi SIM đã bị nhân bản thì người ta có thể dùng chiếc SIM đó để nghe gọi hoặc thậm chí là dùng nó để mua hàng mà người trả tiền chính là chủ nhân tội nghiệp của chiếc SIM đó. Chưa biết liệu người ta có dùng đến cơ chế xác thực 2 bước, dùng mã PIN hay một cơ chế nào khác để xác thực việc mua bán hay không, nếu không tiến hành xác thực 2 bước thì bất cứ ai cũng có thể dùng điện thoại của bạn để mua hàng một cách rất dễ dàng.

Ngoài ra, GSM Association cũng sẽ làm việc với các đối tác của mình để phát triển các ứng dụng di động có thể dùng NFC để mua vé xem hòa nhạc, làm thẻ ra vào khách sạn hoặc dùng làm thẻ NFC để kích hoạt các loại xe máy. Một số các dự án khác như tạo thẻ khuyến mãi, coupon hay thẻ thành viên dùng NFC cũng đã và đang được phát triển.




Hiện thì công nghệ NFC đã có trong 1 số dòng điện thoại cao cấp tuy nhiên với công nghệ sim tích hợp NFC thì sẽ làm cho việc thanh toán thay thế thẻ ATM, VISA .. hay thậm chí thẻ xe bus, thẻ gửi xe, chứng minh thư hay hộ chiếu điện tử trở nên phổ biến, tiện lợi hơn rất nhiều
Chúng ta đã thấy điện thoại từ 1 công cụ có dây, chuyển sang không dây di động, từ chỉ có tính năng nghe gọi giờ đây đã trở thành máy nghe nhạc, thiết bị trợ giúp cá nhân với nhiều tiện ích, lướt web tích hợp cảm biến tọa độ, gps, la bàn ... giờ lại thay thế cả thẻ thanh toán (hình thức giao dịch không cần tiền mặt), trong tương lai không biết điện thoại sẽ phát triển đến mức nào nữa đây.

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes