Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2012

Kết hợp mạng adhoc và mạng tế bào

Ở trên lớp mình thày cũng có đề cập đến mạng kết hợp cả 2 loại này:

Ở những nơi có mạng lưới ổn định thì dùng cơ sở hạ tầng (độ đảm bảo và ổn định cao hơn, phổ biến hơn và tiết kiệm pin hơn vì thiết bị không cần đóng vai trò trạm trung gian cho thiết bị khác), khi cần giảm tải cho mạng thì thiết bị di động có thể hỗ trợ hoặc khi cơ sở hạ tầng chưa đến nơi thì ngoài vùng phủ sóng vẫn có khả năng các máy hình thành được một mạng ad hoc nho nhỏ, nếu 1 vài nút mạng ad hoc có kết nối được với mạng chính thì các nút khác dù ngoài mạng cũng có thể multihop đến mạng chính.
Còn nếu không thì ít ra cũng có thể liên lạc đến các phạm vi trong mạng ad hoc đó (trong một bản làng, trong một đảo, hay một tàu thuyền mà không được phủ sóng tới và cũng xót tiền đóng cước điện thoại vệ tinh ^_^).
Ngoài ra khi thiên tai địch họa thì cơ sở hạ tầng cũng sập, ad hoc sẽ giữ vai trò to lớn và linh hoạt.

Hiện giờ cả 2 mạng đều có, tuy nhiên một thiết bị tích hợp hai loại hình mạng và một mạng tích hợp hai loại hình truyền có vẻ như là chưa thấy, nhưng rất có thể là xu hướng của tương lai.

Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2012

Mạng lưới không dây (Wireless Mesh Network)

Hệ thống mạng Wi-Fi phổ thông thường không được doanh nghiệp (DN) chọn làm phương tiện kết nối chính trong quy trình hoạt động do một số nguyên nhân về chi phí, vùng phủ sóng. Lời giải cho bài toán không dây trong DN có thể là công nghệ mạng lưới không dây (Wireless Mesh Network).

Sóng Wi-Fi chưa ổn định

Sóng của mạng không dây Wi-Fi - thực chất là sóng radio, thường yếu dần khi khoảng cách giữa trạm phát và máy tính kết nối cách xa nhau. Sóng Wi-Fi cũng bị yếu khi gặp vùng nhiễu hoặc các vật cản. Thông thường các thiết bị truy nhập Wi-Fi được trang bị hệ thống an-ten đa hướng (omni-directional antennas). Các an-ten này được thiết kế để truyền và nhận sóng từ mọi hướng và mọi thời điểm. Nếu một điểm phát sóng(Access Point - AP) giao tiếp với một người dùng (user) tại vị trí cụ thể, các nguồn nhiễu xung quanh sẽ ảnh hưởng đến khả năng truyền sóng, từ đó làm giảm tốc độ truyền cũng như độ ổn định của kết nối.




Hình 1.

Trong các môi trường văn phòng với nhiều vách ngăn và các thiết bị phát từ gây nhiễu, mức độ phủ sóng và khả năng duy trì kết nối của một AP có thể giảm, làm giảm hiệu suất truyền dữ liệu. Và hệ quả là trong phần lớn các DN đều tồn tại một hệ thống cáp mạng kết nối đến từng bàn làm việc, nhằm đảm bảo quá trình làm việc không bị gián đoạn.

Tuy nhiên, hệ thống mạng hữu tuyến này cũng có những khuyết điểm nhất định. Có thể thấy rõ nhất là hệ thống này thiếu tính linh hoạt về số lượng user và vị trí của máy tính được nối mạng. Việc thiết lập thêm kết nối hữu tuyến cho user mới sẽ làm tiêu tốn nhiều thời gian và công sức của nhân viên quản trị mạng. Ngoài ra, nhằm đảm bảo yêu cầu thẩm mỹ, cáp mạng thường được đi âm trong tường hoặc dưới sàn, từ đó dẫn đến chi phí phụ trội nếu có nhu cầu điều chỉnh hay sửa chữa.

Tăng hiệu suất mạng

Đối với một số nhóm ngành dịch vụ đặc biệt như giáo dục, y tế hay du lịch, việc thiết lập một hệ thống mạng hữu tuyến cho toàn bộ user là hầu như không thể thực hiện được. Nhóm người truy cập của các loại hình dịch vụ này thường có yêu cầu kết nối linh động về số lượng và vị trí ở mức cao. Lời giải cho bài toán này là hệ thống mạng lưới không dây Wireless Mesh Network, kết hợp với khả năng điều tiết kết nối chủ động dựa trên công nghệ định hướng tại từng AP.

Trong Wireless Mesh Network, khái niệm “định hướng” có thể diễn giải thành hai phần. Đó là sử dụng an-ten phát sóng có định hướng đến user trong từng AP, đồng thời sử dụng nhóm các AP tự động định tuyến với nhau trong cùng hệ thống mạng. Mục đích chính của công nghệ này nhằm tối ưu hóa khả năng kết nối giữa AP và user, cũng như thiết lập kết nối không dây tối ưu giữa các AP với nhau, từ đó giảm số lượng AP cần thiết và tiết kiệm chi phí cho DN.

Để định hướng đến user, các AP thông minh (SmartAP) trong hệ thống Wireless Mesh Network có cấu tạo tích hợp hệ thống “an-ten rắn” với nhiều thành tố an-ten khác nhau, có khả năng kết hợp thành nhiều dạng thức an-ten chuyên biệt (antenna patterns). Các dạng thức này cho phép SmartAP tập trung tín hiệu radio hướng trực tiếp đến từng user, thay vì phát tán trên một vùng rộng như mô hình AP truyền thống. Điều này cũng tương tự như việc tập trung ánh sáng thành luồng của đèn pin so với phát tán ánh sáng của bóng đèn tròn. (Xem hình 1)

Các AP sẽ tự thu thập mô hình tất cả các đường đi đến các user kèm theo hiệu suất, chủ động. Sau đó, AP sẽ định hướng đường truyền tối ưu và dạng thức an-ten được sử dụng để kết nối với từng user. Nếu do một nguyên nhân nào đó, đường truyền lựa chọn bị suy yếu, hệ thống sẽ tự động chuyển sang một đường truyền khác tốt hơn. Thậm chí, nếu cần thiết có thể tự chủ động đổi AP cho user. Bằng cách này, mạng lưới Wi-Fi có thể xác định đường truyền vòng để tránh nhiễu và đảm bảo hiệu suất kết nối cũng như tầm phủ sóng ổn định. (Xem hình 2)




Hình 2.

Mạng cục bộ linh hoạt

Còn giữa các AP trong hệ thống Wireless Mesh Network, quá trình kết nối cũng được thực hiện qua đường truyền Wi-Fi, hoàn toàn không sử dụng cáp nối. Do đó, gần như không có giới hạn về điều kiện địa hình như cách kết nối bằng cáp thông thường, và chỉ cần có nguồn cung cấp điện. Mô hình này rất phù hợp với các DN trong lĩnh vực du lịch, hoặc các DN có văn phòng làm việc quy mô lớn.

Bằng việc ứng dụng công nghệ tự định tuyến tại các AP, hệ thống Wireless Mesh Network sẽ có khả năng tự động thiết lập, tối ưu hóa và khắc phục lỗi. Các AP sẽ liên tục cập nhật lượng thông tin có khả năng truyền dẫn được (throughput) về một Root AP (AP gốc) được lựa chọn. Khi xảy ra tình trạng AP bị lỗi, toàn mạng sẽ tự động điều chỉnh mô hình để định tuyến lưu lượng đi vòng qua AP lỗi này, tiếp tục duy trì khả năng kết nối ổn định của toàn mạng. (Xem hình 3)

Khả năng tự xác định lại mô hình kết nối giữa các AP cũng cho phép không chỉ các user trong vùng phủ sóng có thể di chuyển, mà các AP cũng có thể chuyển đổi vị trí. Do đó, nếu DN xác định thiết lập một AP cụ thể cho một phòng ban, khi di chuyển địa điểm hoặc tiến hành tái cấu trúc sẽ không cần chỉnh sửa, họ chỉ cần khởi động hệ thống là các AP sẽ tự động xác định lại mô hình kết nối tối ưu



Hình 3.

Hiện bản quyền sáng chế mảng an-ten định hướng thông minh trong AP và phần mềm điều khiển hướng sóng đang thuộc sở hữu của Ruckus Wireless.

Nguồn : google.com.vn

Thứ Năm, 26 tháng 4, 2012

Băng tần không cần cấp phép (IMS)

ISM là viết tắt của Industrial, Scientific and Medical (công nghiệp, khoa học và y tế)

Băng tần ISM ban đầu được dành cho các thiết bị năng lượng tần số vô tuyến không có chức năng thông tin liên lạc, chẳng hạn như lò vi sóng, lò sưởi tần số vô tuyến và các mục đích tương tự. Tuy nhiên trong những năm gần đây, các băng tần này được sử dụng nhiều nhất cho các hệ thống thông tin tần số thấp tầm ngắn, những người sử dụng không cần phải có giấy phép sử dụng tần số do chính quyền cấp. Điện thoại cố định không dây, các mạng vi tính không dây, thiết bị Bluetooth và bộ phận mở cửa ga-ra, tất cả đều sử dụng băng tần ISM. Các thiết bị ISM không có quy định chống lại nhiễu từ những người sử dụng khác trong băng tần.


The ISM bands defined by the ITU-R are (bands in italics are subject to local acceptance):

* 6.765–6.795 MHz (centre frequency 6.780 MHz)
* 13.553–13.567 MHz (centre frequency 13.560 MHz)
* 26.957–27.283 MHz (centre frequency 27.120 MHz)
* 40.66–40.70 MHz (centre frequency 40.68 MHz)
* 433.05–434.79 MHz (centre frequency 433.92 MHz) in Region 1
* 902–928 MHz (centre frequency 915 MHz) in Region 2
* 2.400–2.500 GHz (centre frequency 2.450 GHz)
* 5.725–5.875 GHz (centre frequency 5.800 GHz)
* 24–24.25 GHz (centre frequency 24.125 GHz)
* 61–61.5 GHz (centre frequency 61.25 GHz)
* 122–123 GHz (centre frequency 122.5 GHz)
* 244–246 GHz (centre frequency 245 GHz) 

Các bạn có thể xem thêm tại đây

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

So sánh mạng tế bào (cellular) và ad hoc

Đều là mạng không dây và ứng dụng nhiều trong cuộc sống : mạng tế bào là mạng điện thoại các bạn đang dùng còn mạng ad hoc thì giờ hay thấy là dùng laptop phát wifi để các laptop khác bắt và chia sẻ file, tuy nhiên chúng có nhiều điểm cần phân biệt.


Cellular
Ad hoc
Dựa trên cơ sở hạ tầng (các trạm, xử lý trung tâm)
Không cần cơ sở hạ tầng
Liên kết một chặng (từ BTS đến điện thoại)
Nhiều chặng
Định tuyến tập trung
Định tuyến phân tán
Độ tin cậy cao
Các máy có sự di chuyển chứ không đứng im như trạm BTS, tin cậy không cao bằng
Thiết bị có độ phức tạp thấp
Thiết bị cần cấu trúc phức tạp vì ngoài việc thu phát nó còn đóng vai trò như một nút trong mạng (kiểu BTS di động) nên phức tạp và tốn pin
Tái sử dụng phổ
Cảm biến sóng mang
Được sử dụng rộng rãi
Cần phải nghiên cứu, ứng dụng thương mại chưa phổ biến, hay áp dụng cho quân sự do cần sự cơ động

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

Beeline rút khỏi Việt Nam

Beeline rút khỏi Việt Nam Tập đoàn viễn thông VimpelCom (Nga) vừa bán hết cổ phần trong Công ty Viễn thông di động Toàn cầu (Gtel Mobile) cho đối tác Việt Nam. Thương hiệu Beeline cũng rút khỏi thị trường Việt sau 6 tháng tới.

Thương hiệu Beeline sẽ rút khỏi Việt Nam sau 6 tháng tới.

Theo thông cáo báo chí đề ngày 23/4 của VimpelCom, cổ phần của tập đoàn này trong Gtel Mobile đã được nhất trí chuyển nhượng lại cho Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Truyền dẫn và dịch vụ hạ tầng GTEL, một công ty con của Tổng công ty Viễn thông Toàn Cầu (Gtel) của Việt Nam. Theo đó, toàn bộ 49% cổ phần của đối tác ngoại VimpelCom trong liên doanh đã được đơn vị này mua lại, đưa Gtel Mobile trở thành công ty 100% vốn của các cổ đông trong nước.
Mức giá chuyển nhượng cổ phần của VimpelCom trong Gtel Mobile cho đối tác là 45 triệu USD tiền mặt. Hiện Gtel Mobile đang hợp tác với các cơ quan, ban ngành liên quan để hoàn thành mọi thủ tục chuyển đổi cổ phần. Theo thỏa thuận, Gtel Mobile sẽ không dùng thương hiệu Beeline sau 6 tháng kể từ ngày chuyển giao. Ngoài thời điểm đó, đơn vị này sẽ xây dựng một tên thương hiệu mới phù hợp với những tiêu chí và đường lối kinh doanh đã đề ra.
Ông Nguyễn Văn Dư, Phó tổng giám đốc Gtel Mobile khẳng định vẫn cung cấp dịch vụ viễn thông di động tại Việt Nam. "Kế thừa những kinh nghiệm và kết quả đạt được trong thời gian liên kết với VimpelCom, chúng tôi sẽ tiếp tục đầu tư và triển khai tiếp các dịch vụ thông tin di động. Tất cả thuê bao của Beeline đều được đảm bảo quyền lợi của mình", ông Dư nói.

Hồi giữa năm 2011, VimpelCom từng công bố dự định đầu tư thêm 500 triệu USD vào mạng di động Beeline đến hết năm 2013. Sau đó, công ty này cho biết đã chính thức chuyển 196 triệu USD vào liên doanh Gtel Mobile và nâng tỷ lệ cổ phần của cổ đông này lên 49%. Theo báo cáo tài chính quý IV/2011 của VimpelCom, tập đoàn này thua lỗ 527 triệu USD khi đầu tư vào lĩnh vực viễn thông tại Việt Nam và Campuchia.

VimpelCom là nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động lớn tại Đông Âu và Trung Á. Liên doanh GTEL Mobile giữa Gtel và VimpelCom khai trương mạng Beeline vào tháng 7/2009, trở thành nhà mạng di động thứ 7 ở Việt Nam. Sinh sau đẻ muộn song hãng viễn thông này gây được sự chú ý trên thị trường bằng những chương trình khuyến mãi "khủng", điển hỉnh nhất là gói cước Tỷ phú, tặng một tỷ đồng gọi nội mạng cho khách hàng. Tính đến hết năm 2011, theo báo cáo của Beeline gửi Bộ Thông tin và Truyền thông, mạng di động này đã có 6 triệu thuê bao đăng ký. Beeline là mạng di động chưa được cấp phép 3G.
itGate

Wireless Senor Network Evolution (Sự phát triển của mạng cảm biến)



Khái niệm Wireless Sensor Network (WSN) tương đối còn lạ lẫm đối với nhiều người làm việc trong lãnh vực Telecom. Thread này được sử dụng để giới thiệu tổng quan về hệ thống WSN và những ứng dụng của WSN (trong quân sự, công nghiệp và cuộc sống hằng ngày)

1. Giới thiệu
2. Đặc trưng và cấu hình mạng cảm biến
3. Môt số chuẩn mạng cảm biến
4. Ứng dụng của mạng cảm biến
5. Tài liệu tham khảo


1. Giới thiệu
Mạng cảm biến vô tuyến (WSN) có thể hiểu đơn giản là mạng liên kết các node với nhau bằng kết nối sóng vô tuyến (RF connection) trong đó các node mạng thường là các (thiết bị) đơn giản , nhỏ gọn, giá thành thấp ... và có số lượng lớn, được phân bố một cách không có hệ thống (non-topology) trên một diện tích rộng (phạm vi hoạt động rộng), sử dụng nguồn năng lượng hạn chế (pin), có thời gian hoạt động lâu dài (vài tháng đến vài năm) và có thể hoạt động trong môi trường khắc nghiệt (chất độc, ô nhiễm, nhiệt độ ...).

Các node mạng thường có chức năng sensing (sensor node): cảm ứng, quan sát môi trường xung quanh như;nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng ... theo dõi hay định vị các mục tiêu cố định hoặc di động ... Các node giao tiếp ad-hoc với nhau và truyền dữ liệu về trung tâm (base station) một cách gián tiếp bằng kỹ thuật multi-hop.

Lưu lượng (traffic) dữ liệu lưu thông trong WSN là thấp và ko liên tục (không hẳn với tracking và localization aplication). Do vậy để tiết kiệm năng lượng, các sensor node thường có nhiều trạng thái hoạt động (active mode) và trạng thái nghỉ (sleep mode) khác nhau. Thông thường thời gian 1 node ở trạng thái nghỉ lớn hơn ở trạng thái hoạt động rất nhiều.

Như vậy, đặc trưng cơ bản nhất để phân biệt 1 mạng cảm biến và 1 mạng wireless khác chính là giá thành, mật độ node mạng, phạm vi hoạt động, cấu hình mạng (topology), lưu lượng dữ liệu, năng lượng tiêu thụ và thời gian ở trạng thái hoạt động (active mode).


2. Đặc trưng và cấu hình mạng cảm biến

1 node trong mạng WSN thông thường bao gồm 2 phần: phần cảm biến (sensor) hoặc điều khiển và phần giao tiếp vô tuyến (RF transceiver). Do số lượng node trong WSN là lớn và không cần các hoạt động bảo trì, nên yêu cầu thông thường đối với 1 node mạng là giá thành thấp (10 - 50 usd) và kích thước nhỏ gọn ( diện tích bề mặt vài đến vài chục cm2).

Do giới hạn về nguồn năng lượng cung cấp (pin...), giá thành và yêu cầu hoạt động trong một thời gian dài, nên vấn đề tiêu thụ năng lượng là tiêu chí thiết kế quan trọng nhất trong mạng cảm biến:

- Lớp vật lý (physical layer) tương đối đơn giản, gọn nhẹ do ràng buộc về kích thước và khả năng tính toán của node. Kỹ thuật điều chế tín hiệu số : O-QPSK, FSK cải thiện hiệu suất bộ khuếch đại công suất. Các kỹ thuật mã hóa sữa sai phức tạp như Turbo Codes, LDPC không được sử dụng, kỹ thuật trãi phổ được sử dụng để cải thiện SNR ở thiết bị thu và giảm tác động của fading của kênh truyền...
- Lớp MAC: kỹ thuật đa trua cập TDMA hoặc CSMA-CA hiệu chỉnh với mục đích giảm năng lượng tiêu thụ.
- Routing layer: "power aware" Routing Protocol, geography routing ...

WSN thường được triển khai trên một phạm vi rộng, số lượng node mạng lớn và được phân bố một cách tương đối ngẫu nhiên, các node mạng có thể di chuyển làm thay đổi sơ đồ mạng... do vậy WSN đò hỏi 1 sơ đồ mạng (topology) linh động (ad-hoc, mesh, star ...) và các node mạng có khả năng tự điều chỉnh, tự cấu hình (auto-reconfigurable).

Trong một số WSN thông dụng (giám sát, cảm biến, môi trường ...) địa chỉ ID các node chính là vị trí địa lý và giải thuật routing dựa vào vị trí địa lý này gọi là Geography routing protocol (GRT). Đối với mạng với số lượng lớn các node, sơ đồ mạng không ổn định ... GRT giúp đơn giản hóa giải thuật tìm đường, giảm dữ liệu bảng routing (routing table) lưu trữ tại các node. GRT phù hợp với các WSN cố định, tuy nhiên đối với các node di động (địa chỉ ID node thay đổi) giao thức routing trở nên phức tạp và không ổn định.

Cluster hoá: phân chia mạng diện rộng (hàng trăm, hàng ngàn node) thành các clusters để ổn định topology của mạng, đơn giản hóa giải thuật routing, giảm đụng độ (collission) khi truy cập vào kênh truyền (medium acess) nên giảm được năng lượng tiêu thụ , đơn giản hóa việc quản lý mạng và cấp phát địa chỉ cho từng node mạng (theo cluster).

Do giới hạn khả năng tính toán của từng node mạng cũng như để tiết kiệm năng lượng, WSN thường sử dụng các phương pháp tính toán và xử lý tín hiệu phi tập trung (giảm tải cho node gần hết năng lượng) hoặc gửi dữ liệu cần tính toán cho các base station (có khả năng xử lý tín hiệu mạnh và ít ràng buộc về tiêu thụ năng lượng).
...

3. Môt số chuẩn mạng cảm biến

Do phạm vi ứng dụng cua WSN rất rộng lớn, tính chất, đặc trưng của mạng phụ thuộc vào ứng dụng triển khai cụ thể. Do vậy, các công ty, các phòng thí nghiệm vẫn thường phát triển, triển khai giao thức riêng (MAC, Routing, synchronisation ...) phù hợp cho từng ứng dụng cụ thể dựa trên các thiết bị phần cứng (transceiver chip) trên thị trường. Một số chuẩn WSN được biết đến:

ALOHA system (U. of Hawaii)
PRNET system (U.S. Defense)
WINS (U. of California)
PicoRadio (U. of California)
MicroAMPS (M.I.T)
MANET (Mobile ad-hoc Network)
Zigbee: dựa trên physical layer và MAC layer của chuẩn WPAN 802.15.4
...


4. Ứng dụng của mạng cảm biến

WSN được ứng dụng đầu tiên trong các lĩnh vực quân sự. Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp điều khiển tự động, robotic, thiết bị thông minh, môi trường, y tế ... WSN ngày càng được sử dụng nhiều trong hoạt động công nhiệp và dân dụng. Một số ứng dụng cơ bản của WSN:

- Cảm biến môi trường (quân sự: phát hiện mìn, chất độc, dịch chuyển quân địch ... công nghiệp: hệ thống chiếu sáng, độ ẩm, phònh cháy, chống rò rỉ ... dân dụng: hệ thống điều hòa nhiệt độ, chiếu sáng ... )
- Điều khiển (quân sự: kích hoạt thiết bị, vũ khí quân sự ... công nghiệp: điều khiển tự động các thiết bị, robot ... )
- Theo dõi, giám sát, định vị (quân sự: định vị, theo dõi sự dịch chuyển thiết bị, quân đội ... )
- Môi trường (giám sát lũ lụt, bão, gió, mưa ... phát hiện ô nhiễm, chất thải ...)
- Y tế (định vị, theo dõi bệnh nhân, hệ thống báo động khẩn cấp ...)
- Hệ thống giao thông thông minh: giao tiếp giữa biển báo và phương tiện giao thông, hệ thống điều tiết lưu thông công cộng, hệ thống báo hiệu tai nạn, kẹt xe ... hệ thống định vị phương, trợ giúp điều khiển tự động phương tiện tiện giao thông...
- Gia đình (nhà thônh minh: hệ thống cảm biến, giao tiếp và điều khiển các thiết bị thông minh ...)
...

WSN tạo ra môi trường giao tiếp giữa các thiết bị thông minh, giữa các thiết bị thông minh và con người và giao tiếp giữa các thiết bị thông minh và các hệ thống viễn thông khác (hệ thống thông tin di động, internet ... )

5. Tài liệu tham khảo

Anna HAC, book " Wireless Sensor Network Deigns", Wiley
Edgar H. Callaway, book " Wireless Sensor Networks: Architectures and Protocols", Aurebach
"Wireless Sensor Network" Wikipédia keyword.



Thứ Hai, 23 tháng 4, 2012

Mobile ad hoc network (MANET)

Trích: Đồ án tốt nghiệp: Phạm Quang Huy - D04VT2 - PTIT HN


Giới thiệu về MANET

Các thiết bị di động như các máy tính xách tay, với đặc trưng là công suất CPU, bộ nhớ lớn, dung lượng đĩa hàng trăm gigabyte, khả năng âm thanh đa phương tiện và màn hình màu đã trở nên phổ biến trong đời sống hàng ngày và trong công việc. Đồng thời, các yêu cầu kết nối mạng để sử dụng các thiết bị di động gia tăng đáng kể, bao gồm việc hỗ trợ các sản phẩm mạng vô tuyến dựa trên vô tuyến hoặc hồng ngoại ngày càng nhiều. Với kiểu thiết bị điện toán di động này, thì giữa những người sử dụng di động luôn mong muốn có sự chia sẻ thông tin.

Một mạng tùy biến là một tập hợp các thiết bị di động hình thành nên một mạng tạm thời mà không cần sự trợ giúp của bất kỳ sự quản lý tập trung hoặc các dịch vụ hỗ trợ chuẩn nào thường có trên mạng diện rộng mà ở đó các thiết bị di động có thể kết nối được. Các node được tự do di chuyển và thiết lập nó tùy ý, do đó, topo mạng không dây có thể thay đổi một cách nhanh chóng và không thể dự báo. Nó có thể hoạt động một mình hoặc có thể được kết nối tới Internet. MANET là một mạng có cơ sở hạ tầng nhỏ do nó không yêu cầu bất cứ một cơ sở hạ tầng cố định nào (như một trạm cơ sở) cho hoạt động của nó vì và vậy nó có thể được triển khai nhanh chóng và có khả năng tự cấu hình. Các node truyền thông không dây và chia sẻ cùng phương tiện.

Do MANET là một mạng mềm dẻo mà có thể được thiết lập tại bất cứ đâu vào bất cứ thời điểm nào mà không cần đến cơ sở hạ tầng hiện tại
, bao gồm cả sự cấu hình trước đó và người quản trị, mọi người có thể nhận ra tiềm năng thương mại và lợi thế của mạng ad hoc có thể mang lại. MANET có thể được dùng trong quân sự, trong các mạng cảm biến, các hoạt động cứu hộ, sử dụng để truyền thông giữa các sinh viên trong khu trường sở, trao đổi thông tin và dữ liệu trong các khu thương mại, tự do chia sẻ kết nối Internet, dùng trong các buổi hội thảo…


MANET có hai chế độ hoạt động chính là chế độ cở sở hạ tầng và chế độ IEEE Ad- hoc.

Chế độ cơ sở hạ tầng: Chế độ này thì mạng bao gồm các điểm truy cập AP cố định và các node di động tham gia vào mạng, thực hiện truyền thông qua các điểm truy cập. Trong chế độ này thì các liên kết có thể thực hiện qua nhiều chặng.



Chế độ cơ sở hạ tầng

Chế độ IEEE Ad- hoc: Chế độ này thì các node di động truyền thông trực tiếp với nhau mà không cần tới một cơ sở hạ tầng nào cả. Trong chế độ này thì các liên kết không thể thực hiện qua nhiều chặng.




Chế độ IEEE Ad- hoc

Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2012

Tắc nghẽn và giải pháp trong mạng

Tắc nghẽn trong mạng thì cũng như tắc đường thôi, có điều thay vì là xe cộ thì đây là các gói tin và thay vì chỉ làm mọi người không di chuyển được thì tắc nghẽn trong mạng không những làm ngưng trệ, có thể làm mất gói tin nếu là kiểu truyền không đảm bảo.
Điều khiển tắc nghẽn thì cũng như điều khiển giao thông:
  • Điều chỉnh luồng lưu lượng trong mạng
  • Tránh làm bão hòa hoặc quá tải các nút trung gian
Nguyên nhân : Nhu cầu lưu lượng đầu vào vượt quá dung lượng mạng .

Khi nghẽn mạng thì để giảm lưu lượng, các nút có thể lưu đệm chờ khi mạng đỡ nghẽn thì mới truyền nhưng đó chỉ là giải pháp tạm thời và nếu cứ nghẽn suốt thì sẽ quá tải bộ đệm (tương tự cảnh sát giao thông chặn 1 chiều, bắt chiều kia đi nhưng nếu cứ chặn mãi thì chiều bị chặn sẽ càng ngày càng dài ra, số người xếp hàng càng đông)

Với mạng tốc độ càng nhanh thì tình trạng tắc nghẽn càng trầm trọng vì thời gian xảy ra nhanh, dữ liệu nhiều, cần nhiều bộ đệm.

Có 2 giải pháp cơ bản để giải quyết là phản ứng (reactive) và phòng tránh (preventive)
  • Phản ứng: phát hiện tắc nghẽn, hoặc tấn công vào tắc nghẽn, hành động để giải quyết vấn đề trước khi tình trạng tắc nghẽn trở nên xấu hơn.
  • Phòng tránh: ngăn tắc nghẽn xảy ra bằng cách đặt chỗ trước tài nguyên.
Phần lớn các giải pháp của internet là các cơ cấu reactive.
Phần lớn các giải pháp của ATM là preventive.

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2012

Lôgarit


Đồ thị các hàm lôgarit cơ số 2, e, 10, và 1/2.
Với a là một số dương khác 1 và b là một số dương, số thực α thỏa mãn aα = b được gọi là lôgarit cơ số a của b và kí hiệu loga(b)
Lôgarit của tích hai số bằng tổng của lôgarit hai số đó:
logb(xy) = logb(x)+logb(y).
Nhờ quy tắc này mà nhiều thế kỷ trước các nhà toán học và kỹ thuật có thể sử dụng bảng lôgarit để thực hiện phép nhân hai số thông qua phép cộng lôgarit, do phép cộng thì dễ tính hơn phép nhân. Nhà toán học John Napier đã phát minh ra phép tính này ở thế kỷ 17.
Để sử dụng bảng lôgarit, người ta thường đưa về lôgarit cơ số a = 10, gọi là lôgarit thập phân để thuận tiện cho tra bảng và tính toán. Lôgarit tự nhiên lấy hằng số e (xấp xỉ bằng 2,718) làm cơ số, và nó được sử dụng rộng rãi trong toán thuần túy. Lôgarit nhị phân với cơ số bằng 2 được sử dụng trong khoa học máy tính.
Thang lôgarit cho phép thu hẹp các đại lượng về phạm vi nhỏ hơn. Ví dụ, độ Richter đo năng lượng của động đất cũng sử dụng thang đo lôgarit, decibel là đơn vị lôgarit đo áp suất âm thanh. Lôgarit cũng thường gặp trong các công thức khoa học và kỹ thuật, như đo độ phức tạp của thuật toán và fractal, thậm chí trong công thức đếm số nguyên tố.


Ứng dụng logarit được sử dụng trong viễn thông rất nhiều vì các đại lượng nhất là tín hiệu biến thiên trong những khoảng rất lớn, xem bài (dB, dBm, dBw dBd, dBi, dBc)

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012

Các loại mô hình kênh truyền thông dụng thường gặp

Mô hình kênh thường được dùng trong tính toán và nhất là hay dùng trong mô phỏng (máy tính tính hộ). Mình không giỏi mấy môn tính toán, xác suất và nhất là ở trường cũng chỉ dạy về AWGN (tạp âm nhiệt hay nhiễu Gauss), đi thi không hiểu gì đến mấy dòng công thức xác suất, phân bố thì cố học thuộc để chép vào bài thi thôi (các bạn có khả năng thì đừng như mình nhé), các bạn muốn tìm hiểu thêm về tính toán thì xem sách vở hoặc google để có tài liệu chuyên sâu.
Tuy nhiên đến lúc làm đồ án thì lại vấp phải vì cần phải mô phỏng kênh vô tuyến di động 3.5G HSDPA, nhưng mà may, thời buổi xa lộ thông tin và mã nguồn các kênh thì đã có code sẵn, tuy nhiên với những bạn như mình trở xuống thì vẫn cần phải biết một vài loại kênh để mà áp dụng. Sau đây là các loại kênh minh biết :
  • AWGN : có nguyên 1 bài viết ở đây , đây là loại mà ở đâu cũng có (chắc trừ trong vụ trụ thì may ra không), trong mô phỏng thì mình xem code thấy khi chọn mô hình kênh Rayleigh thì trước đó vẫn được cộng AWGN rồi. Về đặc điểm thì nếu mô phỏng mà chỉ có AWGN thì là các bạn đang mô phỏng một kênh rất tốt (trước học thì thấy là kênh hữu tuyến, cáp đồng - không rõ cáp quang thì thế nào).
  • Rician (kênh Rice): dùng để mô tả kênh vô tuyến mà có yếu tố truyền thẳng (có thể truyền tín hiệu thẳng từ máy phát đến máy thu mà không bị che chắn), tất nhiên có cả các yếu tố đa đường thông thường. Kênh này kiểu như mô tả chất lượng kênh ở mức trung bình.
  • kênh Rayleigh là kênh tổng hợp của các kênh bao gồm cả các đường phản xạ, nhiễu xạ, khúc xạ mà ko chứa đường LOS (Line-of-sight).

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes