Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

Beeline rút khỏi Việt Nam

Beeline rút khỏi Việt Nam Tập đoàn viễn thông VimpelCom (Nga) vừa bán hết cổ phần trong Công ty Viễn thông di động Toàn cầu (Gtel Mobile) cho đối tác Việt Nam. Thương hiệu Beeline cũng rút khỏi thị trường Việt sau 6 tháng tới.

Thương hiệu Beeline sẽ rút khỏi Việt Nam sau 6 tháng tới.

Theo thông cáo báo chí đề ngày 23/4 của VimpelCom, cổ phần của tập đoàn này trong Gtel Mobile đã được nhất trí chuyển nhượng lại cho Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Truyền dẫn và dịch vụ hạ tầng GTEL, một công ty con của Tổng công ty Viễn thông Toàn Cầu (Gtel) của Việt Nam. Theo đó, toàn bộ 49% cổ phần của đối tác ngoại VimpelCom trong liên doanh đã được đơn vị này mua lại, đưa Gtel Mobile trở thành công ty 100% vốn của các cổ đông trong nước.
Mức giá chuyển nhượng cổ phần của VimpelCom trong Gtel Mobile cho đối tác là 45 triệu USD tiền mặt. Hiện Gtel Mobile đang hợp tác với các cơ quan, ban ngành liên quan để hoàn thành mọi thủ tục chuyển đổi cổ phần. Theo thỏa thuận, Gtel Mobile sẽ không dùng thương hiệu Beeline sau 6 tháng kể từ ngày chuyển giao. Ngoài thời điểm đó, đơn vị này sẽ xây dựng một tên thương hiệu mới phù hợp với những tiêu chí và đường lối kinh doanh đã đề ra.
Ông Nguyễn Văn Dư, Phó tổng giám đốc Gtel Mobile khẳng định vẫn cung cấp dịch vụ viễn thông di động tại Việt Nam. "Kế thừa những kinh nghiệm và kết quả đạt được trong thời gian liên kết với VimpelCom, chúng tôi sẽ tiếp tục đầu tư và triển khai tiếp các dịch vụ thông tin di động. Tất cả thuê bao của Beeline đều được đảm bảo quyền lợi của mình", ông Dư nói.

Hồi giữa năm 2011, VimpelCom từng công bố dự định đầu tư thêm 500 triệu USD vào mạng di động Beeline đến hết năm 2013. Sau đó, công ty này cho biết đã chính thức chuyển 196 triệu USD vào liên doanh Gtel Mobile và nâng tỷ lệ cổ phần của cổ đông này lên 49%. Theo báo cáo tài chính quý IV/2011 của VimpelCom, tập đoàn này thua lỗ 527 triệu USD khi đầu tư vào lĩnh vực viễn thông tại Việt Nam và Campuchia.

VimpelCom là nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động lớn tại Đông Âu và Trung Á. Liên doanh GTEL Mobile giữa Gtel và VimpelCom khai trương mạng Beeline vào tháng 7/2009, trở thành nhà mạng di động thứ 7 ở Việt Nam. Sinh sau đẻ muộn song hãng viễn thông này gây được sự chú ý trên thị trường bằng những chương trình khuyến mãi "khủng", điển hỉnh nhất là gói cước Tỷ phú, tặng một tỷ đồng gọi nội mạng cho khách hàng. Tính đến hết năm 2011, theo báo cáo của Beeline gửi Bộ Thông tin và Truyền thông, mạng di động này đã có 6 triệu thuê bao đăng ký. Beeline là mạng di động chưa được cấp phép 3G.
itGate

Wireless Senor Network Evolution (Sự phát triển của mạng cảm biến)



Khái niệm Wireless Sensor Network (WSN) tương đối còn lạ lẫm đối với nhiều người làm việc trong lãnh vực Telecom. Thread này được sử dụng để giới thiệu tổng quan về hệ thống WSN và những ứng dụng của WSN (trong quân sự, công nghiệp và cuộc sống hằng ngày)

1. Giới thiệu
2. Đặc trưng và cấu hình mạng cảm biến
3. Môt số chuẩn mạng cảm biến
4. Ứng dụng của mạng cảm biến
5. Tài liệu tham khảo


1. Giới thiệu
Mạng cảm biến vô tuyến (WSN) có thể hiểu đơn giản là mạng liên kết các node với nhau bằng kết nối sóng vô tuyến (RF connection) trong đó các node mạng thường là các (thiết bị) đơn giản , nhỏ gọn, giá thành thấp ... và có số lượng lớn, được phân bố một cách không có hệ thống (non-topology) trên một diện tích rộng (phạm vi hoạt động rộng), sử dụng nguồn năng lượng hạn chế (pin), có thời gian hoạt động lâu dài (vài tháng đến vài năm) và có thể hoạt động trong môi trường khắc nghiệt (chất độc, ô nhiễm, nhiệt độ ...).

Các node mạng thường có chức năng sensing (sensor node): cảm ứng, quan sát môi trường xung quanh như;nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng ... theo dõi hay định vị các mục tiêu cố định hoặc di động ... Các node giao tiếp ad-hoc với nhau và truyền dữ liệu về trung tâm (base station) một cách gián tiếp bằng kỹ thuật multi-hop.

Lưu lượng (traffic) dữ liệu lưu thông trong WSN là thấp và ko liên tục (không hẳn với tracking và localization aplication). Do vậy để tiết kiệm năng lượng, các sensor node thường có nhiều trạng thái hoạt động (active mode) và trạng thái nghỉ (sleep mode) khác nhau. Thông thường thời gian 1 node ở trạng thái nghỉ lớn hơn ở trạng thái hoạt động rất nhiều.

Như vậy, đặc trưng cơ bản nhất để phân biệt 1 mạng cảm biến và 1 mạng wireless khác chính là giá thành, mật độ node mạng, phạm vi hoạt động, cấu hình mạng (topology), lưu lượng dữ liệu, năng lượng tiêu thụ và thời gian ở trạng thái hoạt động (active mode).


2. Đặc trưng và cấu hình mạng cảm biến

1 node trong mạng WSN thông thường bao gồm 2 phần: phần cảm biến (sensor) hoặc điều khiển và phần giao tiếp vô tuyến (RF transceiver). Do số lượng node trong WSN là lớn và không cần các hoạt động bảo trì, nên yêu cầu thông thường đối với 1 node mạng là giá thành thấp (10 - 50 usd) và kích thước nhỏ gọn ( diện tích bề mặt vài đến vài chục cm2).

Do giới hạn về nguồn năng lượng cung cấp (pin...), giá thành và yêu cầu hoạt động trong một thời gian dài, nên vấn đề tiêu thụ năng lượng là tiêu chí thiết kế quan trọng nhất trong mạng cảm biến:

- Lớp vật lý (physical layer) tương đối đơn giản, gọn nhẹ do ràng buộc về kích thước và khả năng tính toán của node. Kỹ thuật điều chế tín hiệu số : O-QPSK, FSK cải thiện hiệu suất bộ khuếch đại công suất. Các kỹ thuật mã hóa sữa sai phức tạp như Turbo Codes, LDPC không được sử dụng, kỹ thuật trãi phổ được sử dụng để cải thiện SNR ở thiết bị thu và giảm tác động của fading của kênh truyền...
- Lớp MAC: kỹ thuật đa trua cập TDMA hoặc CSMA-CA hiệu chỉnh với mục đích giảm năng lượng tiêu thụ.
- Routing layer: "power aware" Routing Protocol, geography routing ...

WSN thường được triển khai trên một phạm vi rộng, số lượng node mạng lớn và được phân bố một cách tương đối ngẫu nhiên, các node mạng có thể di chuyển làm thay đổi sơ đồ mạng... do vậy WSN đò hỏi 1 sơ đồ mạng (topology) linh động (ad-hoc, mesh, star ...) và các node mạng có khả năng tự điều chỉnh, tự cấu hình (auto-reconfigurable).

Trong một số WSN thông dụng (giám sát, cảm biến, môi trường ...) địa chỉ ID các node chính là vị trí địa lý và giải thuật routing dựa vào vị trí địa lý này gọi là Geography routing protocol (GRT). Đối với mạng với số lượng lớn các node, sơ đồ mạng không ổn định ... GRT giúp đơn giản hóa giải thuật tìm đường, giảm dữ liệu bảng routing (routing table) lưu trữ tại các node. GRT phù hợp với các WSN cố định, tuy nhiên đối với các node di động (địa chỉ ID node thay đổi) giao thức routing trở nên phức tạp và không ổn định.

Cluster hoá: phân chia mạng diện rộng (hàng trăm, hàng ngàn node) thành các clusters để ổn định topology của mạng, đơn giản hóa giải thuật routing, giảm đụng độ (collission) khi truy cập vào kênh truyền (medium acess) nên giảm được năng lượng tiêu thụ , đơn giản hóa việc quản lý mạng và cấp phát địa chỉ cho từng node mạng (theo cluster).

Do giới hạn khả năng tính toán của từng node mạng cũng như để tiết kiệm năng lượng, WSN thường sử dụng các phương pháp tính toán và xử lý tín hiệu phi tập trung (giảm tải cho node gần hết năng lượng) hoặc gửi dữ liệu cần tính toán cho các base station (có khả năng xử lý tín hiệu mạnh và ít ràng buộc về tiêu thụ năng lượng).
...

3. Môt số chuẩn mạng cảm biến

Do phạm vi ứng dụng cua WSN rất rộng lớn, tính chất, đặc trưng của mạng phụ thuộc vào ứng dụng triển khai cụ thể. Do vậy, các công ty, các phòng thí nghiệm vẫn thường phát triển, triển khai giao thức riêng (MAC, Routing, synchronisation ...) phù hợp cho từng ứng dụng cụ thể dựa trên các thiết bị phần cứng (transceiver chip) trên thị trường. Một số chuẩn WSN được biết đến:

ALOHA system (U. of Hawaii)
PRNET system (U.S. Defense)
WINS (U. of California)
PicoRadio (U. of California)
MicroAMPS (M.I.T)
MANET (Mobile ad-hoc Network)
Zigbee: dựa trên physical layer và MAC layer của chuẩn WPAN 802.15.4
...


4. Ứng dụng của mạng cảm biến

WSN được ứng dụng đầu tiên trong các lĩnh vực quân sự. Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp điều khiển tự động, robotic, thiết bị thông minh, môi trường, y tế ... WSN ngày càng được sử dụng nhiều trong hoạt động công nhiệp và dân dụng. Một số ứng dụng cơ bản của WSN:

- Cảm biến môi trường (quân sự: phát hiện mìn, chất độc, dịch chuyển quân địch ... công nghiệp: hệ thống chiếu sáng, độ ẩm, phònh cháy, chống rò rỉ ... dân dụng: hệ thống điều hòa nhiệt độ, chiếu sáng ... )
- Điều khiển (quân sự: kích hoạt thiết bị, vũ khí quân sự ... công nghiệp: điều khiển tự động các thiết bị, robot ... )
- Theo dõi, giám sát, định vị (quân sự: định vị, theo dõi sự dịch chuyển thiết bị, quân đội ... )
- Môi trường (giám sát lũ lụt, bão, gió, mưa ... phát hiện ô nhiễm, chất thải ...)
- Y tế (định vị, theo dõi bệnh nhân, hệ thống báo động khẩn cấp ...)
- Hệ thống giao thông thông minh: giao tiếp giữa biển báo và phương tiện giao thông, hệ thống điều tiết lưu thông công cộng, hệ thống báo hiệu tai nạn, kẹt xe ... hệ thống định vị phương, trợ giúp điều khiển tự động phương tiện tiện giao thông...
- Gia đình (nhà thônh minh: hệ thống cảm biến, giao tiếp và điều khiển các thiết bị thông minh ...)
...

WSN tạo ra môi trường giao tiếp giữa các thiết bị thông minh, giữa các thiết bị thông minh và con người và giao tiếp giữa các thiết bị thông minh và các hệ thống viễn thông khác (hệ thống thông tin di động, internet ... )

5. Tài liệu tham khảo

Anna HAC, book " Wireless Sensor Network Deigns", Wiley
Edgar H. Callaway, book " Wireless Sensor Networks: Architectures and Protocols", Aurebach
"Wireless Sensor Network" Wikipédia keyword.



Thứ Hai, 23 tháng 4, 2012

Mobile ad hoc network (MANET)

Trích: Đồ án tốt nghiệp: Phạm Quang Huy - D04VT2 - PTIT HN


Giới thiệu về MANET

Các thiết bị di động như các máy tính xách tay, với đặc trưng là công suất CPU, bộ nhớ lớn, dung lượng đĩa hàng trăm gigabyte, khả năng âm thanh đa phương tiện và màn hình màu đã trở nên phổ biến trong đời sống hàng ngày và trong công việc. Đồng thời, các yêu cầu kết nối mạng để sử dụng các thiết bị di động gia tăng đáng kể, bao gồm việc hỗ trợ các sản phẩm mạng vô tuyến dựa trên vô tuyến hoặc hồng ngoại ngày càng nhiều. Với kiểu thiết bị điện toán di động này, thì giữa những người sử dụng di động luôn mong muốn có sự chia sẻ thông tin.

Một mạng tùy biến là một tập hợp các thiết bị di động hình thành nên một mạng tạm thời mà không cần sự trợ giúp của bất kỳ sự quản lý tập trung hoặc các dịch vụ hỗ trợ chuẩn nào thường có trên mạng diện rộng mà ở đó các thiết bị di động có thể kết nối được. Các node được tự do di chuyển và thiết lập nó tùy ý, do đó, topo mạng không dây có thể thay đổi một cách nhanh chóng và không thể dự báo. Nó có thể hoạt động một mình hoặc có thể được kết nối tới Internet. MANET là một mạng có cơ sở hạ tầng nhỏ do nó không yêu cầu bất cứ một cơ sở hạ tầng cố định nào (như một trạm cơ sở) cho hoạt động của nó vì và vậy nó có thể được triển khai nhanh chóng và có khả năng tự cấu hình. Các node truyền thông không dây và chia sẻ cùng phương tiện.

Do MANET là một mạng mềm dẻo mà có thể được thiết lập tại bất cứ đâu vào bất cứ thời điểm nào mà không cần đến cơ sở hạ tầng hiện tại
, bao gồm cả sự cấu hình trước đó và người quản trị, mọi người có thể nhận ra tiềm năng thương mại và lợi thế của mạng ad hoc có thể mang lại. MANET có thể được dùng trong quân sự, trong các mạng cảm biến, các hoạt động cứu hộ, sử dụng để truyền thông giữa các sinh viên trong khu trường sở, trao đổi thông tin và dữ liệu trong các khu thương mại, tự do chia sẻ kết nối Internet, dùng trong các buổi hội thảo…


MANET có hai chế độ hoạt động chính là chế độ cở sở hạ tầng và chế độ IEEE Ad- hoc.

Chế độ cơ sở hạ tầng: Chế độ này thì mạng bao gồm các điểm truy cập AP cố định và các node di động tham gia vào mạng, thực hiện truyền thông qua các điểm truy cập. Trong chế độ này thì các liên kết có thể thực hiện qua nhiều chặng.



Chế độ cơ sở hạ tầng

Chế độ IEEE Ad- hoc: Chế độ này thì các node di động truyền thông trực tiếp với nhau mà không cần tới một cơ sở hạ tầng nào cả. Trong chế độ này thì các liên kết không thể thực hiện qua nhiều chặng.




Chế độ IEEE Ad- hoc

Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2012

Tắc nghẽn và giải pháp trong mạng

Tắc nghẽn trong mạng thì cũng như tắc đường thôi, có điều thay vì là xe cộ thì đây là các gói tin và thay vì chỉ làm mọi người không di chuyển được thì tắc nghẽn trong mạng không những làm ngưng trệ, có thể làm mất gói tin nếu là kiểu truyền không đảm bảo.
Điều khiển tắc nghẽn thì cũng như điều khiển giao thông:
  • Điều chỉnh luồng lưu lượng trong mạng
  • Tránh làm bão hòa hoặc quá tải các nút trung gian
Nguyên nhân : Nhu cầu lưu lượng đầu vào vượt quá dung lượng mạng .

Khi nghẽn mạng thì để giảm lưu lượng, các nút có thể lưu đệm chờ khi mạng đỡ nghẽn thì mới truyền nhưng đó chỉ là giải pháp tạm thời và nếu cứ nghẽn suốt thì sẽ quá tải bộ đệm (tương tự cảnh sát giao thông chặn 1 chiều, bắt chiều kia đi nhưng nếu cứ chặn mãi thì chiều bị chặn sẽ càng ngày càng dài ra, số người xếp hàng càng đông)

Với mạng tốc độ càng nhanh thì tình trạng tắc nghẽn càng trầm trọng vì thời gian xảy ra nhanh, dữ liệu nhiều, cần nhiều bộ đệm.

Có 2 giải pháp cơ bản để giải quyết là phản ứng (reactive) và phòng tránh (preventive)
  • Phản ứng: phát hiện tắc nghẽn, hoặc tấn công vào tắc nghẽn, hành động để giải quyết vấn đề trước khi tình trạng tắc nghẽn trở nên xấu hơn.
  • Phòng tránh: ngăn tắc nghẽn xảy ra bằng cách đặt chỗ trước tài nguyên.
Phần lớn các giải pháp của internet là các cơ cấu reactive.
Phần lớn các giải pháp của ATM là preventive.

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2012

Lôgarit


Đồ thị các hàm lôgarit cơ số 2, e, 10, và 1/2.
Với a là một số dương khác 1 và b là một số dương, số thực α thỏa mãn aα = b được gọi là lôgarit cơ số a của b và kí hiệu loga(b)
Lôgarit của tích hai số bằng tổng của lôgarit hai số đó:
logb(xy) = logb(x)+logb(y).
Nhờ quy tắc này mà nhiều thế kỷ trước các nhà toán học và kỹ thuật có thể sử dụng bảng lôgarit để thực hiện phép nhân hai số thông qua phép cộng lôgarit, do phép cộng thì dễ tính hơn phép nhân. Nhà toán học John Napier đã phát minh ra phép tính này ở thế kỷ 17.
Để sử dụng bảng lôgarit, người ta thường đưa về lôgarit cơ số a = 10, gọi là lôgarit thập phân để thuận tiện cho tra bảng và tính toán. Lôgarit tự nhiên lấy hằng số e (xấp xỉ bằng 2,718) làm cơ số, và nó được sử dụng rộng rãi trong toán thuần túy. Lôgarit nhị phân với cơ số bằng 2 được sử dụng trong khoa học máy tính.
Thang lôgarit cho phép thu hẹp các đại lượng về phạm vi nhỏ hơn. Ví dụ, độ Richter đo năng lượng của động đất cũng sử dụng thang đo lôgarit, decibel là đơn vị lôgarit đo áp suất âm thanh. Lôgarit cũng thường gặp trong các công thức khoa học và kỹ thuật, như đo độ phức tạp của thuật toán và fractal, thậm chí trong công thức đếm số nguyên tố.


Ứng dụng logarit được sử dụng trong viễn thông rất nhiều vì các đại lượng nhất là tín hiệu biến thiên trong những khoảng rất lớn, xem bài (dB, dBm, dBw dBd, dBi, dBc)

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012

Các loại mô hình kênh truyền thông dụng thường gặp

Mô hình kênh thường được dùng trong tính toán và nhất là hay dùng trong mô phỏng (máy tính tính hộ). Mình không giỏi mấy môn tính toán, xác suất và nhất là ở trường cũng chỉ dạy về AWGN (tạp âm nhiệt hay nhiễu Gauss), đi thi không hiểu gì đến mấy dòng công thức xác suất, phân bố thì cố học thuộc để chép vào bài thi thôi (các bạn có khả năng thì đừng như mình nhé), các bạn muốn tìm hiểu thêm về tính toán thì xem sách vở hoặc google để có tài liệu chuyên sâu.
Tuy nhiên đến lúc làm đồ án thì lại vấp phải vì cần phải mô phỏng kênh vô tuyến di động 3.5G HSDPA, nhưng mà may, thời buổi xa lộ thông tin và mã nguồn các kênh thì đã có code sẵn, tuy nhiên với những bạn như mình trở xuống thì vẫn cần phải biết một vài loại kênh để mà áp dụng. Sau đây là các loại kênh minh biết :
  • AWGN : có nguyên 1 bài viết ở đây , đây là loại mà ở đâu cũng có (chắc trừ trong vụ trụ thì may ra không), trong mô phỏng thì mình xem code thấy khi chọn mô hình kênh Rayleigh thì trước đó vẫn được cộng AWGN rồi. Về đặc điểm thì nếu mô phỏng mà chỉ có AWGN thì là các bạn đang mô phỏng một kênh rất tốt (trước học thì thấy là kênh hữu tuyến, cáp đồng - không rõ cáp quang thì thế nào).
  • Rician (kênh Rice): dùng để mô tả kênh vô tuyến mà có yếu tố truyền thẳng (có thể truyền tín hiệu thẳng từ máy phát đến máy thu mà không bị che chắn), tất nhiên có cả các yếu tố đa đường thông thường. Kênh này kiểu như mô tả chất lượng kênh ở mức trung bình.
  • kênh Rayleigh là kênh tổng hợp của các kênh bao gồm cả các đường phản xạ, nhiễu xạ, khúc xạ mà ko chứa đường LOS (Line-of-sight).

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2012

Điều khiển từ xa hoạt động như thế nào?


Ngày nay, những thiết bị điều khiển từ xa để điều khiển các thiết bị gia đình như ti vi, máy điều hòa, đầu đĩa, các loại đồ chơi ngày càng phổ biến... Thế nhưng chúng hoạt động ra sao?
Trong thời đại ngày nay, chúng ta không thể thiếu những thiết bị điều khiển từ xa để điều khiển các thiết bị gia đình như ti vi, máy điều hòa, đầu đĩa, các loại đồ chơi… vậy điều khiển từ xa có các loại cơ bản nào và chúng hoạt động ra sao để điều khiển được các vật dụng ở đằng xa một cách chính xác?
Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)


Điều khiển từ xa đã có từ thời Chiến tranh thế giới thứ Hai
Ít người biết rằng những chiếc điều khiển từ xa đầu tiên trên thế giới được ra đời nhằm mục đích phụ vụ cho chiến tranh. Các loại điều khiển từ xa bằng tần số vô tuyến xuất hiện vào Thế chiến I nhằm hướng dẫn các tàu hải quân Đức đâm vào thuyền của quân Đồng Minh.
Đến Thế chiến II, điều khiển từ xa dùng để kích nổ những quả bom. Sau chiến tranh, công nghệ tuyệt vời của chúng tiếp tục được cải tiến để phục vụ đắc lực trong đời sống con người. Và đến nay, có thể nói, gần như ai cũng đã từng sử dụng điều khiển từ xa để điều khiển một thiết bị nào đó.
Ban đầu, người ta dùng điều khiển từ xa sử dụng công nghệ tần số vô tuyến RF (Radio Frequency) và sau đó bắt đầu ứng dụng công nghệ hồng ngoại IR (Infrared Remote) vào điều khiển từ xa. Hiện nay trong đời sống, chúng ta sử dụng cả hai loại điều khiển từ xa này. Như vậy, sự khác biệt trong cấu tạo, tính năng và hạn chế của từng loại ra sao?
Điều khiển từ xa bằng tia hồng ngoại (IR)
Ngày nay, đây là loại điều khiển từ xa có vai trò “thống trị” trong hầu hết các thiết bị gia đình. Một chiếc điều khiển IR sẽ gồm các bộ phận cơ bản nằm trong một hộp nối cáp kỹ thuật số như sau: Các nút bấm; một bảng mạch tích hợp; các núm tiếp điểm; đi - ốt phát quang (đèn LED).
Nguyên lý cơ bản của loại điều khiển từ xa này là sử dụng ánh sáng hồng ngoại của quang phổ điện từ mà mắt thường không thấy được để chuyển tín hiệu đến thiết bị cần điều khiển. Nó đóng vai trò như một bộ phát tín hiệu, sẽ phát ra các xung ánh sáng hồng ngoại mang một mã số nhị phân cụ thể. Khi ta ấn một nút phía bên ngoài thì sẽ vận hành một chuỗi các hoạt động khiến các thiết bị cần điều khiển sẽ thực hiện lệnh của nút bấm đó.
Sơ đồ bộ điều khiển từ xa. (Ảnh: HowStuffWorks)
Quy trình này cụ thể như sau: Đầu tiên, khi ta nhấn vào một nút như “Tăng âm lượng” chẳng hạn, nó sẽ chạm vào núm tiếp điểm bên dưới và nối kín một mạch tăng âm lượng trên bản mạch. Các mạch tích hợp có thể tự dò tìm ra từng mạch cụ thể cho từng nút bấm. Tiếp đó các mạch này sẽ gửi tín hiệu đến đèn LED nằm phía trước. Từ đây, đèn LED sẽ phát ra một chuỗi các xung ánh sáng chứa các mã nhị phân (gồm những dãy số 1 và 0) tương ứng với lệnh “tăng âm lượng”. Mã lệnh này gồm nhiều mã con như khởi động, tăng âm lượng, mã địa chỉ thiết bị và ngừng lại khi ta thả nút ra.
Về phía bộ phận cần điều khiển, nó sẽ gồm một bộ thu tín hiệu hồng ngoại nằm ở mặt trước để có thể dễ dàng nhận được tín hiệu từ điều khiển từ xa. Sau khi đã xác minh mã địa chỉ này xuất phát đúng từ chiếc điều khiển của mình, chúng sẽ giải mã các xung ánh sáng thành các dữ liệu nhị phân để bộ vi xử lý của thiết bị có thể hiểu được và thực hiện các lệnh tương ứng.
Hiện nay, ta sử dụng thiết bị điều khiển IR cho hầu hết các vật dụng trong nhà như tivi, máy stereo, điều hòa nhiệt độ…. Chúng rất bền, tuy nhiên lại có hạn chế liên quan đến bản chất chỉ truyền theo đường thẳng của ánh sáng. Do đó, loại điều khiển IR có tầm hoạt động chỉ có khoảng 10 mét và cũng không thể truyền qua các bức tường hoặc vòng qua các góc. Chúng chỉ hoạt động tốt khi ta trỏ thẳng hay gần vị trí bộ thu của vật dụng cần điều khiển.
Ngoài ra, nguồn ánh sáng hồng ngoại có ở khắp nơi như ánh sáng mặt trời, bóng đèn huỳnh quang, từ cơ thể con người… nên có thể làm cho điều khiển IR bị nhiễu sóng. Để tránh hiện tượng này, người ta phải cài đặt cho bộ lọc của các bộ phận thu chỉ thu nhận những bước sóng đặc biệt hoặc tần số riêng biệt của ánh sáng hồng ngoại phù hợp với nó và chặn ánh sáng ở bước sóng khác để hạn chế sự nhiễu sóng một cách tối đa.
Điều khiển từ xa bằng tần số vô tuyến (RF)
Là loại điều khiển từ xa xuất hiện đầu tiên và đến nay vẫn giữ một vai trò quan trọng và phổ biến trong đời sống. Nếu điều khiển IR chỉ dùng trong nhà thì điều khiển RF lại dùng cho nhiều vật dụng bên ngoài như các thiết bị mở cửa gara xe, hệ thống báo hiệu cho xem các loại đồ chơi điện tử từ xa thậm chí kiểm soát vệ tinh và các hệ thống máy tính xách tay và điện thoại thông minh…

Một số điều khiển từ xa. (Nguồn: Internet)
Với loại điều khiển này, nó cũng sử dụng nguyên lý tương tự  như điều khiển bằng tia hồng ngoại nhưng thay vì gửi đi các tín hiệu ánh sáng, nó lại truyền sóng vô tuyến tương ứng với các lệnh nhị phân. Bộ phận thu sóng vô tuyến trên thiết bị được điều khiển nhận tín hiệu và giải mã nó. So với loại điều khiển IR, lợi thế lớn nhất của nó chính là phạm vi truyền tải rộng, có thể sử dụng cách thiết bị cần điều khiển đến hơn 30 mét đồng thời có thể điều khiển xuyên tường, kính…
Tuy nhiên, nó cũng có hạn chế đó là tín hiệu vô tuyến cũng có mặt khắp nơi trong không gian do hàng trăm loại máy móc thiết bị dùng các tín hiệu vô tuyến tại các tần số khác nhau. Do đó, người ta tránh nhiễu sóng bằng cách truyền ở các tần số đặc biệt và nhúng mã kỹ thuật số địa chỉ của thiết bị nhận trong các tín hiệu vô tuyến. Điều này giúp bộ thu vô tuyến trên thiết bị hồi đáp tín hiệu tương ứng một cách chính xác.
Hiện nay, cả hai loại điều khiển này đều được ứng dụng hết sức rộng rãi trong đời sống. Người ta còn tích hợp cả hai lại để tạo thành những loại điều khiển từ xa vạn năng có thể điều khiển nhiều loại thiết bị cùng lúc hay chỉ cần bấm một nút sẽ tự động thực hiện một chuỗi lệnh tuần tự. Ngoài ra, con người còn cải tiến các bộ mở rộng nhằm chuyển đổi tín hiệu vô tuyến thành các xung hồng ngoại nhằm mở rộng phạm vi điều khiển hoạt động của các thiết bị trong gia đình…


Theo Báo Đất Việt

MODEM là gì



Modulation - Demodulation: thiết bị điều chế và giải điều chế. Ví dụ với các modem ADSL hiện nay, line in sử dụng cáp tín hiệu analog (tương tự) (có thể chung dây điện thoại luôn - như VNN, Viettel vẫn làm). Đến nơi người sử dụng, cắm vào máy tính để sử dụng, vì vậy phải giải điều chế và điều chế thành tín hiệu digital (số). Và ngược lại, khi các ứng dụng trên máy tính đóng gói các gói tin, đẩy xuống tầng dưới (card mạng - NIC), tín hiệu ra là tín hiệu số (các dòng bit nhị phân), đến modem, nó cũng ko truyền ngay được, vì môi trường đến ISP là analog, cũng phải thực hiện điều chế để truyền đi.

Lý do cần điều chế thì các bạn xem ở đây :
http://tongquanvienthong.blogspot.com/2012/02/ly-do-can-ieu-che-va-cac-loai-ieu-che.html

Thường thì modem của chúng ta giờ ngoài loại một cổng còn có loại nhiều cổng , tức là tích hợp cả switch ở trong đó luôn rồi,  hỗ trợ router luôn nữa.

Theo như bên vnpro có bàn luận, thấy có 2 bài viết đáng chú ý như sau :

1. Modem ADSL: dân kỹ thuật mình hay gọi quen rồi hay sao đó, chứ về bản chất thì modem chính là cái card modem hoặc cái Box modem để kết nối đường Dial up qua điện thoại để kết nối internet. Công dụng chính là chuyển đổi tín hiệu từ analog sang digital mà thôi, còn phần việc làm sao để kết nối internet thì do 1 router trên trạm họ làm. Như vậy khi họ chỉ con Router mà bạn dùng ở nhà để kết nối internet mà nói là : đây là còn modem ADSL thì họ đã gọi tắc đi mà thôi ( tắc đồng nghiã với sai về kỹ thuật )

2. Router ADSL: router là thiết bị định tuyến, tức là toàn bộ quá trình kết nối internet của bạn sẽ do con router này quyết định đường đi sau khi đã thiết lập PPPOE để kết nối. router ADSL thuộc lớp Access và nó là thiết bị layer 3, khác hẳn về cả vai trò và chức năng so với thiết bị modem layer 1. Nếu các bạn lưu ý sẽ thấy không có bất kì thiết bị được gọi là modem ADSL nào mà không có đính kèm chữ router.



+ modem: một đặc điểm cơ bản của modem là nó có thể điều chế và giải điều chế các tín hiệu mang tin vào các tín hiệu đường dây để có thể truyền đi xa trong kết nối WAN. Quá trình điều chế có thể là số hoặc tương tự, điều này thì Router không thể làm được nếu không lắp thêm card chuyên dụng. Modem không có chức năng định tuyến cao cấp, ko cấu hình được giao thức định tuyến, cũng như nhiều tính năng khác của router, chỉ có tác dụng kết nối đến ISP và làm gateway cho mạng của bạn kết nối ra ngoài. Modem ADSL (router ADSL) có 2 chế độ hoạt động:
Chế độ route : có hỗ trợ routing (static route, RIP), tuy nhiên ko hỗ trợ đầy đủ các giao thức định tuyến như một router thực sự. Một số modem cũng có chức năng định tuyến nhưng nó không hỗ trợ nhiều giao thức định tuyến như Router thôi. Một số Modem ADSL có hỗ trơ dynamic routing (RipV1,RipV2) Static Routing là D-link…..
Chế độ bridge : ở chế độ hoạt động này, modem ADSL (router ADSL) như một cầu nối => khi đó modem ADSL (router ADSL) không còn chức năng định tuyến nữa. Modem ADSL lúc này chỉ thực hiện chuc năng kết thúc của đường truyền ADSL. Thiết bị đóng vai trò gateway sẽ do một thiết bị phía sau modem đảm nhận (là router chẳng hạn).

+ router: ngược lại với những điểm trên của modem, giống với modem ADSL là có thể kết nối ADSL (nếu như router đó có hỗ trợ kết nối ADSL). Tác dụng của Router thì chắc không phải nói nhiều, nó có hai tính năng cơ bản đó là tìm đường và chuyển mạch các gói tin từ các môi trường khác nhau ví dụ từ Ethernet sang HDLC.

Người ta thường gọi modem ADSL là Router ADSL vì ngoài chức năng điều chế tín hiệu ADSL nó còn có thể thực hiện một số tính năng của Router như định tuyến tĩnh hoặc động (thường là RIP) tuy nhiên năng lực định tuyến thường không cao, thường chỉ áp dụng cho các kết nối đến nhà khác hàng hoặc một chi nhánh văn phòng nhỏ.


 Nói chung đã kéo đường dây điện thoại (cái dây đen đen mảnh mảnh, không phải dây lan tròn tròn đâu nhé) vào 1 đầu rồi đầu kia là cổng LAN thì là modem (hay thiết bị có tích hợp tính năng modem), router dùng để định tuyến trong mạng (tức là tìm đường từ máy của mình đến đích đó), trong mạng vnpt, fpt hay viettel adsl thì router ở các trạm rồi, để truyền đi xa thì dùng modem để truyền thôi, về đến máy tính thì giải mã, giải điều chế rồi chia sẻ giữa các cổng switch. Theo mình nghĩ thì nếu chỉ để giải mã không thôi thì modem không cần tính năng switch và router vẫn chạy được.

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

Mạng diện rộng WAN (wide area network)

Mạng diện rộng WAN (wide area network) là mạng dữ liệu được thiết kế để kết nối giữa các mạng độ thị (mạng MAN) giữa các khu vực địa lý cách xa nhau. Xét về quy mô địa lý, mạng GAN( global area network) có quy mô lớn nhất, sau đó đến mạng WAN và mạng LAN.  

Các tổ chức xây dựng WAN
  • Các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế xây dựng mạng WAN bao gồm ITU-T, ISO, IETF, EIA, TIA. Xem bảng sau:
  • Các tiêu chuẩn WAN thường mô tả các yêu cầu đối với lớp vật lý và lớp liên kết dữ liệu, bao gồm việc đánh địa chỉ vật lý, điều khiển luồng (flow control) và đóng gói (encapsulation).
Mô hình mạng
Trong mô hình tham chiếu OSI, WAN hoạt động từ lớp 3 (lớp mạng) trở xuống, bao gồm: Lớp 1 (Lớp vật lý) 

Các thiết bị mạng WAN
Các thiết bị sử dụng cho mạng WAN gồm có: router, switch, modem (CSU/DSU), communication server (Server giao tiếp). 

Ứng dụng
WAN được sử dụng cho các mạng dùng riêng point-to-point, sử dụng trong các mạng chuyển mạch gói (X.25, frame relay), chuyển mạch kênh (ATM, ISDN). 

Các giao thức đường truyền
Các giao thức đường truyền phổ biến sử dụng cho mạng WAN gồm:
  • PPP (point-to-point protocol): sử dụng cho các kết nối dialup (quay số).
  • HDLC (high-level data link control): sử dụng cho các mạng point-to-point dành riêng.
  • LAPD (link access procedure D channel): sử dụng cho các mạng ISDN kênh D (D Channel).
  • LAPB (link access procedure balanced): sử dụng cho mạng chuyển mạch gói X.25.
  • LAPF (link access procedure frame): sử dụng cho mạng chuyển mạch gói Frame relay.
 Nguồn http://vi.wikipedia.org/wiki/WAN

Lúc học ccna thì thấy là khi công ty có nhiều tòa nhà cách nhau thì chơi mạng này

Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

Một mẫu truyện ngắn về Stress

[IMG]

Xã hội thông tin đang phát triển như vũ bão, những áp lực của cuộc sống hiện đại ngày càng gây nhiều nguy hại đến sức khỏe tinh thần của con người. Trong quá trình làm việc với tình trạng căng thẳng, mệt mỏi, công việc của chúng ta cũng sẽ không được giải quyết hiệu quả. Và dường như stress cũng đang ngày càng xuất hiện nhiều hơn đối với dân công nghệ chúng ta.

Nhân dịp tháng hưởng ứng nhận thức về Stress – tháng 4, mình xin giới thiệu anh em một bài Infographic kể về câu chuyện của một người đàn ông đang bị stress và những lời khuyên dành cho anh ta. Hi vọng mỗi người chúng ta cũng sẽ rút ra được một điều gì đấy từ bài này.

Anh em click vào hình để xem rõ hơn nhé.


Nguồn: Mindlev
Infographic.vn@ tinhte.vn

Đọc được 1 bài viết bên tinh tế thấy nội dung hay và dễ hiểu, và cũng là vấn đề chung mà rất nhiều người quan tâm, muốn chia sẻ cùng mọi người.
stress vốn là 1 bản năng con người dùng để phòng thủ tự vệ (hiếu chiến hơn, manh động hơn, các giác quan hoạt động mạnh hơn) . Nếu bạn đối mặt với 1 kẻ giết người hoặc 1 con thú dữ, bản năng này có thể làm tăng thêm sức chiến đấu, sự dũng cảm và có thể cứu mạng bạn, tuy nhiên, xuất hiện không đúng nơi đúng chỗ thì tác dụng cũng vô cùng.

Thuật ngữ Stress hay còn gọi là căng thẳng ra đời trong thời gian gần đây, nó xuất hiện rất nhiều trong cuộc sống. Có thể hiểu nôm na là khó chịu, căng thẳng, áp lực trong chính mỗi con người, được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1927 bởi nhà  học người Mỹ, Walter Cannon. Theo Cannon thì stress là một loạt phản ứng bản năng làm cho nhịp tim và huyết áp tăng cao, tăng nhịp thở và hoạt động cơ bắp, đồng thời thị lực, thính lực cũng hoạt động mạnh hơn. Ngoài Cannon còn nhiều cách định nghĩa khác như stress là sự căng thẳng xuất hiện khi cá nhân không thể ứng phó được gây tổn thương đến sức khỏe hoặc có thể hiểu đơn giản, stress xuất hiện khi áp lực vượt quá khả năng tự vệ thông thường của con người.


Tuy nhiên trong trạng thái stress thì con người dễ gây ảnh hưởng đến những người xung quanh, và có lẽ xã hội phát triển quá nhanh so với khả năng tiến hóa sinh học của con người nên những bản năng không phù hợp vẫn luôn xuất hiện không đúng lúc đúng chỗ. Đồng thời, khi stress, cơ thể con người hoạt động mạnh hơn, về lâu về dài mà diễn ra liên tục thì cũng như cái máy tính cày game liên tục, nóng rừng rực ấy, không tốt tí nào, các bạn hãy xem truyện ngắn trên và xem có thể áp dụng cho bản thân không nhé.

Còn 1 điều nữa, stress gây mệt mỏi nhưng không phải mệt mỏi thì luôn do stress, không nên lạm dụng từ ngữ.

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes