Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Thứ Ba, 22 tháng 5, 2012

MACA-BI (MACA By Invitation)

Một loại MACA cải tiến khác ngoài MACAW
Ưu điểm của loại này là giảm số gói điều khiển hơn so với MACAW. Đặc điểm của nó là sẽ gửi tín hiệu RTR (ready to receive) cho máy phát kèm khoảng thời gian cho phép truyền.
Ở lớp thì mình học cái này chỉ lướt qua nên không biết nhiều lắm (trong vở chép 2 dòng), có 1 chú ý là hiệu suất phụ thuộc vào khả năng ước lượng của máy thu cho phép truyền.

Thứ Hai, 21 tháng 5, 2012

Hành trình mạng không dây: Từ Wi-Fi đến WiMax

Mạng không dây là một trong những bước tiến lớn nhất của ngành máy tính. Năm ngoái, hàng chục triệu thiết bị Wi-Fi đã được tiêu thụ và dự báo năm nay sẽ có khoảng 100 triệu người sử dụng. Con đường phát triển của công nghệ này từ quy mô hẹp ra phạm vi lớn thực ra mới chỉ bắt đầu cách đây 5 năm.
Sự khởi đầu
Năm 1985, Ủy ban liên lạc liên bang Mỹ FCC (cơ quan quản lý viễn thông của nước này), quyết định “mở cửa” một số băng tần của dải sóng không dây, cho phép sử dụng chúng mà không cần giấy phép của chính phủ. Đây là một điều khá bất thường vào thời điểm đó. Song, trước sự thuyết phục của các chuyên viên kỹ thuật, FCC đã đồng ý “thả” 3 dải sóng công nghiệp, khoa học và y tế cho giới kinh doanh viễn thông.
Ba dải sóng này, gọi là các “băng tần rác” (900 MHz, 2,4 GHz, 5,8 GHz), được phân bổ cho các thiết bị sử dụng vào các mục đích ngoài liên lạc, chẳng hạn như lò nướng vi sóng sử dụng các sóng vô tuyến radio để đun nóng thức ăn. FCC đã đưa các băng tần này vào phục vụ mục đích liên lạc dựa trên cơ sở: bất cứ thiết bị nào sử dụng những dải sóng đó đều phải đi vòng để tránh ảnh hưởng của việc truy cập từ các thiết bị khác. Điều này được thực hiện bằng công nghệ gọi là phổ rộng (vốn được phát triển cho quân đội Mỹ sử dụng), có khả năng phát tín hiệu radio qua một vùng nhiều tần số, khác với phương pháp truyền thống là truyền trên một tần số đơn lẻ được xác định rõ.
Hợp nhất tiêu chí
Dấu mốc quan trọng cho Wi-Fi diễn ra vào năm 1985 khi tiến trình đi đến một chuẩn chung được khởi động. Trước đó, các nhà cung cấp thiết bị không dây dùng cho mạng LAN như Proxim và Symbol ở Mỹ đều phát triển những thiết sản phẩm độc quyền, tức là thiết bị của hãng này không thể liên lạc được với của hãng khác. Nhờ sự thành công của mạng hữu tuyến Ethernet, một số công ty bắt đầu nhận ra rằng việc xác lập một chuẩn không dây chung là rất quan trọng. Vì người tiêu dùng khi đó sẽ dễ dàng chấp nhận công nghệ mới nếu họ không còn bị bó hẹp trong sản phẩm và dịch vụ của một hãng cụ thể.
Năm 1988, công ty NCR, vì muốn sử dụng dải tần “rác” để liên thông các máy rút tiền qua kết nối không dây, đã yêu cầu một kỹ sư của họ có tên Victor Hayes tìm hiểu việc thiết lập chuẩn chung. Ông này cùng với chuyên gia Bruce Tuch của Trung tâm nghiên cứu Bell Labs đã tiếp cận với Tổ chức kỹ sư điện và điện tử IEEE, nơi mà một tiểu ban có tên 802.3 đã xác lập ra chuẩn mạng cục bộ Ethernet phổ biến hiện nay. Một tiểu ban mới có tên 802.11 đã ra đời và quá trình thương lượng hợp nhất các chuẩn bắt đầu.
Thị trường phân tán ở thời điểm đó đồng nghĩa với việc phải mất khá nhiều thời gian để các nhà cung cấp sản phẩm khác nhau đồng ý với những định nghĩa chuẩn và đề ra một tiêu chí mới với sự chấp thuận của ít nhất 75% thành viên tiểu ban. Cuối cùng, năm 1997, tiểu ban này đã phê chuẩn một bộ tiêu chí cơ bản, cho phép mức truyền dữ liệu 2 Mb/giây, sử dụng một trong 2 công nghệ dải tần rộng là frequency hopping (tránh nhiễu bằng cách chuyển đổi liên tục giữa các tần số radio, còn gọi là truyền chéo) hoặc direct-sequence transmission (phát tín hiệu trên một dài gồm nhiều tần số, còn gọi là truyền thẳng).
Chuẩn mới chính thức được ban hành năm 1997 và các kỹ sư ngay lập tức bắt đầu nghiên cứu một thiết bị mẫu tương thích với nó. Sau đó có 2 phiên bản chuẩn, 802.11b (hoạt động trên băng tần 2,4 GHz) và 802.11a (hoạt động trên băng tần 5,8 GHz), lần lượt được phê duyệt tháng 12 năm 1999 và tháng 1 năm 2000. Sau khi có chuẩn 802.11b, các công ty bắt đầu phát triển những thiết bị tương thích với nó. Tuy nhiên, bộ tiêu chí này quá dài và phức tạp với 400 trang tài liệu và vấn đề tương thích vẫn nổi cộm. Vì thế, vào tháng 8/1999, có 6 công ty bao gồm Intersil, 3Com, Nokia, Aironet (về sau được Cisco sáp nhập), Symbol và Lucent liên kết với nhau để tạo ra Liên minh tương thích Ethernet không dây WECA.
Tìm một tên gọi phù hợp
Mục tiêu hoạt động của tổ chức WECA là xác nhận sản phẩm của những nhà cung cấp phải tương thích thực sự với nhau. Tuy nhiên, các thuật ngữ như “tương thích WECA” hay “tuân thủ IEEE 802.11b” vẫn gây bối rối đối với cả cộng đồng. Công nghệ mới cần một cách gọi thuận tiện đối với người tiêu dùng. Các chuyên gia tư vấn đề xuất một số cái tên như “FlankSpeed” hay “DragonFly”. Nhưng cuối cùng được chấp nhận lại là cách gọi “Wi-Fi” vì nghe vừa có vẻ công nghệ chất lượng cao (hi-fi) và hơn nữa người tiêu dùng vốn quen với kiểu khái niệm như đầu đĩa CD của công ty nào thì cũng đều tương thích với bộ khuếch đại amplifier của hãng khác. Thế là cái tên Wi-Fi ra đời. Cách giải thích “Wi-Fi có nghĩa là wireless fidelity” về sau này người ta mới nghĩ ra. Gần đây, nhiều chuyên gia cũng đã viết bài khẳng định lại Wi-Fi thực ra chỉ là một cái tên đặt ra cho dễ gọi chứ chả có nghĩa gì ban đầu.
Đi vào cuộc sống
Như vậy là công nghệ kết nối cục bộ không dây đã được chuẩn hóa, có tên thống nhất và đã đến lúc cần một nhà vô địch để thúc đẩy nó trên thị trường. Wi-Fi đã tìm được Apple, nhà sản xuất máy tính nối tiếng với những phát minh cấp tiến. “Quả táo” tuyên bố nếu hãng Lucent có thể sản xuất một bộ điều hợp adapter với giá chưa đầy 100 USD thì họ có thể tích hợp một khe cắm Wi-Fi vào mọi chiếc máy tính xách tay. Lucent đáp ứng được điều này và vào tháng 7/1999, Apple công bố sự xuất hiện của Wi-Fi như một sự lựa chọn trên dòng máy iBook mới của họ, sử dụng thương hiệu AirPort. Điều này đã hoàn toàn làm thay đổi thị trường mạng không dây. Các nhà sản xuất máy tính khác lập tức ồ ạt làm theo. Wi-Fi nhanh chóng tiếp cận với người tiêu dùng gia đình trong bối cảnh chi tiêu cho công nghệ ở các doanh nghiệp đang bị hạn chế năm 2001.
Wi-Fi sau đó tiếp tục được thúc đẩy nhờ sự phổ biến mạnh mẽ của kết nối Internet băng rộng tốc độ cao trong các hộ gia đình và trở thành phương thức dễ nhất để cho phép nhiều máy tính chia sẻ một đường truy cập băng rộng. Khi công nghệ này phát triển rộng hơn, các điểm truy cập thu phí gọi là hotspot cũng bắt đầu xuất hiện ngày một nhiều ở nơi công cộng như cửa hàng, khách sạn, các quán café. Trong khi đó, Ủy ban liên lạc liên bang Mỹ FCC một lần nữa thay đổi các quy định của họ để cho phép một phiên bản mới của Wi-Fi có tên 802.11g ra đời, sử dụng kỹ thuật dải phổ rộng tiên tiến hơn gọi là truy cập đa phân tần trực giao OFDM (orthogonal frequency-division multiplexing - còn gọi là ghép kênh chia tần số trực giao) và có thể đạt tốc độ lên tới 54 Mb/giây ở băng tần 2,4 Ghz.
Con đường phía trước
Những người ưa thích Wi-Fi tin rằng công nghệ này sẽ gạt ra lề hết những kỹ thuật kết nối không dây khác. Ví dụ, họ cho rằng các điểm truy cập hotspot sẽ cạnh tranh với các mạng điện thoại di động 3G vốn hứa hẹn khả năng truyền phát dữ liệu tốc độ cao. Tuy nhiên những suy luận như trên đã bị thổi phồng. Wi-Fi chỉ là một công nghệ sóng ngắn và sẽ không bao giờ có thể cung cấp được khả năng bao trùm rộng như mạng di động, nhất là khi các mạng này đang ngày một phát triển mạnh hơn về quy mô nhờ những dịch vụ chuyển vùng (roaming) và các thỏa thuận tính cước liên quốc gia.
Tuy nhiên, chỉ trong một vài năm nữa, thế hệ mạng đầu tiên dựa trên công nghệ mới WiMax, hay gọi theo tên kỹ thuật là 802.16, sẽ ra đời và trở nên phổ dụng. Như chính cái tên của mạng này cho thấy, WiMax chính là phiên bản phủ sóng diện rộng của Wi-Fi với thông lượng tối đa có thể lên đến 70 Mb/giây và tầm xa lên tới 50 km, so với 50 m của Wi-Fi hiện nay. Ngoài ra, trong khi Wi-Fi chỉ cho phép truy cập ở những nơi cố định có thiết bị hotspot (giống như các hộp điện thoại công cộng) thì WiMax có thể bao trùm cả một thành phố hoặc nhiều tỉnh thành giống như mạng điện thoại di động.
Ở thời điểm này, Wi-Fi là công nghệ mạng thống lĩnh trong các gia đình ở những nước phát triển. TV, đầu đĩa, đầu ghi và nhiều thiết bị điện tử gia dụng có khả năng dùng Wi-Fi đang xuất hiện ngày một nhiều. Điều đó cho phép người sử dụng truyền nội dung khắp các thiết bị trong nhà mà không cần dây dẫn. Điện thoại không dây sử dụng mạng Wi-Fi cũng đã có mặt ở các văn phòng nhưng về lâu dài, công nghệ truy cập không dây này có vẻ khó là kẻ chiến thắng trong cuộc đua đường dài trên các thiết bị này. Hiện nay, Wi-Fi tiêu tốn khá nhiều năng lượng của các thiết bị cầm tay và thậm chí ,chuẩn 802.11g không thể hỗ trợ ổn định cho hơn một đường phát video. Và thế là một chuẩn mới, có tên 802.15.3 hay còn gọi là WiMedia, đã được xúc tiến để trở thành chuẩn tầm ngắn cho mạng gia đình tốc độ cao, chủ yếu phục vụ thiết bị giải trí.
Quá trình phát triển của công nghệ Wi-Fi cũng đã cho thấy việc thống nhất cho ra một chuẩn chung có thể tạo nên một thị trường mới. Điều này càng được khẳng định thông qua quyết tâm của các công ty đang xúc tiến chuẩn WiMax. Trước đây các công nghệ mạng không dây tầm xa đều do các công ty lớn thao túng với những chuẩn bản quyền riêng và không cái nào được chấp nhận rộng rãi. Chính nhờ sự thành công của Wi-Fi mà những “người khổng lồ” giờ đây đã hợp lực với nhau để phát triển WiMax, một chuẩn phổ thông dễ tiếp cận đối với người tiêu dùng mà các hãng phát triển hy vọng sẽ giúp mở rộng thị trường và tăng doanh thu. Khó dự báo tương lai của Wi-Fi nhưng chắc chắn nó đã tạo nên một hướng đi cho nhiều công nghệ khác.

Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2012

PHÂN BIỆT WLAN VÀ LAN

WLANs cũng là một chuẩn trong hệ thống 802. Tuy nhiên việc truyền dữ liệu trong WLAN sử dụng sóng Radio. Trong mạng LAN, dữ liệu được truyền trong dây dẫn. Tuy nhiên đối với người dùng cuối thì giao diện sử dụng chúng là tương tự nhau. Cả WLAN và Wire LAN đều được định nghĩa dựa trên hai tầng Physical và Data Link (trong mô hình OSI). Các giao thức hay các ứng dụng đều có thể sử dụng trên nền tảng LAN và WLAN. Ví dụ như IP, IP Security (IPSec). Hay các ứng dụng như Web, FTP, Mail… Sự khác nhau giữa WLAN và LAN. - WLAN sử dụng sóng radio để truyền dữ liệu tại tầng Physcial. + WLAN sử dụng CSMA/CA (Carrier Sense Multiple Access with Collision Avoidance) còn LAN sử dụng công nghệ CSMA/CD (Carrier Sense Multiple Access with Collision Detect). Collision Dectect không thể sử dụng trong mạng WLAN bởi thông tin đã truyền đi không thể lấy lại được do đó chúng không thể có tính năng Collision Detect được. Để đảm bảo gói tin truyền không bị xung đột mạng WLAN sử dụng công nghệ CSMA/CA. Trước khi truyền gửi tín hiệu Request To Send (RTS) và Clear To Send (CTS) để hạn chế xung đột xảy ra.


+ WLAN sử dụng định dạng cho Frame dữ liệu khác với mạng LAN. WLAN bắt buộc phải thêm thông tin Layer 2 Header vào gói tin. - Sử dụng Radio vào việc truyền thông tin sẽ chịu một số vấn đề mà khi sử dụng dây dẫn không mắc phải: + Việc kết nối sẽ chịu ảnh hưởng bởi khoảng cách, do phản xạ sóng nên đôi khi nguồn phát tín hiệu có thể bị thay đổi và có nhiều tín hiệu đến trước đến sau, một card mạng WLAN có thể kết nối tới nhiều mạng WLAN khác nhau. + Do sóng Radio có thể tìm thấy nên việc kết nối và bảo mật trên Wireless LAN cũng là vấn đề không nhỏ. - WLAN sử dụng cho người dùng thường xuyên phải di chuyển trong công ty. - WLAN sử dụng một giải tần sóng Radio nên có thể bị nhiễu nếu một sóng Radio khác có cùng tần số. Tương tự như cơ chế truy cập đường truyền CSMA/CD của mạng có dây (IEEE 802.3), Trong mạng IEEE 802.11 sử dụng cơ chế CSMA/CA. CA có nghĩa là Collition Avoidance khác với CD là Collition Detection trong mạng có dây. Nói như vậy không có nghĩa là CSMA/CD không có cơ chế phát hiện Collition như trong mạng có dây bởi vì đặc thù của thiết bị không dây là haft-duplex (Một khi nó đang nhận thì không thể truyền và nếu đang truyển thì không thể nhận). Trong CSMA/CA có 2 khái niệm là CSMA/CA và CSMA/CA based on MACA CSMA/CA: máy phát sẽ lắng nghe trên môi trường truyền, và khi môi trường truyền rỗi thì nó sẽ tiến hành gửi dữ liệu ra môi trường truyền, còn không nó sẽ sử dụng giải thuật backoff để tiếp tục chờ. Cơ chế này bị giới hạn bởi trường hợp hidden node. Giả sử, có 3 máy A,B,C máy B nằm trong range của A và range của C. Khi A gửi cho B thì C không nhận được tín hiệu trên môi trường truyền, và nếu C cũng gửi cho B thì xảy ra Collition.CSMA/CA based on MACA xuất hiện giải quyết node bằng cách trước khi một máy truyền dữ liệu thì nó sẽ lắng nghe đường truyền, và nếu đường truyền rỗi thì nó sẽ gửi frame RTS (request to send), trong trường hợp này, máy nhận sẽ đáp lại bằng frame CTS (Clear to send), những máy còn lại nếu nhận được 1 trong 2 frame trên thì sẽ tự động tạo ra NAV (Network allocation vector) để ngăn cản việc truyền dữ liệu. Cơ chế CSMA/CA còn được gọi chung là DCF (Distribute Coordination Function) là tiêu chí bắt buộc của chuẩn 802.11, còn có 1 cơ chế khác ít thông dụng hơn là PCF (Point Coordination Function), hiện nay có rất ít thiết bị hỗ trợ cơ chế này (Chỉ áp dụng cho mô hình infrastructure). PCF làm việc tương tự như cơ chế truy cập đường truyền của mạng Tokenring. Theo cơ chế này, PC ( Point Controller) tích hợp trong Access Point làm nhiệm vụ polling cho các station theo 1 schedule và chỉ có station nào được poll thì mới được phép truyền. Cơ chế này thích hợp cho các ứng dụng đòi hỏi tính thời gian thực cao bởi vì nó sẽ làm cho các station tham gia vào mạng đều có cơ hội sử dụng môi trường truyền như nhau.

Multiple Access with Collision Avoidance for Wireless (MACAW)

MACAW là sự mở rộng của MACA với trình tự thêm vào là RTS-CTS-DS-DATA-ACK.
DS (Data Sending):
nói với các nút lân cận máy phát nghe thấy RTS nhưng không thấy CTS của máy thu (do nút ẩn nút hiện).
DS để thông báo là RTS-CTS đã ok và đang truyền, do DS phát từ chính nút gửi RTS nên nút nào nghe được RTS thì cũng nghe được DS, còn nếu nút lân cận không nghe được CTS và không dùng DS này thì sẽ chẳng biết là truyền có được hay không.
Đấy chính là sự cải tiến.

Thứ Bảy, 19 tháng 5, 2012

Truyền dẫn kênh chia sẻ

Ở đây nói đến là truyền dẫn trên kênh chia sẻ HS-DSCH trong HSDPA 3.5G

Không giống như WCDMA sử dụng mã trải phổ biến thiên để thay đổi tốc độ, HSDPA sử dụng mã trải phổ cố định SF= 16, việc thay đổi và phân bố tài nguyên mã dựa trên số lượng mã được cấp và phân quyền download trên bao nhiêu khe thời gian.
Việc huy động tài nguyên hệ thống cho một người sử dụng cao nhất có thể là cấp 15/16 mã và truyền trên mọi khe thời gian, khi đó hầu hết tài nguyên hệ thống có thể được cung cấp cho mội người, do đó mà HSDPA có thể đẩy tốc độ lên đến 14.4 Mbps. Sở dĩ không cung cấp cả 16 mã vì cần một lượng tài nguyên cho báo hiệu, điều khiển.

Multiple Access with Collision Avoidance (MACA)

Đây là một giao thức MAC (media access control) cho mạng không dây để tránh được hiện tượng nút ẩn và nút hiện.

Ý tưởng là so với các loại giao thức MAC khác dùng cho mạng có dây chỉ truyền luôn, hỏng truyền lại hay là cảm nhận sóng mang rồi mới truyền thì trong môi trường vô tuyến phức tạp hơn, phải xin "cấp phép" trước rồi mới truyền.
Khi một nút muốn truyền, nó sẽ gửi tín hiệu yêu cầu gửi (RTS - Request to Send) với độ dài của khung cần gửi.
Nếu máy thu cho phép truyền nó sẽ gửi lại tín hiệu Clear To Send với độ dài khung nó cho phép nhận.

Các trạm xung quanh nghe được RTS thì sẽ không thu phát tín hiệu trong khoảng thời gian truyền cho đến khi truyền xong thì thôi (căn cứ theo độ dài trong CTS)

Các thủ tực khi gửi trong MACA giữa 2 trạm là :
A -> B : RTS
B -> A : CTS
A -> B : truyền data


Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2012

Thư viện mô phỏng CML (Coded Modulation Library) trong Matlab

Vừa bảo vệ đồ án xong, thấy các thày ok chấp nhận cái này (dù dùng mã nguồn mở và sửa 1 tí thôi chứ không hùng hục từ đầu như nhiều thằng khủng).
Nói chung thư viện này dùng để minh họa lý thuyết khá tốt.
Đây là những gì thư viện này hỗ trợ:

The toolbox contains support for the following:
  • Rate 1/n convolutional codes with log-MAP, max-log-MAP, constant-log-MAP, and linear-log-MAP soft-in/soft-out SISO decoding, and Viterbi soft-in/hard-out decoding.
  • Tail-biting convolutional codes.
  • Two types of convolutional turbo codes (CTCs): (1) binary turbo codes with terminated trellises; (2) duo-binary tail-biting turbo codes.
  • Block turbo codes (BTCs).
  • Low density parity check (LDPC) codes, both decoding and encoding (encoding limited to certain types of LDPC codes).
  • Puncturing and rate-matching to change the base code rate to a desired rate.
  • log-MAP (APP) and Viterbi decoding of binary cyclic block codes (Golay, Hamming, etc).
  • Arbitrary complex modulation formats: BPSK, QPSK, M-ary PSK, QAM, APSK, with SISO demodulation.
  • FSK modulation with multiple tones, arbitrary modulation index (orthogonal or nonorthogonal), and either coherent or noncoherent demodulation.
  • Iterative demodulation and decoding, i.e. bit interleaved coded modulation with iterative decoding (BICM-ID).
  • Channel types: AWGN, fully-interleaved (ergodic) Rayleigh fading, or block Rayleigh fading.
  • Monte Carlo computation of modulation constrained channel capacity (in AWGN and ergodic fading) and information outage probability (in block fading).
  • Calculation of throughput of hybrid-ARQ systems.
  • Generation of s-random (spread) interleaver and interleavers conforming to UMTS, LTE, cdma2000, CCSDS,  IEEE 802.16 and DVB-RCS standards.
  • Ability to run on a grid computer using the Frontier Compute Engine
While the system is generic, the following standards are incorporated as examples:
  • IEEE 802.16e (mobile WiMax) tail-biting convolutional code.
  • IEEE 802.16e (mobile WiMax) convolutional turbo code (CTC).
  • IEEE 802.16e (mobile WiMax) block turbo code (BTC).
  • IEEE 802.16e (mobile WiMax) LDPC code.
  • DVB-RCS turbo code. 
  • DVB-S2 LDPC code.
  • UMTS (WCDMA) turbo code.
  • HSDPA hybrid-ARQ using a rate-matched UMTS turbo code and QPSK/16-QAM modulation.
  • LTE turbo code.
  • CCSDS turbo code.
  • cdma2000 turbo code.
Nói chung thì sử dụng thư viện này khá là dễ, vào matlab, truy cập đến thư viện, chạy file cmlstartup để nó khởi động,  nếu là các thành phần có sẵn thì chỉ cần chạy ví dụ :

[sim_param, sim_state] = Cmlsimulate('HsdpaScenarios', [1 2 3 4]);
[sim_param, sim_state] = Cmlplot('HsdpaScenarios', [1 2 3 4]);

cái 1 2 3 4 là các trường hợp mô phỏng trong HSDPA với các tham số ở trong thư mục scenarios file HsdpaScenarios.

Các bạn khi down chương trình về thì vào thư mục documentation sẽ thấy có mấy file hướng dẫn.

Ngoài ra thì ở thư mục demo có 1 file hướng dẫn sử dụng thư viện để tính thông lượng HSDPA với các trường hợp, mình chỉnh sửa để nó mô phỏng với nhiều trường hợp và vẽ đồ thị với các trường hợp đó.

Chúc các bạn áp dụng thư viện tốt để phục vụ mục đích đồ án hay để minh họa lý thuyết nào đó mà không cần học quá nhiều về matlab

Link http://www.iterativesolutions.com/Matlab.htm

Những bí mật thú vị về chiếc điều khiển cảm ứng Kinect từ Microsoft

Triển lãm E3 2010 vừa diễn ra trong tháng sáu đã kết thúc với điểm nhấn là công nghệ cảm ứng chuyển động trên bộ đôi tay cầm Kinect và Move từ hai ông lớn Microsoft và Sony. Chắc chắn đây sẽ là những sản phẩm công nghệ quan trọng và nổi bật nhất trong năm nay. Giới game thủ cũng đang rất chờ đợi đến cuối năm,
thời điểm hai chiếc tay cầm này chính thức xuất hiện trên thị trường. Tuy nhiên không phải ai cũng đã nắm rõ những thông tin về hai sản phẩm này, nhất là khi Microsoft giấu kỹ mọi thông tin về chiếc máy Kinect của mình. Dưới đây là 7 “bí mật” của Kinect, chiếc tay cầm được quảng bá là sẽ tạo nên cơn “địa chấn” trong làng game.
Cự ly cần thiết để chơi game với Kinect: Được quảng cáo là công nghệ độc đáo giúp game thủ chơi game không cần tay cầm. Kinect sử dụng một chiếc camera để ghi hình sự chuyển động của game thủ. Để có thể chơi game một cách thoải mái nhất mà không gặp phải bất cứ vấn đề gì, người chơi nên giữ một khoảng cách thích hợp với camera gắn trên Kinect là khoảng 2m (6 feet)
Khả năng tương thích với tiếng ồn xung quanh: Một trong những tính năng rất đáng chú ý trên Kinect là khả năng tương thích và loại bỏ tiếng ồn xung quanh game thủ khi chơi. Đối với một số trò chơi, game thủ sẽ phải sử dụng giọng nói của mình bên cạnh những chuyển động vật lý thông thường. Và ngay cả trong điều kiện tương đối ổn, hệ thống cảm biến trong Kinect cũng có thể nhận ra giọng nói của game thủ một cách chính xác.
Khả năng nhận diện giọng nói: Chắc chắn đây sẽ là một tính năng tuyệt vời của Kinect. Không chỉ giúp game thủ có những trải nghiệm tuyệt vời nhất thông qua hệ thống cảm ứng chuyển động mà hệ thống nhận diện giọng nói trên bộ đôi sản phẩm này sẽ giúp người chơi trong nhiều tình huống. Bên cạnh đó, tính năng này chắc chắn sẽ khiến nhiều trò chơi trở nên hấp dẫn hơn nếu được vận dụng hợp lý.
Ra lệnh cho máy chơi game: Việc có thể ra lệnh cho chiếc máy Xbox 360 như chơi nhạc, dừng lại, chiếu phim, tua nhanh… chỉ là giấc mơ đối với nhiều game thủ. Nhưng với Kinect, điều này là hoàn toàn có thể làm được. Hệ thống micro trên Kinect và khả năng nhận diện giọng nói giúp game thủ có thể “giao tiếp” được với máy chơi game của mình.
Kinect hỗ trợ nhiều người chơi: Trong những hình ảnh quảng bá, người xem thường thấy chỉ có một người tương tác với Kinect nhưng thực tế là hệ thống camera gắn trên chiếc máy này có thể cảm biến chuyển động của nhiều người chơi một lúc và do đó sản phẩm này sẽ rất thích hợp với những bữa tiệc hay những trò chơi gia đình.
Ánh sáng có thể gây ra ảnh hưởng: Thực tế là đa phần game thủ đều chơi game trong nhà chứ không phải ở ngoài trời. Do vậy việc khả năng cảm ứng chuyển động của Kinect có thể bị ảnh hưởng bởi ánh sáng mặt trời cũng là điều không cần thiết phải quá bận tâm. Để giải quyết vấn đề này, khi chơi game với Kinect, game thủ chỉ cần đóng bớt rèm cửa lại.
Quần áo không gây ra ảnh hưởng: Một số người từng đưa ra thắc mắc về việc Kinect cảm ứng chuyển động của người chơi thông qua hệ thống camera ghi hình. Vậy khi game thủ mặc những bộ quần áo khác nhau thì liệu có làm giảm độ “nhạy”của khả năng cảm ứng hay không. Câu trả lời là không, hệ thống nhận diện chuyển động trên Kinect sẽ cảm biến được thân nhiệt trên cơ thể người và do đó người chơi hoàn toàn có thể yên tâm về chuyện trang phục khi chơi game.

Nguồn đọc thêm: http://www.xaluan.com/

Thứ Năm, 17 tháng 5, 2012

VINASAT-2 đã được phóng thành công

Vinasat-2 đã lên quỹ đạo

5h49 sáng nay (16/5), tên lửa Ariane 5 đã hoàn tất quá trình đưa 2 vệ tinh Vinasat-2 của Việt Nam và JCSAT-13 của Nhật Bản lên quỹ đạo, từ bãi phóng Kourou (Guyana).
> Cận cảnh vệ tinh Vinasat-2 trên bệ phóng> 4.700 tỷ đồng bảo hiểm cho vệ tinh Vinasat-2

Phát biểu tại buổi lễ phóng Vinasat-2, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, đây là sự kiện đánh dấu bước tiến lớn của ngành viễn thông Việt Nam
Phát biểu tại buổi lễ phóng Vinasat-2, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, đây là sự kiện đánh dấu bước tiến lớn của ngành viễn thông Việt Nam
Hành trình kéo dài 36 phút của Ariane 5 và 2 vệ tinh kết thúc thành công vào lúc 5h49 sau khi Vinasat-2 được tách khỏi tên lửa đẩy và tiến chính xác vào vị trí 131,8 độ Đông trên quỹ đạo địa tĩnh. Trước đó, với sự hỗ trợ của 2 tên lửa phụ, Ariane 5 đã rời khỏi mặt đất lúc 5h13.
Clip: Hồi hộp theo dõi Vinasat-2 lên quỹ đạo
Trong vòng 30 giây, 2 tên lửa phụ đã đốt hơn 100 tấn nhiên liệu ở nhiệt độ 3.000 độ C để đưa 2 vệ tinh thoát khỏi lực hút bề mặt Trái đất. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, 2 tên lửa phụ tách khỏi phần chính giúp Ariane 5 nhẹ bớt ba phần tư trọng lượng. Tên lửa chuyển hướng Tây và bay nhanh hơn vào quỹ đạo.
Đến 5h16, tên lửa Ariane xuyên qua tầng khí quyển trái đất và vượt Đại Tây Dương trong khoảng 20 phút. Tại bờ Tây châu Phi, Ariane kết thúc thành công giai đoạn đầu của quá trình phóng bằng việc cho tách JCSAT-13. Tên lửa tiếp tục hành trình đưa Vinasat 2 về vị trí đã định.
Đến 5h49, Vinasat-2 được tách khỏi vỏ bảo vệ và hành trình về quỹ đạo địa tĩnh 131,8 độ Đông. Vụ phóng vệ tinh được tuyên bố chính thức thành công trong sự vui mừng của các nhân viên trung tâm ArianeSpace tại Kourou cũng như đại diện phái đoàn Việt Nam, Nhật Bản tại Guyana.
Tên lửa Ariane 5 đưa 2 vệ tinh rời mặt đất. Ảnh: ArianeSpace
Tên lửa Ariane 5 đưa 2 vệ tinh rời mặt đất. Ảnh: ArianeSpace
Theo dõi trực tiếp qua cầu truyền hình tại trụ sở Tập đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam (VNPT), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định việc phóng thành công Vinasat-2 là một sự kiện quan trọng, đánh dấu bước tiến lớn của ngành viễn thông Việt Nam. "Đây là dự án quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội, khẳng định chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên không gian vũ trụ", Thủ tướng nói.

Thủ tướng cho rằng, đây là bước khởi đầu quan trọng nhưng trước mắt vẫn còn nhiều việc phải làm để phát triển hệ thống viễn thông của Việt Nam. Do vậy, người đứng đầu Chính phủ yêu cầu VNPT sớm đưa Vinasat-2 vào sử dụng, khai thác hiệu quả, cùng với Vinasat-1 đưa thông tin đến vùng sâu, vùng xa, hải đảo, đảm bảo an ninh quốc phòng…
Vụ phóng tên lửa được truyền trực tiếp về trụ sở của VNPT. Ảnh: Nhật Minh
Vụ phóng tên lửa được truyền trực tiếp về trụ sở của VNPT. Ảnh: Nhật Minh
Trước đó, Vinasat-2 được triển khai trong hơn 2 năm, từ tháng 10/2009. Đây là vệ tinh thứ 2 của Việt Nam, có tổng kinh phí khoảng 260-280 triệu USD, sản xuất trên nền tảng khung A2100, tuổi thọ thiết kế là 15 năm. Với 30 bộ phát đáp 36MHz trên băng tần Ku, Vinasat-2 có khả năng phủ sóng khu vực Đông Nam Á và một số nước lân cận.
Vinasat-2 cùng với Vinasat-1 được phóng thành công lên quỹ đạo ngày 19/4, đã tạo ra một hệ thống các vệ tinh có khả năng dự phòng về dung lượng và rủi ro, góp phần tăng cường độ an toàn, ổn định trong quá trình cung cấp dung lượng cho khách hàng. Cả 2 dự án này đều do Tập đoàn Bưu chính Việt Nam (VNPT) làm chủ đầu tư, hợp tác với Lockheed Martin (Mỹ) để triển khai.
Vinassat-2 được phóng từ Kourou ở Guyana (Nam Mỹ). Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân và Bộ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông Nguyễn Bắc Son đã đến chứng kiến lễ phóng Vinasat-2 qua cầu truyền hình ở đầu cầu Việt Nam.

Sóng địa chấn

Sóng địa chấn là những dạng sóng năng lượng hình thành và lan truyền bởi sự va chấn của các lớp địa tầng khi xảy ra động đất. Sóng địa chấn có nhiều dạng với nhiều cách lan truyền khác nhau. Trong đó, có thể phân ra hai nhóm lớn: sóng khối (body wave) và sóng bề mặt (surface wave). Sóng khối có thể lan truyền trong các tầng đất phía sâu, còn sóng bề mặt chỉ có thể lan truyền ở lớp đất phía trên của vỏ quả đất.
1. Sóng khối
Khi động đất xảy ra, sóng khối di chuyển xuyên qua các lớp đất và truyền lên mặt đất. Sóng khối có tần số cao hơn và vận tốc lan truyền từ tâm chấn nhanh hơn sóng bề mặt. Có hai dạng sóng khối chính: 
Sóng P (P Waves)
P là viết tắt của “primary” có nghĩa là sóng sơ cấp. Đây là sóng địa chấn có vận tốc nhanh nhất, vì thế nó được ghi nhận sớm nhất khi có động đất xảy ra. Sóng P có thể di chuyển qua các lớp đá rắn và các lớp vật chất lỏng trong vỏ quả đất, như lớp mắc ma, nước biển hay nước ngầm. Sóng P truyền theo phương dọc, tương tự như sóng âm thanh. Sóng P còn được gọi là sóng nén (compression waves) vì tác dụng đẩy và kéo lên lớp đất đá. Hướng lan truyền của sóng P đặc trưng cho hướng phân tán năng lượng địa chấn.

Mặt phẳng truyền sóng P

Sóng P tỏa ra từ tâm chấn
Sóng S (S Waves)
S là viết tắt của “secondary” có nghĩa là sóng thứ cấp. Vận tốc lan truyền của sóng S nhỏ hơn sóng P, do đó sóng S được ghi nhận sau sóng P, và vì thế được gọi là sóng thứ cấp. Sóng S chỉ có thể lan truyền trong lớp đá rắn mà không thể di chuyển qua các lớp vật chất lỏng. Chính tính chất này của sóng S giúp các nhà địa chấn khẳng định lớp vỏ quả đất có chứa mắc ma. Sóng S truyền theo phương ngang, tức là vuông góc với phương truyền năng lượng địa chấn (cũng là phương của sóng P).
Mặt phẳng truyền sóng S
Mặt phẳng truyền sóng S
Sóng S lan truyền từ tâm chấn
Sóng S lan truyền từ tâm chấn
2. Sóng bề mặt
Dạng sóng này có tần số thấp hơn sóng khối, chỉ di chuyển trong lớp đất phía trên sát mặt đất. Mặc dù dạng sóng này “đến” sau sóng khối, nhưng hầu như sóng bề mặt mới là nguyên nhân chính gây ra phá hoại nhà cửa trong các trận động đất. Khi tâm chấn ở độ sâu lớn, thì cường độ sóng cũng như nguy cơ phá hoại do sóng này gây ra mới giảm bớt.
Sóng Love (Love Waves)
Đây là dạng sóng đầu tiên của sóng bề mặt, được đặt tên theo nhà toán học người Anh A.E.H. Love, là người đầu tiên đề xuất mô hình toán học cho kiểu sóng này vào năm 1911. Sóng Love lan truyền theo phương ngang và có tốc độ nhanh nhất trong các sóng bề mặt. Sóng Love là nguyên nhân chủ yếu gây nên chuyển động ngang của bề mặt vỏ quả đất.
Sóng Rayleigh (Rayleigh Waves)
Đây là dạng thứ hai của sóng bề mặt, được đặt theo tên của Lord Rayleigh, người đã dùng công thức toán học tiên đoán sự tồn tại của dạng sóng này vào năm 1885. Sóng Rayleigh cuộn tròn dọc theo mặt đất, tương tự như sóng nước cuộn trên mặt biển. Vì thế, mặt đất bị di chuyển lên xuống, qua lại theo phương truyền của sóng này. Phần lớn sự rung lắc cảm nhận được trong các trận động đất là từ sóng Rayleigh, với cường độ lớn hơn tất cả các dạng sóng địa chấn khác.
Hiểu biết về sóng địa chấn giúp hình dung rõ ràng về cơ chế hoạt động và phá hoại của động đất gây ra đối với con người và nhà cửa. Những bài viết sau sẽ tiếp tục cung cấp những kiến thức khác về động đất.
Tuấn Nam (tổng hợp)
***************************************************************************************************hình Hình ảnh động minh họa cách lan truyền của các thành phần sóng địa chấn:
 

Nguồn http://trantuannam.wordpress.com

Sóng địa chấn có thể do thiên nhiên tạo ra (động đất, sóng thần, núi lửa) hay do nhân tạo như nổ mìn.
Thường thì 1 tác động rất nhỏ cũng tạo ra sóng như chúng ta dậm chân, nhưng đã gọi là sóng địa chấn thì thường phải có phạm vi ảnh hưởng lớn thì mới xét đến.
 
Sóng địa chấn có thể dùng để khảo sát lòng đất, thăm dò mỏ khoáng sản, người ta cũng dùng các dụng cụ thu sóng này để dự báo động đất, sóng thần, núi lửa

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes