Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012

Chuyển giao

Trong thông tin di động, chuyển giao là quá trình chuyển một kết nối thoại (cuộc gọi) hoặc kết nối dữ liệu từ kênh này sang kênh khác. Cell là vùng phủ sóng của một trạm phát sóng hay một sector của một trạm phát sóng.
Chuyển giao xảy ra trong nhiều trường hợp, sau đây là một số trường hợp:
  • Thuê bao di chuyển từ cell này sang cell khác. Khi chuyển giao được thực hiện thì kết nối đó không bị kết thúc khi thuê bao di chuyển ra khỏi một cell nào đấy.
  • Dung lượng kết nối của một cell (A) đã dùng hết, thì kết nối của những thuê bao nào nằm trong vùng giao nhau của cell này với một cell khác (B) sẽ được chuyển sang cell đó (B) nhằm giảm bớt kết nối ở cell A để các thuê bao khác có thể thực hiện cuộc gọi.
Chuyển giao intra-cell là khi kết nối được chuyển từ kênh này (có thể bị nhiễu,...) sang kênh khác trong cùng một cell. Inter-cell là chuyển giao giữa các cell.
Hai loại chuyển giao cơ bản là:
  • Chuyển giao cứng: kênh của một kết nối bị ngắt trước khi kênh mới được thiết lập.
  • Chuyển giao mềm: kênh mới được thiết lập trước khi kênh cũ bị ngắt.

Chuyển giao rất quan trọng trong di động vì không có chuyển giao thì làm gì còn "di động" nữa, các điện thoại chỉ lanh quanh 1 trạm và khi di chuyển sang trạm khác thì bị đứt kết nối.
Bổ xung thêm 1 loại chuyển giao nữa là chuyển giao mềm hơn (giữa các cluster của 1 tế bào) UE được kết nối đến ít nhất là hai đoạn ô của cùng một trạm.

Ngoài ra thì người ta còn phân ra nhiều loại như
Chuyển giao trong nội hệ thống (phân nhỏ nữa thì còn có cùng tần số, khác tần số), chuyển giao giữa các hệ thống khác nhau ..

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

Hoán vị (interleaving) có tác dụng gì ?

Trên các kênh truyền vô tuyến, việc lỗi bit thường xảy ra theo từng cụm (do tác động biến đổi nhất thời nào đó của kênh truyền, ví dụ như một khoảng thời gia bị deep fading) hơn là xảy ra từng bit lỗi riêng lẻ. Nếu một cụm lỗi bit quá nhiều vượt quá khả năng sửa lỗi của mã sửa sai thì dẫn đến giải mã sai--> lỗi bit. Để khắc phục điều này trước khi truyền bên phát interleave data, trên kênh truyền có bị lỗi cụm thì sang bên thu, sau khi deinterleave, các lỗi cũng không nằm cạnh nhau thành một cụm nữa, kết hợp với khả năng sửa lỗi của mã sửa sai, giảm được bit lỗi.

Nói chung có thể hiểu là các mã sửa lỗi chỉ có thể sửa được lỗi nếu lỗi đó ít hơn 1 mức cho phép, nếu nhiều lỗi tập trung vào 1 chỗ thì không sửa được (có khi giải ra còn lỗi nhiều hơn), nên việc xáo trộn để các lỗi cụm rải rác ra nhiều nơi, mỗi chỗ gánh 1 tí thì sẽ có khả năng sửa lỗi cụm đó.

Thực ra thì não người cũng có thể coi là một hệ thống sửa sai, với văn bản nội dung bị sai ta vẫn có thể nhận dạng nếu sai ít và các chỗ sai không phải các ký tự quan trọng, còn sai nhiều thì cũng tịt, ta có thể làm 1 ví dụ như sau:
I have a __arm.
so với
I hav_ a drea_

Thì sẽ thấy nhận dạng câu I have a dream ở ví dụ 2 dễ dàng hơn.

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2012

DVB-S2 – CÔNG NGHỆ TRUYỀN DẪN VỆ TINH CỦA TƯƠNG LAI


DVB-S2 là thế hệ truyền dẫn thứ hai cho phát quảng bá vệ tinh. Sự ra đời của DVB-S2 là một bước đột phá về công nghệ so với thế hệ thứ nhất DVB-S bởi những cải tiến trong mã sửa sai mới (BCH & LPDC) và kết hợp với các kiểu điều chế và mã hoá cấp cao. Ứng dụng công nghệ DVB-S2 sẽ làm tăng đáng kể hiệu suất sử dụng băng thông trong truyền dẫn vệ tinh: từ 30% đến 131% so với DVB-S đồng thời giảm giá thành thuê transponder vệ tinh.
Bài viết này giới thiệu về công nghệ DVB-S2, điểm khác biệt giữa hai hệ thống DVB-S2 và DVB-S, tại sao nên sử dụng DVB-S2, mã sửa sai BCH & LDPC, điều chế và mã hoá cấp cao ( VCM & ACM) đồng thời phân tích hiệu quả của công nghệ DVB-S2 so với công nghệ DVB-S hiện tại.
1. Giới thiệu.

    Kỷ nguyên truyền dẫn thông tin bằng vệ tinh thực sự có hiệu quả vào những năm 80. Khi đó, truyền dẫn qua vệ tinh đã tiết kiệm băng thông và giá thành khi sử dụng các kiểu điều chế QPSK và BPSK. Những năm 90, công nghệ phát quảng bá qua vệ tinh đã phát triển rộng rãi sau khi ETSI công bố chuẩn DVB-S đầu tiên, kết hợp điều chế QPSK với mã sửa lỗi hướng truyền trong và ngoài (Viterbi và Reed-Solomon).
    Cuộc cách mạng về mã sửa lỗi kết hợp với các cấu hình điều chế mới và một loạt các đặc tính mới là nền tảng làm nên tiêu chuẩn DVB-S2. Đây là tiêu chuẩn mới nhất trong các tiêu chuẩn của ETSI về truyền dẫn thông tin vệ tinh. Kiểu điều chế này cũng đã khép lại con đường tiệm cận giới hạn về mặt lý thuyết (giới hạn shannon).
    DVB-S2 với hiệu suất sử dụng băng thông tăng từ 30% đến 131% so với DVB-S đang được kỳ vọng sẽ đem lại hiệu quả to lớn khi được ứng dụng, với khả năng truyền dẫn đồng thời nhiều dịch vụ có tốc độ lớn như truyền hình có độ phân giải cao HDTV, Internet tốc độ cao, truyền số liệu và các ứng dụng chuyên nghiệp… trên cùng một bộ phát đáp của vệ tinh mà hệ thống DVB-S trước đó khó có thể thực hiện được.

2. Công nghệ DVB-S2.

    Nhìn thoáng qua (Hình 1) thì tiêu chuẩn DVB-S2 (ETSI TR 102 376) có ít sự thay đổi đáng kể nào khi so sánh với tiêu chuẩn DVB-S (EN-301210 và EN-300421): Mã sửa sai trong Viterbi và ngoài Reed-Solomon được thay thế bằng mã sửa sai LDPC (Low-Density Parity Check) và BCH (Bose-Chaudhuri-Hocquenghem) tương ứng.



    Ngoài ra, điều chế phức tạp hơn và số lượng bit hữu ích / hertz tăng lên. Tiêu chuẩn mới cung cấp các kiểu điều chế QPSK (2 bit/hz), 8PSK (3 bit/Hz), 16APSK (4 bit/Hz) và thậm chí là 32APSK (5 bit/Hz). So sánh với kiểu điều chế QAM, các cấu hình điều chế APSK (Amplitude and Phase-Shift Keying ) cho phép việc bù dễ dàng với bộ phát đáp-transponder phi tuyến.
    Sự khác nhau chính và cũng là hiệu quả của DVB-S2 khi so sánh với DVB-S là khả năng kết hợp các dòng dữ liệu vào một sóng mang, điều chế, mã hoá  thay đổi và tương thích (VCM và ACM) và cấp bên trong dòng dữ liệu không phải MPEG (non-MPEG2).
    Sự kết hợp các dòng dữ liệu khác nhau sẽ làm tăng số lượng tín hiệu truyền tải trên một sóng mang. Trong thực tế, điều này có thể xem như việc sử dụng bộ ghép kênh (MUX), nhưng lại không phải chịu những bất lợi từ việc định lại tham chiếu  thời gian chương trình PCR và sự thay đổi thông tin dịch vụ - thông tin đặc trưng chương trình (SI-PSI).
    Chức năng điều chế và mã hoá thay đổi -VCM (Variable Coding and Modulation) cho phép xác định một cấu hình điều chế khác nhau và mức sửa lỗi cho mỗi dòng dữ liệu trên cùng một sóng mang.
    Chức năng điều chế và mã hoá tương thích - ACM (Adaptive Coding and Modulation) cho phép thay đổi động cấu hình điều chế và mức bảo vệ lỗi cho mỗi khung dữ liệu. Khi kết hợp các dòng dữ liệu với các đầu cuối thu có cơ cấu hồi tiếp, tính năng ACM đặc biệt thích hợp cho việc tối ưu băng thông cho một mạng tương tác: Các thông số truyền dẫn có thể được tối ưu cho mỗi bộ đầu cuối và các ảnh hưởng do thời tiết như là fading do mưa có thể được bù dễ dàng và an toàn.   
    DVB-S2 được ví như là một bộ công cụ cho các dịch vụ tương tác: Điều chế và mã hoá cao cấp, truyền tải bất kì dạng (format) dữ liệu nào. Mục tiêu của bộ công cụ DVB-S2 là một hệ thống đơn phục vụ cho các ứng dụng khác nhau.

2.1. Điều chế và mã sửa sai cao cấp.

a.     Điều chế: Có 4 kiểu điều chế QPSK, 8PSK, 16APSK và 32APSK (Hình 2). Tất cả đã được tối ưu để hoạt động với các transponder phi tuyến. Bộ điều chế sử dụng bộ lọc băng gốc (B.B filter) và điều chế vuông góc (Quadrature Modulation) tạo ra các dạng phổ tín hiệu và tín hiệu cao tần RF. Đây là bộ lọc dạng cosin tăng có 3 dạng phổ ứng với 3 hệ số roll-off (α): 0,20; 0,25 và 0,35. Giảm hệ số α sẽ làm tăng độ suy giảm bên ngoài kênh phi tuyến (do nhiễu ISI tăng lên), phổ tín hiệu ra sẽ “vuông” hơn.

b.     Mã sửa sai cao cấp: DVB-S2 sử dụng phương pháp mã hoá khối BCH và LDPC.
-    Kích thước khối mã hoá: 64800 bit (hoặc 16200).
-    Tỷ lệ mã sửa sai: 1/4, 1/3, 2/5, 1/2, 3/5, 2/3, 3/4, 4/5, 5/6, 8/9, 9/10.



c.     Quá trình tạo khung (Frame):
    Truyền dẫn tín hiệu được tổ chức thành các khung nối tiếp nhau. Có thể hình dung các khung này như những toa tầu chở hàng nối đuôi nhau, Trên mỗi khung (toa tầu) gồm phần mào đầu-Header (H), trong mỗi Header chứa các bit đồng bộ và báo hiệu (điều chế, mã hoá...) và khối mã hoá mang thông tin (Code block). Với ACM quá trình bảo vệ có thể thay đổi từng khung một (16APSK, 8PSK, QPSK2/3…) tuỳ theo điều kiện truyền dẫn (trời nắng, có mây mù hay mưa…).



2.2. DVB-S2 truyền tải bất cứ định dạng dữ liệu nào.

- DVB-S2 có thể tiếp nhận dòng truyền tải đơn chương trình hoặc đa chương trình, dạng MPEG-TS hay dạng generic (ví dụ như IP...).
- DVB-S2 tương thích tốt với các loại mã hoá MPEG-2, HDTV cũng như các hệ thống mã hoá mới (như H.264AVC, VC1…).
-  Mỗi dòng tín hiệu đầu vào có thể được bảo vệ bằng các cách khác nhau. Khi qua hệ thống truyền dẫn DVB-S2, tín hiệu sau giải mã đúng như ban đầu.

3. Tại sao nên sử dụng DVB-S2?

    Sử dụng tiêu chuẩn DVB-S2 hiện là hướng đi hoàn thiện trong thực tế. Hoàn thiện ở đây muốn nói đến sự tiết kiệm đáng kể về dải thông, tăng hiệu quả công suất của quá trình truyền dẫn, được thiết kế với các tính năng tối ưu và yêu cầu tỷ số C/N thấp khi thu. 

3.1. Tăng dung lượng truyền dẫn trên cùng một băng thông.

    So sánh với tiêu chuẩn DVB-S trước đây với cùng điều kiện truyền dẫn: DVB-S2 có khả năng truyền dữ liệu lớn hơn tới 30% so với DVB-S trong cùng điều kiện băng thông [1]. Hay nói cách khác một tín hiệu truyền dẫn theo tiêu chuẩn DVB-S2 yêu cầu băng thông ít hơn 30% so với khi sử dụng tiêu chuẩn DVB-S. Đặc biệt khi ứng dụng điều chế, mã hoá VCM và ACM hiệu suất sử dụng băng thông tăng tương ứng 66% và 131% [4]. Điều này có nghĩa là giá thành thuê transponder sẽ thấp hơn.

3.2. Tăng hiệu quả công suất của quá trình truyền dẫn. 

    Sử dụng DVB-S2 còn làm tăng hiệu quả công suất của quá trình truyền dẫn. Trong vùng phủ sóng, một tín hiệu DVB-S2  yêu cầu thu được ở mức thấp hơn khoảng 2.5 dB so với một tín hiệu DVB-S trong cùng điều kiện bảo vệ lỗi. Ngoài ra, DVB-S2 còn có thể tương thích được bất kì đặc tính transponder vệ tinh với sự khác nhau lớn của các tần số phổ (từ 0.5 đến 4.5 bit/s trên một đơn vị băng thông) và yêu cầu về tỷ số C/N kết hợp (từ -2dB đến +16dB).
    Khi DVB-S2 được ứng dụng với các ứng dụng điểm-điểm như IP unicasting, gain của tín hiệu DVB-S2 còn lớn hơn DVB-S. Chức năng điều chế và mã hoá thay đổi (VCM) cho phép thực hiện điều chế và mức bảo vệ lỗi khác nhau để sử dụng hoặc thay đổi trên cơ sở từng frame một. Chức năng này còn có thể kết hợp với việc sử dụng kênh đường về (return channel) để đạt được điều chế mã hoá tương thích khoá vòng (closed-loop).
    Vì vậy các thông số truyền dẫn được tối ưu cho mỗi thuê bao riêng biệt phụ thuộc vào điều kiện đường truyền.    
    ACM cho phép sử dụng lại từ 4 đến 8 dB phần công suất thường dùng để dự phòng cho suy hao do mưa (clear sky margins) trong các truyền dẫn thông tin vệ tinh thông thường DVB-S. Do đó vùng phủ sóng vệ tinh tăng gấp 2 hoặc 3 lần dẫn tới giá thành dịch vụ giảm đột ngột.

3.3. DVB-S2 được thiết kế với các tính năng tối ưu.

    DVB-S2 đã được tối ưu cho các ứng dụng vệ tinh băng rộng như:

-  Các dịch vụ quảng bá: Truyền dẫn các chương trình SDTV hoặc HDTV.
- Các dịch vụ tương tác bao gồm cả truy nhập internet.
- Các ứng dụng chuyên nghiệp: phân phối tín hiệu truyền hình số tới các trạm phát hình số mặt đất, truyền số liệu và các ứng dụng chuyên nghiệp khác (DSNG, Internet Truncking, Cable Feeds…).

    DVB-S2 không bị hạn chế với kiểu mã hoá video và audio MPEG-2 mà có thể tương thích với các kiểu mã hoá MPEG-2, MPEG-4 và HDTV. Tiêu chuẩn này cũng mềm dẻo hơn khi chấp nhận bất kì dạng đầu vào, bao gồm dòng bit liên tục, dòng truyền tải MPEG đơn hoặc đa chương trình, IP hay ATM. Đặc tính này cho phép các dòng dữ liệu khác và các cấu hình dữ liệu trong tương lai có thể sử dụng được với DVB-S2 mà không cần tới một tiêu chuẩn mới.

3.4. Yêu cầu về tỷ số C/N thấp.

    Các mode truyền dẫn của DVB-S2 đòi hỏi tỷ số C/N khi thu thấp. Kết quả đạt được bởi mô phỏng máy tính trên kênh nhiễu trắng (Hình 4).



    Mối liên hệ giữa dung lượng kênh và băng thông của các kênh nhiễu trắng được xác định bởi công thức nổi tiếng do Shannon tìm ra, đó là:
    C  = W log2(1 + P/N)
    Se = C/W
    Trong đó:
    Se : Hiệu quả phổ (bit/s/Hz).
    C : là dung lượng kênh (bit/giây).
    W: là băng thông của kênh (Hz).
     P : là công suất máy phát (w).
     N: là công suất nhiễu (w).
    So sánh DVB-S2 với DVB-S chúng ta có thể thấy độ lợi (gain) dung lượng tốc độ bit của tín hiệu DVB-S2 đạt tới 25-35 % so với DVB-S (cùng tỷ số C/N và tốc độ symbol) tuỳ thuộc vào mode truyền dẫn và ứng dụng. DVB-S2 có tính linh hoạt rất lớn, nó có thể tương thích với bất kì đặc tính của transponder nào:  Hiệu suất phổ có thể đạt từ 0.5 đến 4.5 bit/s/Hz, C/N trong khoảng từ -2 đến +16 dB trong môi trường có nhiễu trắng.
    Nhìn trên hình 4, chúng ta thấy DVB-S2 chỉ còn cách đường giới hạn Shannon từ 0.7 đên 1 dB, điều này có nghĩa rằng với DVB-S2“Từ nay về sau, chúng ta sẽ không bao giờ phải thiết kế một hệ thống khác cho phát quảng bá vệ tinh” [2].

4. Mã sửa sai BCH & LDPC.

    Mã sửa sai kiểm tra độ ưu tiên cường độ thấp LDPC (low-density parity check code) là một lớp các mã khối tuyến tính tương ứng là một ma trận kiểm tra độ ưu tiên H. Ma trận H chỉ gồm các số 0 và 1 nằm rải rác. Điều đó có nghĩa rằng cường độ của các số 1 trong ma trận này rất thấp. Việc mã hoá được thực hiện bằng các phương trình biến đổi từ ma trận H để tạo ra các bit kiểm tra độ ưu tiên. Việc giải mã được thiết lập bằng cách sử dụng “các đầu vào mềm” (soft-inputs) kết hợp với các phương trình này để tạo ra các ước lượng mới cho các giá trị thông tin đã được gửi. Mã LDPC có thể loại trừ được các tầng lỗi. Để xác định được tầng lỗi, một mã phía ngoài (mã ngoại) được thêm vào trong công nghệ LDPC, đó là mã BCH. Mã ngoại BCH có hiệu quả với tầng lỗi thấp. Vì vậy, tổ chức DVB đã chọn phương pháp mã ngoại BCH và mã nội LDPC là  mã sửa sai của tiêu chuẩn DVB-S2.



5. Điều chế và mã hoá thay đổi VCM.

    Một đặc tính nổi bật của công nghệ DVB-S2  là các dịch vụ khác nhau có thể phát trên cùng một sóng mang. Mỗi dịch vụ vẫn giữ cấu hình điều chế và tỷ lệ mã sửa sai riêng. Đây là một kiểu ghép kênh trên lớp vật lý được gọi là điều chế và mã hoá thay đổi – VCM (Variable Coding and Modulation). VCM thực sự phát huy hiệu quả khi các dịch vụ khác nhau không cần tỷ lệ mã sửa sai giống nhau (chẳng hạn có thể chấp nhận mất một kênh thứ hai trong trường hợp fading do mưa) hoặc các dịch vụ khác nhau được chỉ định cho các trạm khác nhau trong những điều kiện thu thông thường khác nhau. 

6. Điều chế và mã hoá tương thích ACM.

    Hiện nay các dịch vụ DVB IP/Unicast cung cấp bởi vệ tinh sử dụng tiêu chuẩn DVB-S cho đường truyền dẫn. DVB-S được phát triển cho các ứng dụng quảng bá ở đó quá trình bảo vệ tín hiệu khi xuyên qua các lớp vật lý của bầu khí quyển đối với tất cả các dịch vụ là hằng số và nó không đổi suốt thời gian truyền dẫn (quá trình tối ưu đường truyền dẫn chỉ thực hiện cho trường hợp xấu nhất: dịch vụ tồi nhất, phút tồi nhất và vị trí tồi nhất).
    DVB-S2 sử dụng công nghệ ACM (Adaptive Coding and Modulation) cho phép điều chế và mã hoá sửa lỗi thích nghi tuỳ thuộc vào các điều kiện truyền dẫn: bầu trời trong xanh hay mưa, chảo thu nằm ở trung tâm hay ở mép của búp sóng (beam) phát từ vệ tinh...



    Mỗi đầu cuối DVB-S2 có thể hoạt động với một ngưỡng (margin) C/N rất thấp vì vậy làm tăng số lượng chương trình trên cùng một băng thông của vệ tinh.



    Hệ số khuếch đại (gain) của các bộ phát đáp trên vệ tinh ứng dụng ACM sẽ tăng lên khi tần số tăng (băng C, Ku và Ka). Do đó băng tần Ku và Ka thích hợp hơn cả với ACM. Băng Ka ít chật trội hơn vì thế nên sử dụng ACM.
    DVB-S2 thực hiện quá trình truyền dẫn thích nghi này với từng người sử dụng độc lập và chỉ với các dịch vụ điểm-điểm (hình 8). Tín hiệu được đưa vào điều chế ACM ở phía phát, truyền dẫn qua vệ tinh bằng DVB-S2.



    Tại phía thu, sau  giải điều chế có máy đo tỷ số C/N+I và truyền tín hiệu đo này về trung tâm điều khiển tốc độ bit để chuyển đổi kiểu truyền dẫn đường xuống với mức bảo vệ thấp (8PSK, FEC 5/6) khi trời nắng không có mây hoặc mức bảo vệ cao (QPSK, FEC 1/2) khi trời nhiều mây có mưa.

7. Hiệu quả của công nghệ DVB-S2 so với DVB-S.

    Để thấy được hiệu quả của công nghệ DVB-S2 so với DVB-S, ta xét ví dụ so sánh về số lượng các chương trình SDTV và HDTV được truyền dẫn bằng 2 công nghệ DVB-S và DVB-S2 trong cùng điều kiện công suất và băng thông vệ tinh (transponder 36 MHz): Chảo thu 60 cm; trường hợp thứ nhất sử dụng nén MPEG-2, tốc độ nén video là 4.4 Mbit/s với chương trình SDTV và 18 Mbit/s với chương trình HDTV; trường hợp thứ hai sử dụng nén video cao cấp Advanced Video Coding (AVC), tốc độ nén với chương trình SDTV là 2.2 Mbit/s và 9 Mbit/s với chương trình HDTV.
    Yêu cầu về tỷ số C/N của hai hệ thống DVB-S và DVB-S2 là bằng nhau trong việc khai thác các mode truyền dẫn khác nhau và trong quá trình vi chỉnh hệ số roll-off, tốc độ symbol của hệ thống DVB-S2. Kết quả kiểm chứng cho thấy độ lợi về dung lượng của hệ thống DVB-S2 so với DVB-S là khoảng 30 %. Hơn nữa bằng việc kết hợp hệ thống DVB-S2 với mã hoá AVC (H.264/AVC hoặc VC1…), mỗi transponder 36Mhz của vệ tinh có thể truyền dẫn 21-26 kênh SDTV, hoặc 5-6 chương trình HDTV trên một Transponder. điều này sẽ làm giảm giá thành thuê trên một kênh của vệ tinh.



8. Kết luận.

    DVB-S2 là tiêu chuẩn mới nhất trong hệ thống tiêu chuẩn DVB cho các ứng dụng vệ tinh băng rộng, với hiệu suất sử dụng băng thông tăng từ 30% đến 131% so với công nghệ DVB-S hiện nay. Công nghệ này thực sự là bộ công cụ hữu hiệu cho các dịch vụ tương tác qua vệ tinh.
    Tổ chức DVB không cho rằng DVB-S2 sẽ thay thế DVB-S trong một thời gian ngắn trong lĩnh vực quảng bá truyền hình thông thường. Hàng triệu bộ giải mã DVB-S đang hoạt động tin cậy và đóng góp vào những thành công của thương mại vệ tinh số trên toàn cầu. Các ứng dụng mới đã được dự tính phát qua vệ tinh như truyền dẫn HDTV và phân phối các dịch vụ dựa trên nền IP sẽ thực hiện hiệu quả dựa trên hệ thống DVB-S2.     Việc kết hợp DVB-S2 và cấu hình mã hoá video và audio mới (ví dụ như H.264/AVC/VC-9) có thể phát 21-26 chương trình SDTV hoặc 5-6 chương trình HDTV trên một transponder 36Mhz. Trong các ứng dụng truyền dẫn chuyên nghiệp, DVB-S2  có khả năng cung cấp điều chế và mã hoá tương thích (ACM), tính năng này có hiệu quả lớn với các dịch vụ điểm-điểm như là các trạm DSNG nhỏ. Trong các ứng dụng mới này, hệ thống DVB-S2 sẽ làm được những điều mà hệ thống DVB-S không thể làm được. Hiện nay, DVB-S2 đang được ứng dụng phát thử nghiệm truyền hình có độ phân giải cao HDTV tại Châu Âu trên 2 vệ tinh ASTRA và EUTELSAT. Theo kế hoạch trong World Cup 2006 diễn ra tại Đức và Thế vận hội OLYMPIC 2008 diễn ra tại Trung Quốc các chương trình thi đấu tại các đại hội này sẽ được truyền dẫn bằng HDTV tại Châu Âu sử dụng công nghệ DVB-S2.

Thứ Hai, 30 tháng 4, 2012

FOMA

FOMA (viết tắt của Freedom of Mobile Multimedia Access) là thương hiệu của dịch vụ viễn thông 3G dựa trên công nghệ W-CDMA đang được phát triển bởi nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động Nhật Bản NTT DoCoMo. Nó được xây dựng theo Hệ thống viễn thông di động toàn cầu (UMTS) và là dịch vụ điện thoại di động mang tính thương mại đầu tiên trên thế giới ứng dụng truyền thông di động 3G.
NTT DoCoMo cũng cung cấp dịch vụ HSPA gọi là FOMA High-Speed (Nhật: FOMAハイスピード?), trong đó tốc độ đường truyền tải xuống lên đến 7,2 Mbit/giây tốc độ tải lên lên đến 5,7 Mbit/giây

Trước đây mình cứ nhầm là HSPA ( gồm HSDPA và HSUPA) chỉ hỗ trợ cho WCDMA UMTS, giờ mới biết FOMA cũng được hỗ trợ

Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2012

Mạng cảm biến và công nghệ thực phẩm

Thực phẩm là nhu cầu thiết yếu của mọi người, khác với các sản phẩm khác, tất cả mọi người đều phải sử dụng chúng hàng ngày, và chất lượng của chúng ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ của người tiêu dùng. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều vấn đề tồn tại trong ngành gây ra hàng loạt các vụ bê bối khiến cho người tiêu dùng hoài nghi về chất lượng của các sản phẩm thực phẩm hơn.
 1.     Những vụ bê bối trong công nghiệp thực phẩm 
Bắt đầu từ khâu sản xuất, khi tìm ra chất dioxin, nguyên nhân gây bệnh ung thư có trong thức ăn cho gia súc buộc chính phủ Bỉ phải chính thức ban hành lệnh cấm: thịt lợn, thịt bò, gà và các sản phẩm từ trứng vào năm 1999, và trang trại Irish Oyster bị buộc đóng cửa sau khi tìm thấy virut Norwalk-like nguyên nhân làm bùng nổ bệnh viêm dạ dày tại Hồng Kông. Vấn đề  không dừng lại đó, khi các nhà phân phối cũng chính thức bị buộc tội trong một vài vụ bê bối, vào năm 2002, NorgesGruppen, công ty chuyên bán buôn và bán lẻ hàng đầu trong ngành thực phẩm tại Nauy, đã có một tiếng xấu khi tìm thấy 5 trong số nhiều siêu thị đang bán thịt quá hạn. Một trong số đó đã bị loại bỏ sau khi thanh tra y tế đã tìm thấy các nhân viện cửa hàng cách đã làm lượng thịt từ các sản phẩm hết hạn. Thiệt hại mà các vụ bê bối mang lại không còn là hàng tỷ Euro mà còn đánh mất lòng tin của người tiêu dùng.
Ngày nay, người tiêu dùng luôn cảnh giác hơn với những gì họ mua và sử dụng. Ngay cả  công ty, nhà cung cấp dường như không liên quan tới các vụ bê bối cũng buộc phải điều chỉnh. Các chuyên gia ẩm thực thực sự lo lắng khi niềm tin của người tiêu dùng càng ngày giảm sút, và thực sự cần phải có một khuôn khổ về pháp lý trong ngành công nghiệp thực phẩm để bảo vệ người tiêu dùng. Chính vì vậy, hiệp hội các nước châu âu đã đưa ra nhiều khung pháp lý về sản phẩm thực phẩm, mức độ cho phép của các chất màu và dioxin trong thực phẩm trong những năm gần đây. Cần lưu í rằng các quy định đó áp dụng trực tiếp vào nhiều khâu trong chuỗi thực phẩm: trồng trọt, sản xuất, vận chuyển, và phân phối.
Những sai sót, thiếu cẩn thận, thiếu trách nhiệm và gian lận của con người chính là nguyên nhân của các vụ bê bối đó. Cảm biến thông minh không dây đưa ra giúp ngăn chặn  những thiếu sót đó và cho một cách quản lý hợp lý. Bằng cách áp dụng cảm biến thông minh giúp phát hiện mầm mống gây bệnh, vi khuẩn, và những tác nhân tiềm tàng có thể gây bệnh do hành động sơ xuất và thiếu trách nhiệm. Mặt khác, với những vị trí lắp đặt của cảm biến giúp các thanh tra thực phẩm và y tế có thể tóm gọn những hành động thiếu đạo đức.
2. Ứng dụng khoa học vào công nghệ thực phẩm. 
Một câu hỏi đặt ra: bằng cách nào nền công nghiệp thực phẩm đưa ra các hệ thống thông tin cho người sử dụng một cách dễ dàng?
Thông thường các thông tin có được chủ yếu từ những hoạch định nguồn lực của doanh nghiệp. Tuy nhiên, gần đây các công ty đã bắt đầu sử dụng các thiết bị di động như là PDAs và công nghệ không dây như là 802.11 để cung cấp các giải pháp tìm kiếm nguồn gốc và phân phối trong các lĩnh vực khác nhau như tìm nguồn gốc và phân phối. Đáng chú ý là việc kết hợp phần mềm quản lý chu kỳ sống của sản phẩm với RFID làm tăng lợi ích của phần mềm và cho một địa chỉ thực phẩm an toàn. Và phần mềm ERP được thiết kế cho quản lý hoạt động trong kinh doanh.
Tuy nhiên, thực sự không đủ cho ngành công nghiệp khi bất kì một quá trình xử lý thực phẩm đều phụ thuộc vào các nhà cung cấp và môi trường bên ngoài. Và những nhiệm vụ then chốt trong sản xuất thực phẩm vẫn tiếp tục thực hiện bằng tay: người nông dân vẫn dùng dụng cụ đo nhiệt độ bằng tay trên các cánh đồng thay vì sử dụng các cảm biến nhiệt độ, và các nhà khoa học vẫn sử dụng các thiết bị cầm tay để kiểm tra sự của các chất gây ô nhiễm. Công nghệ di động là một nhân tố quyết định trong việc cung cấp một giải pháp phần mền tự động hóa cho công nghệ thực phẩm, hiện nay các giải pháp chỉ cung cấp lương thực thực phẩm bằng nhãn và nhãn mác của sản phẩm. Vấn đề cốt lõi là cần một hệ thống theo dõi thực sự tốt để có thể kiểm tra thực phẩm, song điều đó là chưa đủ trong khi hiện nay những thực phẩm đó vẫn chưa được ngăn chặn. Cảm biến thông minh cung cấp địa chỉ an toàn trở thành một vấn đề sống còn.
3.     Mạng cảm biến thông minh 
Khả năng ứng dụng hệ thống cảm biến thông minh đã thay đổi phạm vi ứng dụng từ vườn nho cho tới các thiết bị chính. Khả năng giao tiếp giữa hệ thống cảm biến thông minh với các hệ thống khác đã được trích dẫn trong cuốn Hac (thiết kế mạng cảm biến không dây) ở đó  Bluetooth được đưa ra như một chuẩn giao tiếp giữa các cảm biến. Một phương án khả thi là đưa ra một chuẩn phù hợp với những sản phẩm thiết bị điện nhỏ hơn như điện thoại di động, máy ảnh kỹ thuật số một điều có thể mong đợi.  Ngoài ra, công nghệ không dây Zigbee đưa ra giải quyết vấn đề giao tiếp giữa các cảm biến nội bộ.

Nguồn: Tạp chí tự động hóa ngày nay
Giao diện bên ngoài cung cấp bởi Crossbow cho phép cảm biến giao tiếp với các thiết bị điện khác như PCs, máy tính xách tay và PDAs. Một dữ liệu nào từ các thiết bị đều có thể truyển đến một mạng bất kì. Hỗ trợ cung cấp cho các phát hiện này truyền dữ liệu thông qua Java API cung cấp bởi diễn đàn TinyOS mã nguồn mở. Mạng lưới các cảm biến đã được thừa nhận như một sự phần hình thành nhanh chóng của công nghiệp công nghệ. Một phần lý do là ứng dụng rộng rãi của nó.
4. Mạng cảm biến thông minh và công nghiệp thực phẩm 
Lợi ích tăng lên 1 bậc được khi chứng minh bằng việc sử dụng cảm biến cho phát hiện sinh vật học và xúc tác hóa học. Không nghi ngờ an toàn là một vấn đề cấp bách và ứng dụng rõ ràng của mạng cảm biến đặc biệt sự phát hiện chất gây ô nhiễm trong chuỗi cung ứng thực phẩm. Năm 1999, cuộc khủng hoảng Bỉ đã có thể chắc chắn ngăn chặn được nếu thực sự tồn tại công nghệ phát hiện dioxin trong sản phẩm từ thức ăn của động vật.
Việc xem xét kĩ lưỡng nguồn EU rõ ràng là một điều cần thiết, chính vì vậy EU đã áp đặt nhiệm vụ nặng nề lên các nhà sản xuất thực phẩm. Một yêu cầu then chốt cho sản xuất là qui định số 178/2002(cộng đồng các nước châu Âu) yêu cầu các nhà sản xuất giữ các bản ghi chép một cách chi tiết trong quá trình cung cấp chuỗi thực phẩm.
Xung quanh các yêu cầu ghi nhãn và mã vạch cho một lô sản phẩm và có thể dễ dàng thu hồi đối với những sản phẩm có vấn đề. Không chỉ tốt cho những người tiêu dùng, nó còn tốt cho những nhà sản xuất và người bán lẻ khi sản phẩm có thể bị thu hồi trong kiểu cách đúng lúc hơn. Đó là điểm then chốt luật pháp không có nhiệm vụ công khai các sản phẩm thu hồi nếu quá trình đó xảy ra trước khi sản phẩm đưa ra thị trường vì vậy các công ty có thể ngăn chặn những quảng bá quảng bá thất bại và hủy hoại danh tiếng của họ.
Tuy nhiên, đó là những vấn đề với nhãn mác và mã vạch cái có thể làm giảm hiệu quả của họ. Mã vạch và nhãn mác là những vạch ngắn và có thể không đọc được nếu chúng bị phá hủy hoặc bị bẩn và một giải pháp đưa ra là sử dụng nhãn RFID. Nhãn RFID về cơ bản là cảm biến có chứa một ID cho sản phẩm hoặc một lô sản phẩm. Nhãn có phạm vi dài và từ khi chúng ta có công nghệ radio có thể gắn lên chất dẻo. Tất nhiên, từ khi chúng ta cảm nhận chúng có thể là một phần của  mạng lưới cảm biến. Roberti giải thích tại bằng cách nào hải quân Mỹ đã sử dụng RFID như một phần mạng lưới cảm biến cho việc giáp sát áp suất, nhiệt độ và độ ẩm vận chuyển các bộ phận của máy bay bằng contener. Điểm nổi bật của Roberti cũng có thể cung cấp cho công nghiệp thực phẩm. Rất nhiều sản phẩm yêu cầu theo dõi khắp nơi trong chuỗi cung ứng thực phẩm. Điều này không chỉ là việc tuân thủ các mục đích nhưng cũng để chắc chắn cơ quan bảo vệ chất lượng yêu cầu cho người bán lẻ được đáp ứng. Ví dụ, chuỗi làm lạnh đòi hỏi việc làm lạnh sản phẩm là nhà kho với nhiệt độ không đổi từ khâu phân phối cũng như bảo quản sản phẩm. Đặc điểm của mỗi một lô sản phẩm được kiểm tra bởi những người bán lẻ khi hàng đến nơi và bị loại bỏ nếu không được bảo quản đúng theo nhiệt độ yêu cầu. Đến nay, chỉ giải quyết các vấn đề của nhiều các công ty nhỏ đã đưa ra hướng dẫn định kỳ đọc nhiệt độ. Với sự ra đời của mạng cảm biến là hiện tại có thể đưa ra một giải pháp sản xuất theo đó là sự thông báo gần như ngay lập tưc nếu nhiệt độ không thành công các thông số bên ngoài có thể chấp nhận được .
5. Mạng cảm biến và những người trồng trọt 
Các công ty chế biến thực phẩm chỉ là một phần trong công nghiệp thực phẩm và mạng cảm biến không chỉ là các nhà sản xuất mà những người trồng trọt cũng có yêu cầu tương tự. Một ví dụ tiêu biểu là mạng cảm biến áp dụng trong việc trồng nho nhờ công nghệ vi mô của trung tâm nghiên cứu hợp tác Australia và Motorola đã có vườn nho thông minh. Nhờ hệ thống mà yếu tố cần thiết cho người trồng trọt như: tốc độ và hướng gió, nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm không khí, độ ẩm đất trồng, tình trạng ẩm ướt của lá đã được cảm biến đo đạc nhờ đó đã đem lại lợi ích rất lớn cho người trồng nho khi có thể điều chỉnh các yếu tố quyết định trong chất lượng rượu vang.
Như vậy vai trò của hệ thống là rất lớn, không chỉ đem lại thông tin chính xác giúp cho người trồng có thể giám sát cây trồng mà còn giải quyết vần đề các tác nhân xấu như là rệp, sâu bọ, côn trùng hút chất từ quả nho, kết quả sự thối rữa của cây.
Nhờ tính chất phổ biến của truyền dẫn sóng radio trong mạng cảm biến cũng rất quan trọng. Chính vì thế vấn để áp dụng cảm biến trở nên dễ dàng hơn chỉ cần chúng trong phạm vi cần thiết. Một lợi thế nữa đó là giá cả. Cảm biến khí hậu thông thường rất đắt chính điều đó đã hạn chế việc sử dụng chúng từ phần lớn người trồng và sau đó là việc áp dụng trong qui mô nhỏ.
Đặc điểm trên hết của mạng cảm biến không chỉ hữu ích cho những người trồng nho. Bất kỳ người trồng loại hoa quả nào như: ngũ cốc, rau và cây củ cải cũng có nhu cầu tương tự. Chính vì vậy, khả năng ứng dụng của mạng cảm biến ngày càng được mở rộng .
Tuy nhiên, hiện nay các vấn đề theo dõi các cánh đồng hiện tại được điều khiển bằng tay và có phần nền tảng đặc biệt. Đôi khi, đó là những vấn đề phức tạp đem đến những yêu cầu đặc biệt trên cánh đồng. Việc trồng nấm là một ví dụ, có rất nhiều yêu cầu đặc biệt trong nhóm ánh sáng, nhiệt độ và luồng khí và phải được đo bằng tay những thuộc tính của chúng. Việc triển khai mạng lưới các cảm biến thông minh đã làm tăng hiệu quả rất lớn trong quá trình trồng.

6.1 Mạng cảm biến trong sản xuất rượu vang
Việc triển khai dễ dàng và nhanh chóng nhất của mạng cảm biến là trong công nghiệp sản xuất rượu vang. Tuy nhiên, đó có những thành công khác, như bằng cách nào cánh đồng nho Pickberry tại Sonoma, California đã có thể quản lý vấn đề phát triển cây trồng của mình thông qua việc sử dụng mạng cảm biến cung cấp bởi Accenture Labs. Từ viễn cảnh của việc trồng nho cảm biến có thể đước sử dụng để theo dõi độ ẩm  của đất trồng, lượng mưa, vận tốc và hướng gió, và không khí và nhiệt độ của đất. Việc theo dõi các nhân tố có thể quyết định giá thành quản lý cho vườn nho.Ví dụ, phát hiện có sương ngay lập tức các cách ngăn ngừa sự mất mát của cây trồng. Tất cả trở nên quan trọng hơn khi điều đó mang lại cho Pickberry, giá một tấn nho có thể từ 1000-4000$ US .
Tuy nhiên, trong khi tất cả tập trung vào việc sử dụng mạng cảm biến cho việc trồng nho, đó chỉ đơn thuần là một giai đoạn trong quá trình sản xuất rượu vang bằng cách sử dụng cảm biến thông minh có thể đóng một vai trò vô cùng quan trọng.
Ví dụ, nhiệt độ phải được điều khiển hòa toàn trong quá trình sản xuất rượu vang. Điều này là để cho nấm men bám vào nho nó có thể ăn trên đường đi sản xuất rượu- muốn có rượu trắng nhiệt đỏ phải từ 15 -20°C quá trình lên men, muốn có rượu vang đỏ men đòi hỏi nhiệt độ từ 25-30°C. Hơn nữa, để điều chỉnh quá trình lên men quá trình có sự xuất hiện của SO2 phải được thêm vào nhưng điều được kiểm tra phù hợp với hướng dẫn của các nước châu Âu. Cảm hiến thông minh có thể đóng một vai trò rõ ràng trong quá trình lên men được hay không điều đó là nhiệt độ hoặc giám sát SO2. Tuy nhiên, hai ví dụ trên là một trong nhiều khả năng sử dụng mạng lưới cảm biến trong sản xuất rượu vang và cảm biến thông minh đóng vai trò trong mọi công đoạn từ phát hiện axit Maclic tới tannins.
Công đoạng cuối cùng trong quá trình sản xuất tất nhiên là lưu trữ. Một lần nữa cảm biến được sử dụng trong hầm chứa rượu. Sự triển khai cảm biến một cách ngẫu nhiên cũng đã có tiềm năng sử dụng cho việc phát hiện cái gì là thường được gọi là ‘corkage’ (tiếp xúc không khí với rượu nho không thể thiếu việc đóng nút chai) trong chai hoặc mẻ rượu mang.
6.2 Mạng cảm biến trong chuỗi làm lạnh
Một nhiệm vụ khó khăn nhất cho ngành công nghiệp thực phẩm là làm sản xuất thực phẩm đông lạnh, cụ thể là thịt và thịt gia cầm. Nhiệt đô phải được duy trì ở mức độ không đổi từ đầu quá trình cho đến cuối cùng trưng bày bởi người bán lẻ. Tuy nhiên, chuyển bước từ sản xuất tới việc bán, ngày nay điều này đã trở thành điều phiền hà mặc dù đó là yêu cầu cốt lõi để có được sản phẩm đông lạnh tốt. và vấn đề giới hạn về tiền bạc đầu tư cho dây truyền làm lạnh. Liên quan chặt chẽ việc làm lạnh ban đầu để loại bỏ nhiệt từ thịt cho đến khi nó có thể được chế biến hoặc được vận chuyển.
Tuy nhiên, nơi có sự khác biệt đáng chú í nhiệt độ bề mặt của thịt và nhiệt độ sâu bên trong. Trước đây sản phẩm làm lạnh được cắt, băm, bọc hoặc chế biến sau đông lạnh phải mang đến một nơi khác để đảm bảo độ tươi sống cho sản phẩm một lần nữa tại nhiệt độ không đổi trong suốt quá trình vận chuyển.
Những cuộc nghiên cứu đã chỉ ra rằng làm lạnh sơ cấp và thứ cấp là vấn đề quan trọng cho việc duy trì thời gian bảo quản. Trong cuộc nghiên cứu nó đã chỉ ra rằng việc đóng gói thịt bò trong chân không cho kết quả bình quân 25% thời gian sử dụng, 2 tuần thay vì 8 tuần. Đó là lý do một số nhà máy bao gồm việc chở thịt trong vận chuyển ở nhiệt rất cao và không hoàn toàn lạnh trong hộp thịt do sự chuyển động của không khí ít.
Đó rõ ràng là một cơ hội cho mạng cảm biến trong việc làm lạnh sơ cấp và thứ cấp, không chỉ theo dõi nhiệt độ mà còn theo dõi dòng khí. Hiện nay, mặc dù ý định tốt nhất của các nhà sản xuất vấn có thể xảy ra lỗi rất cao. Không chỉ là rủi ro cho người tiêu dùng nhưng nó cũng gây lãng phí nếu hạn sử dụng giảm đi ¼  độ tươi.
Làm lạnh sơ cấp và thứ cấp được làm tại các nhà máy nhưng không chỉ có 2 bước trong chuỗi. Việc làm lạnh khi vận chuyển, nhiều hàng hóa quy định sự phân bố không khí một cách tương xứng. Nó có thể được chú ý khi các đơn vị làm lạnh không làm lạnh thực phẩm. Thay vào đó họ duy trì ở nhiệt độ mà tại đó họ đã được nạp trước. Điều đó tương tự yêu cầu cho tắt nguồn lạnh, trung tâm phân phối, trung tâm và người bán buôn và tất nhiên người bán lẻ .
Trong khi làm lạnh sơ cấp và thứ cấp là trách nhiệm nhà quản lý, bản chất của sản xuất là không có sự điều khiển một hàng hóa. Cuối cùng thì, bất kì một lỗi trong chuỗi làm lạnh sẽ phá hủy danh tiếng của nhà sản xuất thực phẩm đông lạnh thậm chí ngay cả khi lỗi đó do người thứ 3. Tuy nhiên, sự ủy nhiệm của người sử dụng của mạng cảm biến để theo dõi nhiệt độ và dòng chảy không khí trong những bước khác nhau trong quá trình xử lý có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc theo dõi chất lượng của thực phẩm và có thể giúp ngăn chặn hàng hóa bị hỏng trước khi đến tay người tiêu dùng.
7. Những đòi hỏi trong hệ thống công nghiệp thực phẩm 
Công nghiệp thực phẩm bao gồm xử lý rất phức tạp và có nhiều chi tiết được quy định. Sự tương phản là một phần hệ thống thông tin muốn phần mền thật sự dễ dàng cho người sử dụng. Bất kì cảm biến trong hệ thống cũng điều hướng tới công nghiệp thực phẩm sẽ triển khai dễ dàng. Quá trình xử lý thực phẩm đã không chú ý đến cấu trúc của cảm biến, giao diện của chúng và phần mềm attendant cho việc phân tích dữ liệu. Hệ thống phải làm việc theo đúng nghĩa “ ra khỏi hộp”. trong khi điều đó được thừa nhận là một mục tiêu khó khăn cho bất kì công nghệ nảy sinh, đó là vấn đề quyết định cho sự thành công của hệ thống mạng cảm biến trong công nghệ thực phẩm. Tuy nhiên, vấn đề triển khai là một thách thức, cảm biến giám sát đo đạc thông minh yêu cầu thực tế. Đo lường mang tính quyết định như nhiệt độ, tốc độ gió, độ ẩm, thực sự đã được phục vụ cho và có rất ít trong đó là mới. Mở ra một đề tài nghiên cứu sự phát triển của cảm biến là khả năng đo đạc các thành phần đặc biệt hoặc dặc trưng về số lượng hoặc phần trăm chứ không chỉ là phát hiện sự tồn tại của chất đó. Ví dụ nó không chỉ sử dụng có hay không đá vôi trong đất mà còn cho kết quả phần trăm đá vôi trong đất. Tương tự , thực phẩm nhiễm dioxin như sữa  không thể  được thử bằng cảm biến thông minh ngay lúc đó, các thông tin quan trọng cho chương trình đảm bảo chất lượng và phải được thực hiện hầu hết bằng tay cho phần lớn các bộ phận.
Điểm quan tâm khác về công nghiệp thực phẩm là nó sử dụng tương đối ít các phần mền và tương đối chung. Tín hiệu từ một cảm biến bất kỳ trong mạng phải chuyển đổi dễ dàng cho phần mền thứ ba như MS Excel và SAP. Do đó, bất kỳ một hệ thống nào cũng ở trạng thái mở và dễ dàng sử dụng hoặc thậm chí có chức năng tự động xuất sang phần mềm khác.
8. Kết luận
Mạng cảm biến có vô số khả năng sử dụng. Công nghệ thực phẩm mang đến nhiều cơ hội cho cả những nhà cung cấp phần mền và phần cứng dựa vào nó cần phần mền cho việc theo dõi phù hợp, mạng cảm biến bao gồm rất nhiều cảm biến thông minh có thể hoạt động
Tuy nhiên, sử dụng hệ thống rất phức tạp và khó khăn, nếu không cẩn thận sẽ không thành công trong ngành công nghiệp này và cũng sẽ “đóng cửa” hệ thống khi gặp khó khăn trong việc xuất, xử lý và phân tích dữ liệu.
Nguồn: Tạp chí tự động hóa ngày nay

Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2012

Kết hợp mạng adhoc và mạng tế bào

Ở trên lớp mình thày cũng có đề cập đến mạng kết hợp cả 2 loại này:

Ở những nơi có mạng lưới ổn định thì dùng cơ sở hạ tầng (độ đảm bảo và ổn định cao hơn, phổ biến hơn và tiết kiệm pin hơn vì thiết bị không cần đóng vai trò trạm trung gian cho thiết bị khác), khi cần giảm tải cho mạng thì thiết bị di động có thể hỗ trợ hoặc khi cơ sở hạ tầng chưa đến nơi thì ngoài vùng phủ sóng vẫn có khả năng các máy hình thành được một mạng ad hoc nho nhỏ, nếu 1 vài nút mạng ad hoc có kết nối được với mạng chính thì các nút khác dù ngoài mạng cũng có thể multihop đến mạng chính.
Còn nếu không thì ít ra cũng có thể liên lạc đến các phạm vi trong mạng ad hoc đó (trong một bản làng, trong một đảo, hay một tàu thuyền mà không được phủ sóng tới và cũng xót tiền đóng cước điện thoại vệ tinh ^_^).
Ngoài ra khi thiên tai địch họa thì cơ sở hạ tầng cũng sập, ad hoc sẽ giữ vai trò to lớn và linh hoạt.

Hiện giờ cả 2 mạng đều có, tuy nhiên một thiết bị tích hợp hai loại hình mạng và một mạng tích hợp hai loại hình truyền có vẻ như là chưa thấy, nhưng rất có thể là xu hướng của tương lai.

Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2012

Mạng lưới không dây (Wireless Mesh Network)

Hệ thống mạng Wi-Fi phổ thông thường không được doanh nghiệp (DN) chọn làm phương tiện kết nối chính trong quy trình hoạt động do một số nguyên nhân về chi phí, vùng phủ sóng. Lời giải cho bài toán không dây trong DN có thể là công nghệ mạng lưới không dây (Wireless Mesh Network).

Sóng Wi-Fi chưa ổn định

Sóng của mạng không dây Wi-Fi - thực chất là sóng radio, thường yếu dần khi khoảng cách giữa trạm phát và máy tính kết nối cách xa nhau. Sóng Wi-Fi cũng bị yếu khi gặp vùng nhiễu hoặc các vật cản. Thông thường các thiết bị truy nhập Wi-Fi được trang bị hệ thống an-ten đa hướng (omni-directional antennas). Các an-ten này được thiết kế để truyền và nhận sóng từ mọi hướng và mọi thời điểm. Nếu một điểm phát sóng(Access Point - AP) giao tiếp với một người dùng (user) tại vị trí cụ thể, các nguồn nhiễu xung quanh sẽ ảnh hưởng đến khả năng truyền sóng, từ đó làm giảm tốc độ truyền cũng như độ ổn định của kết nối.




Hình 1.

Trong các môi trường văn phòng với nhiều vách ngăn và các thiết bị phát từ gây nhiễu, mức độ phủ sóng và khả năng duy trì kết nối của một AP có thể giảm, làm giảm hiệu suất truyền dữ liệu. Và hệ quả là trong phần lớn các DN đều tồn tại một hệ thống cáp mạng kết nối đến từng bàn làm việc, nhằm đảm bảo quá trình làm việc không bị gián đoạn.

Tuy nhiên, hệ thống mạng hữu tuyến này cũng có những khuyết điểm nhất định. Có thể thấy rõ nhất là hệ thống này thiếu tính linh hoạt về số lượng user và vị trí của máy tính được nối mạng. Việc thiết lập thêm kết nối hữu tuyến cho user mới sẽ làm tiêu tốn nhiều thời gian và công sức của nhân viên quản trị mạng. Ngoài ra, nhằm đảm bảo yêu cầu thẩm mỹ, cáp mạng thường được đi âm trong tường hoặc dưới sàn, từ đó dẫn đến chi phí phụ trội nếu có nhu cầu điều chỉnh hay sửa chữa.

Tăng hiệu suất mạng

Đối với một số nhóm ngành dịch vụ đặc biệt như giáo dục, y tế hay du lịch, việc thiết lập một hệ thống mạng hữu tuyến cho toàn bộ user là hầu như không thể thực hiện được. Nhóm người truy cập của các loại hình dịch vụ này thường có yêu cầu kết nối linh động về số lượng và vị trí ở mức cao. Lời giải cho bài toán này là hệ thống mạng lưới không dây Wireless Mesh Network, kết hợp với khả năng điều tiết kết nối chủ động dựa trên công nghệ định hướng tại từng AP.

Trong Wireless Mesh Network, khái niệm “định hướng” có thể diễn giải thành hai phần. Đó là sử dụng an-ten phát sóng có định hướng đến user trong từng AP, đồng thời sử dụng nhóm các AP tự động định tuyến với nhau trong cùng hệ thống mạng. Mục đích chính của công nghệ này nhằm tối ưu hóa khả năng kết nối giữa AP và user, cũng như thiết lập kết nối không dây tối ưu giữa các AP với nhau, từ đó giảm số lượng AP cần thiết và tiết kiệm chi phí cho DN.

Để định hướng đến user, các AP thông minh (SmartAP) trong hệ thống Wireless Mesh Network có cấu tạo tích hợp hệ thống “an-ten rắn” với nhiều thành tố an-ten khác nhau, có khả năng kết hợp thành nhiều dạng thức an-ten chuyên biệt (antenna patterns). Các dạng thức này cho phép SmartAP tập trung tín hiệu radio hướng trực tiếp đến từng user, thay vì phát tán trên một vùng rộng như mô hình AP truyền thống. Điều này cũng tương tự như việc tập trung ánh sáng thành luồng của đèn pin so với phát tán ánh sáng của bóng đèn tròn. (Xem hình 1)

Các AP sẽ tự thu thập mô hình tất cả các đường đi đến các user kèm theo hiệu suất, chủ động. Sau đó, AP sẽ định hướng đường truyền tối ưu và dạng thức an-ten được sử dụng để kết nối với từng user. Nếu do một nguyên nhân nào đó, đường truyền lựa chọn bị suy yếu, hệ thống sẽ tự động chuyển sang một đường truyền khác tốt hơn. Thậm chí, nếu cần thiết có thể tự chủ động đổi AP cho user. Bằng cách này, mạng lưới Wi-Fi có thể xác định đường truyền vòng để tránh nhiễu và đảm bảo hiệu suất kết nối cũng như tầm phủ sóng ổn định. (Xem hình 2)




Hình 2.

Mạng cục bộ linh hoạt

Còn giữa các AP trong hệ thống Wireless Mesh Network, quá trình kết nối cũng được thực hiện qua đường truyền Wi-Fi, hoàn toàn không sử dụng cáp nối. Do đó, gần như không có giới hạn về điều kiện địa hình như cách kết nối bằng cáp thông thường, và chỉ cần có nguồn cung cấp điện. Mô hình này rất phù hợp với các DN trong lĩnh vực du lịch, hoặc các DN có văn phòng làm việc quy mô lớn.

Bằng việc ứng dụng công nghệ tự định tuyến tại các AP, hệ thống Wireless Mesh Network sẽ có khả năng tự động thiết lập, tối ưu hóa và khắc phục lỗi. Các AP sẽ liên tục cập nhật lượng thông tin có khả năng truyền dẫn được (throughput) về một Root AP (AP gốc) được lựa chọn. Khi xảy ra tình trạng AP bị lỗi, toàn mạng sẽ tự động điều chỉnh mô hình để định tuyến lưu lượng đi vòng qua AP lỗi này, tiếp tục duy trì khả năng kết nối ổn định của toàn mạng. (Xem hình 3)

Khả năng tự xác định lại mô hình kết nối giữa các AP cũng cho phép không chỉ các user trong vùng phủ sóng có thể di chuyển, mà các AP cũng có thể chuyển đổi vị trí. Do đó, nếu DN xác định thiết lập một AP cụ thể cho một phòng ban, khi di chuyển địa điểm hoặc tiến hành tái cấu trúc sẽ không cần chỉnh sửa, họ chỉ cần khởi động hệ thống là các AP sẽ tự động xác định lại mô hình kết nối tối ưu



Hình 3.

Hiện bản quyền sáng chế mảng an-ten định hướng thông minh trong AP và phần mềm điều khiển hướng sóng đang thuộc sở hữu của Ruckus Wireless.

Nguồn : google.com.vn

Thứ Năm, 26 tháng 4, 2012

Băng tần không cần cấp phép (IMS)

ISM là viết tắt của Industrial, Scientific and Medical (công nghiệp, khoa học và y tế)

Băng tần ISM ban đầu được dành cho các thiết bị năng lượng tần số vô tuyến không có chức năng thông tin liên lạc, chẳng hạn như lò vi sóng, lò sưởi tần số vô tuyến và các mục đích tương tự. Tuy nhiên trong những năm gần đây, các băng tần này được sử dụng nhiều nhất cho các hệ thống thông tin tần số thấp tầm ngắn, những người sử dụng không cần phải có giấy phép sử dụng tần số do chính quyền cấp. Điện thoại cố định không dây, các mạng vi tính không dây, thiết bị Bluetooth và bộ phận mở cửa ga-ra, tất cả đều sử dụng băng tần ISM. Các thiết bị ISM không có quy định chống lại nhiễu từ những người sử dụng khác trong băng tần.


The ISM bands defined by the ITU-R are (bands in italics are subject to local acceptance):

* 6.765–6.795 MHz (centre frequency 6.780 MHz)
* 13.553–13.567 MHz (centre frequency 13.560 MHz)
* 26.957–27.283 MHz (centre frequency 27.120 MHz)
* 40.66–40.70 MHz (centre frequency 40.68 MHz)
* 433.05–434.79 MHz (centre frequency 433.92 MHz) in Region 1
* 902–928 MHz (centre frequency 915 MHz) in Region 2
* 2.400–2.500 GHz (centre frequency 2.450 GHz)
* 5.725–5.875 GHz (centre frequency 5.800 GHz)
* 24–24.25 GHz (centre frequency 24.125 GHz)
* 61–61.5 GHz (centre frequency 61.25 GHz)
* 122–123 GHz (centre frequency 122.5 GHz)
* 244–246 GHz (centre frequency 245 GHz) 

Các bạn có thể xem thêm tại đây

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

So sánh mạng tế bào (cellular) và ad hoc

Đều là mạng không dây và ứng dụng nhiều trong cuộc sống : mạng tế bào là mạng điện thoại các bạn đang dùng còn mạng ad hoc thì giờ hay thấy là dùng laptop phát wifi để các laptop khác bắt và chia sẻ file, tuy nhiên chúng có nhiều điểm cần phân biệt.


Cellular
Ad hoc
Dựa trên cơ sở hạ tầng (các trạm, xử lý trung tâm)
Không cần cơ sở hạ tầng
Liên kết một chặng (từ BTS đến điện thoại)
Nhiều chặng
Định tuyến tập trung
Định tuyến phân tán
Độ tin cậy cao
Các máy có sự di chuyển chứ không đứng im như trạm BTS, tin cậy không cao bằng
Thiết bị có độ phức tạp thấp
Thiết bị cần cấu trúc phức tạp vì ngoài việc thu phát nó còn đóng vai trò như một nút trong mạng (kiểu BTS di động) nên phức tạp và tốn pin
Tái sử dụng phổ
Cảm biến sóng mang
Được sử dụng rộng rãi
Cần phải nghiên cứu, ứng dụng thương mại chưa phổ biến, hay áp dụng cho quân sự do cần sự cơ động

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

Beeline rút khỏi Việt Nam

Beeline rút khỏi Việt Nam Tập đoàn viễn thông VimpelCom (Nga) vừa bán hết cổ phần trong Công ty Viễn thông di động Toàn cầu (Gtel Mobile) cho đối tác Việt Nam. Thương hiệu Beeline cũng rút khỏi thị trường Việt sau 6 tháng tới.

Thương hiệu Beeline sẽ rút khỏi Việt Nam sau 6 tháng tới.

Theo thông cáo báo chí đề ngày 23/4 của VimpelCom, cổ phần của tập đoàn này trong Gtel Mobile đã được nhất trí chuyển nhượng lại cho Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Truyền dẫn và dịch vụ hạ tầng GTEL, một công ty con của Tổng công ty Viễn thông Toàn Cầu (Gtel) của Việt Nam. Theo đó, toàn bộ 49% cổ phần của đối tác ngoại VimpelCom trong liên doanh đã được đơn vị này mua lại, đưa Gtel Mobile trở thành công ty 100% vốn của các cổ đông trong nước.
Mức giá chuyển nhượng cổ phần của VimpelCom trong Gtel Mobile cho đối tác là 45 triệu USD tiền mặt. Hiện Gtel Mobile đang hợp tác với các cơ quan, ban ngành liên quan để hoàn thành mọi thủ tục chuyển đổi cổ phần. Theo thỏa thuận, Gtel Mobile sẽ không dùng thương hiệu Beeline sau 6 tháng kể từ ngày chuyển giao. Ngoài thời điểm đó, đơn vị này sẽ xây dựng một tên thương hiệu mới phù hợp với những tiêu chí và đường lối kinh doanh đã đề ra.
Ông Nguyễn Văn Dư, Phó tổng giám đốc Gtel Mobile khẳng định vẫn cung cấp dịch vụ viễn thông di động tại Việt Nam. "Kế thừa những kinh nghiệm và kết quả đạt được trong thời gian liên kết với VimpelCom, chúng tôi sẽ tiếp tục đầu tư và triển khai tiếp các dịch vụ thông tin di động. Tất cả thuê bao của Beeline đều được đảm bảo quyền lợi của mình", ông Dư nói.

Hồi giữa năm 2011, VimpelCom từng công bố dự định đầu tư thêm 500 triệu USD vào mạng di động Beeline đến hết năm 2013. Sau đó, công ty này cho biết đã chính thức chuyển 196 triệu USD vào liên doanh Gtel Mobile và nâng tỷ lệ cổ phần của cổ đông này lên 49%. Theo báo cáo tài chính quý IV/2011 của VimpelCom, tập đoàn này thua lỗ 527 triệu USD khi đầu tư vào lĩnh vực viễn thông tại Việt Nam và Campuchia.

VimpelCom là nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động lớn tại Đông Âu và Trung Á. Liên doanh GTEL Mobile giữa Gtel và VimpelCom khai trương mạng Beeline vào tháng 7/2009, trở thành nhà mạng di động thứ 7 ở Việt Nam. Sinh sau đẻ muộn song hãng viễn thông này gây được sự chú ý trên thị trường bằng những chương trình khuyến mãi "khủng", điển hỉnh nhất là gói cước Tỷ phú, tặng một tỷ đồng gọi nội mạng cho khách hàng. Tính đến hết năm 2011, theo báo cáo của Beeline gửi Bộ Thông tin và Truyền thông, mạng di động này đã có 6 triệu thuê bao đăng ký. Beeline là mạng di động chưa được cấp phép 3G.
itGate

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes