Tìm kiếm nhanh và chính xác hơn với google tùy chỉnh

Thứ Ba, 19 tháng 6, 2012

SÓNG HẠ ÂM: Tác động của nó đến sức khoẻ con người như thế nào?

Một vụ án mạng ly kỳ …
Tháng 2 năm 1948, trên một chiếc tàu chở hàng của Hà Lan khi đi qua eo biển Malaca của Malaysia, toàn thể thuỷ thủ đoàn và một con chó ở trên tàu đã đột ngột chết. Họ không và cũng không có dấu hiệu trúng độc mà hình như do bệnh tim bột phát mà chết. Vụ án li kỳ trên biển này lập tức làm cho mọi người hết sức xôn xao. Mấy chục năm đã trôi qua, công tác đều tra không có một chút tiến triển nào. Mãi cho đến gần đây vụ án này mới có một số manh mối. Hung thủ tìm thấy được chính  là ²sóng hạ âm² nhìn không thấy, nghe không được …
Thủ phạm chính là sóng hạ âm!
Sóng hạ âm là môt loại sóng âm, so với âm thanh bình thường nó rung động chậm hơn một chút, mỗi giây rung không đến 20 lần. Do nó rung động quá chậm nên tai người không nghe thấy. Tuy nghe không được nhưng đối với thân thể con người nó rất có hại. Đó là vì tổ chức và lục phủ ngủ tạn trong thân người vô cùng nhạy cảm với sóng hạ âm, hấp thu rất dễ dàng năng lượng chấn động của sóng hạ âm để rồi rung động mãnh liệt lên. Khi chiếc tàu Hà Lan nói trên đi qua eo biển Malacca đúng lúc trên biển có  bão, sóng hạ âm trong bão không chỉ ở cường độ lớn  mà sự nhanh chậm của rung động lại ở phạm vi mà tim người nhạy cảm. Dưới sự kích thích, không ngừng của sóng hạ âm bên ngoài, tim người đã hấp thu năng lượng của sóng hạ âm để rồi rung động dữ dội, dẫn đến tim đập loạn xạ, mạch máu bị vỡ cuối cùng tim bị tê liệt, máu ngừng chảy, rồi chết.
Sóng hạ âm ảnh hưởng đến cuộc sống của bạn như thế nào?
Trong sinh hoạt hàng ngày người ta thường bị ảnh hưởng của những rung động bên ngoài, như chịu ảnh hưởng của sự lúc lắc của xe tàu, rung động cơ khí và tiến ồn v.v… Khi mà những rung động đó phù hợp với phạm vi của sóng hạ âm thì ảnh hưởng của con người càng lớn. Nó có thể làm cho say xe, say tàu, thậm chí rứt đầu, nôn mửa, tình hình tương tự cũng xảy ra trong con tàu vũ trụ. Trong quá trình phóng con tàu vũ trụ, sự rung động dữ dội của máy móc cũng gây ra sóng hạ âm, nếu biện pháp cách li rung động và phòng ngừa rung động của con tàu không tốt thì không những làm cho thân thể của các phi công vũ trụ không thích ứng mà do đó còn có thể tri giác, dẫn tới việc gây ra sự cố nghiêm trọng.
Giảm tác động của sóng hạ âm bằng cách nào?
Vì vậy trong thiết kế ô tô và tàu bè nhất là ở con  tàu vũ trụ, đều phải dùng những biện pháp có hiệu quả để giảm rung động, cách li rung động. Khi không thể ngăn ngừa được thì phải thay đổi kết cấu thiết kế để làm cho rung động do chúng gây ra cách xa phạm vi mà thân người nhạy cảm với sóng hạ âm. Ngoài ra khống chế nghiêm ngặt tiếng ồn của môi trường, cũng là một biện pháp quan trọng để giảm thấp sự nguy hại của sóng hạ âm đối với con người …
VL&CS tổng hợp và phân tích

HDMI

HDMI (là từ viết tắt của High-Definition Multimedia Interface) chỉ một ngõ cắm HDMI hoàn toàn tương thích với máy vi tính, màn hình hiển thị và những thiết bị điện tử gia đình theo chuẩn Giao Tiếp Hình Ảnh KTS (DVI). Cả hai chuẩn HDMI và DVI đều là phát minh của công ty Silicon Image dựa trên công nghệ TMDS®, là công nghệ kết nối tuần tự tốc độ cao, mạnh mẽ của công ty Silicon Image.
HDMI hỗ trợ tất cả các chuẩn hình ảnh tiêu chuẩn, tăng cường, hoặc độ nét cao, cũng như tín hiệu âm thanh đa kênh trên một dây cáp duy nhất. Nó truyền tải tín hiệu TV độ nét cao ATSC và hỗ trợ âm thanh KTS 8 kênh, với băng thông là 5 Gbps. HDMI có khả năng đáp ứng những đòi hỏi mở rộng băng thông trong tương lai.Vì HDMI được thiết kế cho những ứng dụng trong thiết bị gia đình, nên nó có khả năng hỗ trợ tốt cho nhu cầu của khách hàng dân dụng và trong các cơ quan xí nghiệp.

Loài khỉ bé nhỏ Tarsier có thể nói bằng sóng âm

Theo một nghiên cứu được công bố ngày 8/2, một trong những loài linh trưởng nhỏ nhất trên thế giới, giống khỉ lùn Tarsier của Philippines, có khả năng giao tiếp với nhau bằng tần suất sóng siêu âm mà các con mồi hay kẻ săn mồi khác không thể nghe thấy được.

Chỉ nhỏ bằng một bàn tay người, loài khỉ họ Tarsius có thể nghe và phát ra âm thanh ở một tần số riêng, tạo thành kênh liên lạc cá nhân nhằm cảnh báo nguy hiểm hoặc săn côn trùng cho bữa ăn về đêm.

Số lượng động vật có vú có khả năng phát và nhận những tín hiệu âm thanh trong tần suất sóng siêu âm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay, trên 20 ki-lo-héc (kHz), bao gồm cả cá voi, mèo và một số loại dơi.

Và càng ít loài có thể vừa rít, kêu và thét lên trong cùng một tần số âm thanh như loài khỉ mắt to Tasier này, từ trước tới nay luôn bị các nhà khoa học nhầm lẫn rằng chúng “im lặng một cách bình thường” cho tới khi có kết quả cuộc nghiên cứu trên.

Đôi tai của loài khỉ này có khả năng bắt được tần số trên 90 kHz, và có thể phát ra âm thanh đạt tầm 70 kHz.

Nếu đem so sánh thì loài người không thể nghe được âm thanh vượt quá 20 kHz, và một tiếng huýt gọi chó cũng chỉ giao động tầm giữa 22 và 23 kHz.

Một nhóm các nhà khoa học người Mỹ và Philippines được dẫn đầu bởi bà Marissa Ramsier thuộc đại học Humboldt State tại California đã đem lại kết luận trên bằng hai phương pháp.

Đầu tiên họ bắt sáu sinh vật ngoan ngoãn sống về đêm thuộc họ Tarstier và đặt chúng vào một căn phòng âm thanh được xây đặc biệt để kiểm tra độ nhạy cảm của chúng với các âm thanh có tần số cao.

Sau khi hoàn tất thí nghiệm, loài sinh vật đang có nguy cơ tuyệt chủng này đã được đưa về nơi sinh sống tự nhiên của mình một cách an toàn, trên hòn đảo Mindanao thuộc Philippines.

Để đo được tần suất sóng siêu âm của loài khỉ này, các nhà nghiên cứu đã theo dõi 35 con khỉ sống trong tự nhiên.

“Tần suất tối thiểu của tiếng gọi là 67 kHz, cao nhất trong số các sinh vật có vú, ngoại trừ dơi và một số loài gặm nhấm khác,” là kết quả của cuộc nghiên cứu được đăng trên tờ Tạp chí sinh vật của cộng đồng Hoàng gia Anh.

Loài khỉ Tarsier có lợi thế gì với tần suất âm thanh cao đến như vậy? Theo các nhà khoa học thì có khó nhiều tiện ích cho chúng. Một trong số đó là khả năng nghe được một âm thanh báo động im lặng.

“Những tiếng gọi bằng sóng siêu âm có thể đem lại lợi ích cho cả người phát sóng lẫn người nhận được nó, khi những âm thanh này khiến cho kẻ săn mồi gặp khó khăn trong việc định vị chúng,” các nhà nghiên cứu giải thích.

Khả năng đặc biệt của loài khỉ Tarsier còn giúp chúng có thể nghe lén được những tiếng động phát ra từ con mồi, từ những loài như dế, gián (thực đơn ăn kiêng của chúng) cho tới các loài bướm, châu chấu voi hay chim non.

Cuối cùng, cuộc nghiên cứu kết luận rằng khả năng liên lạc bằng tần suất sóng siêu âm khiến chúng sàng lọc được hết những “tiếng ồn” tần số thấp cũng như các tiếng ồn khác trong môi trường nhiệt đới.

Loài khỉ Tarsier có năm ngón tay, tương tự như loài người. Là loài sống về đêm song chúng không có khả năng nhìn trong bóng đêm như các loài khác. Bù lại chúng có cặp mắt - nếu so với tỉ lệ cơ thể - to nhất trong số tất cả các loài linh trưởng trên Trái Đất./.
 

Vi ba

Vi ba (hay vi sóng / sóng ngắn) là sóng điện từ có bước sóng dài hơn tia hồng ngoại, nhưng ngắn hơn sóng radio.
Vi ba, còn gọi là tín hiệu tần số siêu cao (SHF), có bước sóng khoảng từ 30 cm (tần số 1 GHz) đến 1 cm (tần số 30 GHz). Tuy vậy, ranh giới giữa tia hồng ngoại, vi ba và sóng radio tần số cực cao (UHF) rất là tuỳ ý và thay đổi trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Sự tồn tại của sóng điện từ, trong đó vi ba là một phần của phổ tần số cao, được James Clerk Maxwell dự đoán năm 1864 từ các phương trình Maxwell nổi tiếng. Năm 1888, Heinrich Hertz đã chế tạo được thiết bị phát sóng radio, nhờ vậy lần đầu tiên chứng minh sự tồn tại của sóng điện từ.
Chú thích: trên 300 GHz, khí quyển Trái Đất hấp thụ bức xạ điện từ mạnh đến nỗi khí quyển thực sự không trong suốt đối với các tần số cao của bức xạ điện từ, nhưng khí quyển lại trở nên trong suốt trong phần quang phổ nhìn thấy được và vùng hồng ngoại.

Phát sinh

Có thể tạo ra vi ba bằng nhiều thiết bị, chia làm hai loại: thiết bị chất rắn và thiết bị ống chân không.
Thiết bị vi ba chất rắn dựa trên chất bán dẫn như silicon hoặc arsenur galli, và ngay cả các transistor hiệu ứng trường (FET), transistor tiếp xúc mặt lưỡng cực (BJT), các diode Gunn và diode IMPATT (diode dòng thác va chạm có thời gian quá cảnh). Từ các transistor tiêu chuẩn người ta phát triển những linh kiện tốc độ cao hơn dùng trong các ứng dụng vi ba. Biến thể vi ba của transistor BJT có loại HBT (heterojunction bipolar transistor), biến thể vi ba của transistor FET thì có loại MESFET (transistor hiệu ứng trường có màng bán dẫn kim loại), loại HEMT (còn gọi là HFET), và transistor LDMOS.
Thiết bị ống chân không hoạt động dựa trên chuyển động của electron trong chân không dưới ảnh hưởng của điện trường hoặc từ trường, gồm có magnetron, klystron, đèn sóng chạy (TWT), và gyrotron.

Ứng dụng

  • Lò vi sóng (cũng gọi là lò vi ba) dùng một magnetron sinh ra vi ba có tần số khoảng 2,45 GHz để nấu nướng. Vi ba nấu thức ăn bằng cách làm rung các phân tử nước và hợp chất khác. Sự rung này tạo sức nóng làm chín thức ăn. Vì các chất hữu cơ chủ yếu cấu tạo bằng nước nên phương pháp này dễ dàng nấu chín thức ăn.
  • Vi ba được dùng trong thông tin vệ tinh vì vi ba dễ dàng truyền qua khí quyển Trái Đất, ít bị nhiễu so với các bước sóng dài hơn. Ngoài ra, trong phổ vi ba còn nhiều băng thông hơn phần còn lại của phổ radio.
  • Vi ba cũng được dùng rộng rãi trong thông tin vô tuyến chuyển tiếp đến nỗi từ vi ba thực tế đồng nghĩa với vô tuyến chuyển tiếp (thường gọi "liên lạc vi ba", "tuyến vi ba", "trạm vi ba"...) mặc dù có 1 số thiết bị vô tuyến chuyển tiếp hoạt động trong dải tần số 410-470 MHz (thuộc băng tần số cực cao UHF).
  • Radar cũng dùng bức xạ vi ba để phát hiện khoảng cách, tốc độ và các đặc trưng khác của những đối tượng ở xa, như ô-tô và các phương tiện giao thông.
  • Các giao thức mạng không dây (wireless LAN) như Bluetooth và các chuẩn IEEE 802.11g và 802.11b dùng vi ba trong dải 2,4 GHz (thuộc băng tần ISM, tức băng tần công nghiệp, khoa học và y tế), còn chuẩn 802.11a dùng băng tần ISM dải 5,8 GHz. Nhiều nước (trừ Hoa Kỳ) cấp phép cho dịch vụ truy cập Internet không dây tầm xa (đến 25 km) trong dải 3,5–4,0 GHz.
  • Truyền hình cáp và truy cập Internet bằng cáp đồng trục cũng như truyền hình quảng bá dùng vài tần số vi ba thấp. Một số mạng điện thoại di động tế bào cũng dùng dải tần số vi ba thấp.
  • Vi ba có thể dùng để truyền tải điện đường dài; sau Đệ nhị thế chiến người ta đã khảo sát khả năng đó. Thập niên 1970 và đầu thập niên 1980 NASA tiến hành nghiên cứu khả năng dùng hệ thống Vệ tinh sử dụng năng lượng Mặt Trời (SPS, Solar Power Satellite) với những tấm pin mặt trời lớn có thể truyền tải điện xuống bề mặt Trái Đất bằng vi ba.
  • Maser là thiết bị tương tự laser, chỉ khác là hoạt động trên tần số vi ba.

Băng tần vi ba

Phổ vi ba thường được xác định là năng lượng điện từ có tần số khoảng từ 1 GHz đến 1000 GHz, nhưng trước đây cũng bao gồm cả những tần số thấp hơn. Những ứng dụng vi ba phổ biến nhất ở khoảng 1 đến 40 GHz. Băng tần vi ba được xác định theo bảng sau:
Băng tần vi ba
Ký hiệu Dải tần
Băng L 1 đến 2 GHz
Băng S 2 đến 4 GHz
Băng C 4 đến 8 GHz
Băng X 8 đến 12 GHz
Băng Ku 12 đến 18 GHz
Băng K 18 đến 26 GHz
Băng Ka 26 đến 40 GHz
Băng Q 30 đến 50 GHz
Băng U 40 đến 60 GHz
Băng V 50 đến 75 GHz
Băng E 60 đến 90 GHz
Băng W 75 đến 110 GHz
Băng F 90 đến 140 GHz
Băng D 110 đến 170 GHz
Bảng trên theo cách dùng của Hội vô tuyến điện Anh (Radio Society of Great Britain, RSGB). Đôi lúc người ta ký hiệu dải tần số cực cao (UHF) thấp hơn băng L là băng P. Xem thêm các định nghĩa khác: Letter Designations of Microwave Bands.

Điện thoại SIP

Điện thoại SIP giống như Điện thoại VoIP hoặc điện thoại mềm. Đây là các điện thoại cho phép thực hiện các cuộc gọi bằng cách sử dụng công nghệ VoIP (giao thức truyền giọng nói qua Internet).
Có hai loại điện thoại SIP. Loại thứ nhất là điện thoại SIP chạy trên phần cứng giống như điện thoại để bàn nhưng có thể nhận và thực hiện các cuộc gọi qua internet thay vì hệ thống PSTN truyền thống.
Điện thoại SIP cũng có thể chạy trên phần mềm. Các tùy chọn này cho phép mọi máy tính được sử dụng như điện thoại qua tai nghe có micrô và/hoặc card âm thanh. Ngoài ra, cần phải kết nối băng thông rộng và kết nối với nhà cung cấp VOIP hoặc máy chủ SIP.
Hệ thống điện thoại 3CX nền Windows có thể được sử dụng với Điện thoại SIP chạy phần cứng thông dụng nhất. Nó cũng tương thích với Điện thoại SIP chạy phần mềm hoàn toàn MIỄN PHÍ vốn hoạt động như một Ứng dụng VoIP cho hệ thống điện thoại 3CX.


Thứ Hai, 18 tháng 6, 2012

Kinh nghiệm bảo vệ đồ án

Mình đã chia sẻ đồ án của mình ở đây kèm file bảo vệ và kịch bản nói.

Mình bảo vệ được 9.6, trong khi điểm trung bình khi ra trường chỉ hơn 7 phảy, kiến thức mình mình biết, cũng không phải cao siêu gì để mà được 9.6 như trên. Có mấy yếu tố dẫn đến con số trên:
  • Slide đẹp.
  • Ăn mặc lịch sự (áo trắng, quần âu, đi giày da)
  • Ăn nói trôi chảy ít vấp.
  • Có mô phỏng.
  • Các câu hỏi thày hỏi thì vào phần mình hiểu (không lệch tủ thì cũng ngu như thường).
  • Những đứa trước trình bày kém.
  • Có thể thày nhầm mình sang 1 đối tượng được đặc cách gì đó cũng nên ^_^ (khổ thân thằng nào bị mất ưu ái vì nhầm sang mình).
  • Trời mát
 Thang điểm của đồ án trường HVKTQS khóa của mình tính như sau

(điểm đồ án + điểm thày hướng dẫn + (điểm 5 thày trong hội đồng*2))/12

Và đồ án thì mình tự đánh giá là còn nhiều thiếu sót và sau khi nộp phát hiện ra là có nhiều lỗi linh tinh và trình độ thì phù hợp với 1 thằng 7 phảy hơn là 1 đứa bảo vệ được 9.6 (cao nhì khoa đấy ^_^)
Như mình đã nói ở phần giới thiệu bản thân về nguyên lý 80/20 (nguyên lý không công bằng), có những thứ quan trọng hơn và giá trị nhiều hơn những thứ khác, trong đồ án cũng vậy thôi, có 8 lý do mình vạch ra ở trên thì 7 lý do là ở khâu cuối, chỉ có 1 lý do do quá trình làm là có mô phỏng, điểm các thày thì cũng thấy rõ 10/12 hệ số điểm nằm ở khâu bảo vệ.

Vậy mình khuyên như sau (tuy nhiên cũng tùy thày và độ "thất thường" của thời tiết):
  • Đồ án in trình bày không cần quá kỳ công, chỉ cần đơn giản, dễ hiểu, những phần pro hơn bọn nó (mô phỏng, sản phẩm) cần phải làm sao cho thày dễ nhận ra nhất, sao chép thì cũng phải làm sao cho đỡ phản cảm.
  • Chú trọng làm slide, học thuộc kịch bản định nói (ít nhất 70% nội dung nói)
  • Bảo vệ thử nhiều lần, gom mấy đứa bạn, ở nhà tự kỉ, lên nhờ thày bảo vệ check hộ ...
  • Đi xem mấy người khóa trên bảo vệ là tốt nhất, lúc đầu mình sợ mặc đồ kia lại chẳng giống ai thì bị cười, may mình vần cuối, bọn ở đầu nó mặc thế hết nên lên không bị sợ gì, mấy bạn vần đầu thì tốt nhất năm 4 lên xem khóa trên bảo vệ để lấy tinh thần.
  • Hiểu đồ án -> xác suất trả lời cao. Nhiều bạn làm đồ án ở nhà gần giường gần pc, thừa thời gian, buồn chán muốn đi chơi đú đởn hay nhiều bạn năng động hoặc có người chỉ trước thì làm đồ án thì đã ít nhiều chuẩn bị cho công việc, xin việc trước rồi, rồi đến gần thi xin câu hỏi của thày, nhưng nói chung là làm kiêu đấy chả hay lắm, mà còn các thày khác ngẫu hứng, các bạn có đi cả hội đồng được không. Tốt nhất là học được đến đâu thì tốt đến đấy, các chiến lược hay "thủ thuật" khác không bàn ở đây.
  • Trời nóng thì nhớ mua nước cho thày.
Bảo vệ đồ án có ý nghĩa thiêng liêng trong cuộc đời sinh viên, đó là 1 lần bảo vệ thành quả của mình làm ra trong nhiều tháng, nếu muốn khẳng định, bỏ qua 1 bên tất cả những gì về toan tính đời sống mà vẫn đảm bảo tính an toàn cho mình, mình khuyên các bạn nếu mục tiêu là 8 phảy, hãy cố điểm trung bình 8.2 trở lên, nếu mục tiêu là 7 phảy, hãy cố trung bình 7.2 trở lên, còn đồ án, kiểu gì thày cũng phải cho đỗ với điểm đó, hãy lấy khoảng dư đó làm chi phí đảm bảo không bị rớt bằng và hãy bước lên bảo vệ bằng sức của chính mình, với khoảng bảo vệ 0.2 đó thì không thể bị rớt xếp loại bằng được mà có 1 cơ hội được sống thật với bản thân mình.
Vậy nhé, chúc các bạn khóa sau thi tốt.

Các dịch vụ chat tích hợp thoại

Các dịch vụ chat tích hợp thoại

Nói đến cách dịch vụ này thì có hơi hướng của các thiết bị truyền thống, dùng phổ biến trên pc, laptop.
Ở Việt Nam thì phải nói đến đầu tiên là các dịch vụ yahoo messenger và skype.
Yahoo thì quá thông dụng rồi, dù giờ tập đoàn Yahoo đi xuống nhiều nhưng vì lượng người sử dụng quá lớn, khi gửi nick chat, không nói là nick mạng nào thì người Việt Nam nghiễm nhiên hiểu đó là nick yahoo. Dịch vụ này cũng có hỗ trợ thoại tuy nhiên đứng ở mức độ người dùng mình có mấy nhận xét sau đây:
  • Tính năng: nhiều
  • Giao diện: tiện lợi, cũng khá đẹp
  • Độ ổn định : dạo gần đây rất hay bị lỗi send file, độ ổn định thì bình thường nhưng nói chung là chưa hài lòng lắm
  • Chất lượng thoại : không tốt, muốn tiện thì dùng luôn nhưng muốn đảm bảo thì hãy bảo người bên kia chuyển sang skype khi muốn gọi, được cái là giờ cũng hỗ trợ di động để thoại
Dịch vụ chat thứ 2 chính là Skype. Nói đến Skype thì người ta nghĩ ngay đến dịch vụ voice chat chất lượng tốt, và quả thực là nó tốt thật nếu so sánh với yahoo, tuy nhiên người sử dụng skype thì ít, 2 tài khoản yahoo và skype không add nick được nhau nên muốn liên lạc nhiều người và tiện thì cứ phải yahoo. Mình gạch ra vài nhận xét :
  • Tính năng khá là tương đương với yahoo
  • Giao diện: đẹp hơn, theo nhận xét của mình nhưng emoticon thì xấu hơn yahoo
  • Độ ổn định : ít dùng hơn yahoo, chủ yếu chỉ khi chat nhưng mình thấy nó khá ổn định
  • Chất lượng thoại: rất tốt, hiện đã hỗ trợ video chat độ phân giải HD .

Các dịch vụ gọi miễn phí qua di động, máy tính bảng

Mình dùng điện thoại android và android thì hỗ trợ cả 2 dịch vụ chat và video trên, với các máy tính bảng android có mic, wifi (hoặc 3g, 4g) thì có thể thoại được, và nếu có camera trước thì video chat như trên máy tính luôn, rất tiện lợi, tuy nhiên lại có 1 số hình thức tiện lợi mới được sinh ra.

Whatsapp, Viber là 2 ứng dụng tiêu biểu. Với đặc điểm là cả máy nghe lẫn máy gọi đều phải kết nối mạng thì mới có tín hiệu liên lạc, tuy nhiên với giá cước internet di động ngày càng rẻ, thiết bị smartphone ngày càng nhiều thì việc 2 bên có 2 thiết bị di động luôn kết nối net là chuyện ngày càng phổ biến, tuy nhiên 2 cái này hơn các dịch vụ truyền thống ở chỗ sau khi kích hoạt số điện thoại mình thì nick mình chính là nick viber, whatsapp luôn, không cần đăng nhập, không cần password ... có khi sau này thay thế dịch vụ gọi thường ấy chứ.


Thoại VOIP trong doanh nghiệp
VOIP là hình thức thoại thông qua mạng nội bộ, được ứng dụng trong doanh nghiệp, blog cũng có 1 số bài nên mình không trình bày sâu, đặc điểm thì cũng giống mấy cái trên thôi, đều dùng đường truyền net nhưng đây là mạng nội bộ -> truyền tốc độ cao, ổn định hơn, chắc là bảo mật hơn và thiết bị phải mua riêng.

Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2012

NAT và PAT

Network Address Translation: NAT là kỹ thuật thay đổi các địa chỉ mạng (Network Address) trong một gói tin (packet) để gây ảnh hưởng trong quá trình định hướng đi của packet cho một mục đích cụ thể. Địa chỉ mạng ở đây muốn nói đến địa chỉ IP WAN (Internet Protocol) ở layer 3, ngoài ra còn có thể thay đổi số port ở layer 4 theo mô hình phân lớp OSI. Bên cạnh đó địa chỉ mạng còn được phân biệt địa chỉ nguồn (source) và địa chỉ đích (destination). Tùy theo mục đích dùng NAT mà ta thay đổi một số hoặc tất cả các loại địa chỉ trên, trên cùng một packet.

Đây là loại hình NAT phổ biến nhất, ta còn hay gọi là Des NAT, hay NAT Inbound. NAT theo kiểu này chỉ thay đổi địa chỉ IP đích của gói tin mà không đụng đến các thành phần khác. Đây cũng là kiểu được sử dụng mặc định trong các ROUTER ( thiết bị định tuyến nói chung ) theo cách sau:

• Khi client gửi packet request i tới ROUTER, i sẽ có dest IP là Virtual IP của ROUTER (141.149.65.3), source IP là IP của client (188.1.1.10). Do ROUTER đại diện cho tất cả những server thực đằng sau, nên IP của ROUTER cũng là địa chỉ đại diện, client sẽ chỉ liên hệ với ROUTER mà không biết được địa chỉ thật của các server là gì ( trước khi biết VIP của router nó phải nhờ DNS server dịch từ tên miền sang địa chỉ IP ). Địa chỉ IP đại diện của ROUTER còn là địa chỉ IP ảo (Virtual IP - VIP)
• ROUTER sẽ gửi repquest i đến server để xử lý nên nó thực hiện thay dest IP trong i thành IP của server (10.10.10.20), source IP vẫn giữ nguyên (188.1.1.10). Thao tác này gọi là Destination NAT ( dịch chuyển IP đích ).
• Nhờ có dest IP là IP của server nên request i sẽ được định tuyến tiếp đến server xử lý.
• Khi server trả lời, packet reply sẽ đi qua lại ROUTER. Tại đây packet được un-NAT, nghĩa là thay lại địa chỉ IP của server (lúc này trở thành source IP) bằng VIP của ROUTER.
Reverse NAT

Trong cơ chế của ROUTER, các server thật chỉ được cấp địa chỉ IP private (vì nhiều lý do, trong đó có sự hạn chế về số lượng IP public và tính bảo mật, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt cho server kết nối thẳng IP public), nghĩa là không thể đi ra Internet được. ROUTER được publish ra Internet để nhận request cho các server bên trong, nên nó thường có một, hoặc nhiều địa chỉ IP public để các client kết nối từ bên ngoài vào, và địa chỉ này cũng là VIP. Khi client muốn sử dụng dịch vụ của server bên trong, ROUTER thực hiện việc chuyển đổi địa chỉ dest IP từ public sang private để đến được server, đó là kiểu NAT ta xét ở trên. Trong trường hợp ngược lại, khi server bên trong muốn khởi tạo kết nối với bên ngoài Internet, ROUTER phải thực hiện việc chuyển địa chỉ source IP của packet đi ra từ private sang public để có thể lưu thông trên Internet. Do cách hoạt động như vậy nên kiểu NAT này còn được gọi là SourceNAT, hay NAT outbound.



Port-Address Translation (PAT)

Hai trường hợp trên ta đã xem xét hai kiểu thay đổi địa chỉ IP, trường hợp thứ ba này còn được gọi là “NAT port”, nghĩa là số port TCP/UDP ở trong packet sẽ bị thay đổi (ở đây ta không xét đến các protocol khác cũng có dùng port). PAT cũng là một phần tất yếu trong các chức năng chính của ROUTER. Cách hoạt động của nó cũng rất đơn giản: Khi ta liên kết (bind) port 80 của VIP trên ROUTER đến port 1000 trên server thật, load balancer sẽ thực hiện việc chuyển đổi và đẩy toàn bộ yêu cầu port 80 (dest port) đến port 1000 trên server.

Những lợi ích khi ta thực hiện PAT:

- Bảo mật là ích lợi đầu tiên mà ta thấy ngay. Bằng cách không mở những cổng mặc định trên server, ta có thể gây khó khăn hơn cho việc tấn công ác ý. Chẳng hạn, ta có thể chạy một Web server trên port 4000, và liên kết port 80 của VIP trên ROUTER đến port 4000 của server thật. Lúc bấy giờ, kẻ tấn công không thể khai thác trực tiếp lên port 80 của server thật được, vì nó không được mở.
- Khả năng co dãn (scalability) PAT cho phép ta chạy cùng một ứng dụng trên nhiều port. Tùy theo cách thiết kế ứng dụng, có thể việc chạy nhiều bản sao của nó sẽ làm tăng hiệu suất phục vụ lên. Chẳng hạn ta có thể chạy máy chủ web IIS trên các port 80, 81, 82 của mỗi server thật. Sau đó chỉ cần liên kết port 80 của VIP với mỗi port chạy IIS của server thật. Load balancer sẽ phân bổ lưu thông không chỉ cho các server mà còn giữa các port trên từng server.
- Khả năng quản trị (manageability) chẳng hạn khi host nhiều website trên một bộ các server thật, ta có thể chỉ cần dùng một VIP để đại diện cho tất cả các domain của các website. Lúc này ROUTER sẽ nhận tất cả các request đến port 80 ở cùng một VIP. Web server của ta có thể chạy mỗi domain trên một port khác nhau, chẳng hạn www.abc.com trên port 81, www.xyz.com trên port 82. ROUTER có thể gửi lưu thông đến port phù hợp dựa trên domain trong URL của mỗi HTTP request.


Full NAT

Như vậy ta đã xét kỹ thuật NAT thay đổi lần lượt địa chỉ đích, địa chỉ nguồn, rồi thay đổi port khi định tuyến. Mỗi sự thay đổi là một loại hình NAT có ứng dụng trong từng trường hợp riêng. Kết hợp các kiểu thay đổi này lại, ta có một kiểu NAT khác phức tạp hơn là Full NAT. Kiểu NAT này có tên gọi như vậy vì nó bao gồm các thay đổi sau đây trên gói tin request:
• Địa chỉ IP nguồn (source IP)
• Địa chỉ IP đích (dest IP)
• Port nguồn (source port)
Lưu ý source port ở đây là port của client, còn dest port là port được request trên server, chẳng hạn port 80 ở ví dụ trên.

Kiểu NAT này khác với những kiểu NAT trên ở chỗ, packet từ server reply có thể bỏ qua ROUTER mà đi thẳng đến client ở ngoài Internet. Vấn đề ở chỗ địa chỉ IP của server vẫn là private IP, do đó đương nhiên packet reply mang địa chỉ source là IP nội bộ sẽ chẳng bao giờ đến được client.

Vậy thì bằng cách nào để buộc server phải trả lời thông qua ROUTER để được NAT địa chỉ IP đi ra Internet? Cách đơn giản nhất là ta có thể khai báo cho ROUTER là default gateway của các server. Nhưng cách này yêu cầu ROUTER phải ở cùng subnet với các server (cùng Layer 2 broadcast domain). Nếu không thể nằm cùng subnet thì sao? Đây là chỗ Full NAT khác biệt

FULL NAT được sử dụng.

Khi được thiết lập để thực hiện Full NAT, ROUTER sẽ thay source IP của tất cả các request packet bằng một địa chỉ được khai báo trên ROUTER, xem như là source IP, rồi thay dest IP (lúc này đang là VIP) thành IP của server (10.10.10.20), trước khi gửi đến server . Source IP này có thể giống hoặc khác VIP, tùy vào từng sản phẩm ROUTER. Như vậy tương tự như proxy, lúc này server thật sẽ xem ROUTER như là client yêu cầu mình, và không quan tâm đến client thực sự nữa. Vì thế server sẽ reply lại cho ROUTER và ROUTER sẽ đổi lại dest IP thành IP của client thực sự (188.1.1.100) để gửi đi.

Như vậy source port được thay đổi ở chỗ nào? Mỗi lần thay đổi một source IP của client thành source IP của ROUTER, gọi là một session, thì ROUTER thực hiện lưu lại những thông tin của client trong session đó bằng cách đổi source port trong cùng packet (lúc này đang là source port của client).

Source port lúc này có ý nghĩa như là một session ID không hơn không kém. Khi server reply về cho ROUTER, source port cũng được gửi trả về theo packet reply. Dựa vào source port này, ROUTER xác định được session của client trong bảng lưu để thay lại source IP, source port của client như cũ.

Ưu điểm của kiểu NAT này là cho phép bạn thực hiện việc thay đổi địa chỉ thông qua ROUTER trên mọi topology mạng. Nhược điểm là không lấy được các thông tin về IP, port từ phía client. Những ứng dụng như Web có sử dụng thông tin từ source IP của client thì không nên dùng mô hình này. Đa số các sản phẩm ROUTER đều cung cấp chức năng log và report source IP của các request.

Enhanced NAT

Những kỹ thuật NAT vừa trình bày ở trên đều xoay quanh việc thay đổi địa chỉ IP, cũng như port trong packet header. Tuy nhiên có những protocol đặc biệt chứa thông tin địa chỉ hay port nhúng trong packet payload, cũng cần phải được thay đổi cùng với packet header.

Điều này đòi hỏi ROUTER phải hiểu biết theo từng protocol cụ thể. Khái niệm enhanced NAT nói đến kiểu NAT phức tạp được thực hiện với những hiểu biết theo từng protocol cụ thể để làm cho những protocol đó hoạt động được với việc định tuyến gói tin.

Trong số các protocol đặc biệt đó, thông dụng nhất là các protocol streaming media (ví dụ RTSP - Real Time Streaming Protocol). Đây cũng là các protocol sử dụng cân bằng tải phổ biến nhất, vì chúng cực kì ngốn tài nguyên mạng và tính toán khi phải phục vụ đồng thời cho hàng trăm đến hàng ngàn người sử dụng.

Các protocol streaming thường gồm có hai kết nối, một kết nối điều khiển xây dựng trên TCP và một kết nối dữ liệu dựa trên UDP. Để khởi đầu, client khởi tạo một kênh điều khiển đến một well-known port trên server. Client và server sẽ thoả thuận các điều khoản cho kênh điều khiển. Sự thoả thuận gồm có IP của server và số port của server mà client sẽ gửi dữ liệu đến trên kết nối dữ liệu.

Nếu các server có địa chỉ IP private, ROUTER sẽ thực hiện Destination NAT cho kết nối điều khiển. Nhưng đồng thời ROUTER cũng phải xem các thông tin thoả thuận và thay đổi mọi thông tin về địa chỉ IP hay port mà server và client trao đổi sao cho client sẽ gửi dữ liệu đến VIP public chứ không phải IP private của server (những thông tin này nằm trong payload của packet).

Hơn nữa, dest port được chọn trong quá trình thoả thuận lại không biết trước được nên phải xử lý request ngay cả khi port chưa được liên kết đến bất kỳ server nào.

Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp lại có những chính sách bảo mật trên tường lửa làm cho những kết nối dữ liệu trên nền tảng UDP có thể không thành công. Do đó nhiều hệ thống streaming media cho phép stream trên nền HTTP, nghĩa là toàn bộ dòng dữ liệu sẽ được gửi đi bằng kết nối được thiết lập bởi giao tiếp HTTP. Điều này làm cho việc NAT trở nên nhẹ nhàng hơn.

Direct Server Return (DSR)

Xét lại 2 kiểu NAT trên, ta xem hai cách xử lý cùng với các ưu nhược điểm của chúng là gán default gateway hay dùng kỹ thuật Full NAT để ép các reply của server không phải đi qua ROUTER.

Nhưng trường hợp ta muốn server trả lời trực tiếp cho client mà không thông qua ROUTER thì sao? Đây không phải là câu hỏi vô lý, vì trong trường hợp năng lực xử lý của ROUTER bị giới hạn, thì việc tách dòng lưu thông reply đi trực tiếp mà không qua ROUTER sẽ giúp ROUTER tập trung vào xử lý các lưu thông request hiệu quả hơn, tránh tắc nghẽn, nâng cao hiệu suất.

Nhưng với địa chỉ IP private, các server làm sao trả lời trực tiếp qua Internet đến client được? Chỉ với một chút phù phép xoay quanh các địa chỉ IP là vấn đề sẽ được giải quyết: khi được thiết lập để thực hiện DSR, ROUTER không chuyển dest IP thành IP của server mà vẫn giữ nguyên là VIP (public IP). ROUTER chỉ đổi dest MAC thành MAC của server để packet có thể đến được server. Như vậy giới hạn của DSR là ROUTER và các server phải nằm cùng subnet.

Vấn đề còn lại là làm sao để khi server nhận request packet từ ROUTER chuyển đến sẽ không từ chối, vì dest IP không phải là IP của server, mà là VIP! Một cách đơn giản, ta cấu hình để VIP là địa chỉ của loopback interface trên mỗi server. ROUTER dùng cách này vì lợi dụng những tính chất thú vị sau đây của loopback interface:

• Có thể gán bất kỳ địa chỉ IP nào, không bắt buộc phải bắt đầu bằng 127.
• Vì loopback interface không phải là một thiết bị thật, nó không có địa chỉ MAC, nên hệ thống sẽ không trả lời cho các request ARP. Do đó sẽ không có hệ thống bên ngoài nào biết được địa chỉ IP của loop back interface. Tuy nhiên, hệ thống vẫn nhận request đến IP của loop back interface và trả lời như là các interface khác.
Ta có thể thiết lập một địa chỉ IP public cho loop back interface trên Linux như sau:
ifconfig lo 141.149.65.3 netmask 255.255.255.0 up.
Như vậy, bằng một chút thủ thuật với các địa chỉ, server thật không cần địa chỉ IP public vẫn có thể nhận request và trả lời trực tiếp cho client.

DSR rất hữu ích cho những ứng dụng tốn băng thông như FTP, streaming media, khi mà kích thước packet reply là rất lớn so với kích thước packet request. Kỹ thuật này cũng được ứng dụng cho những protocol đòi hỏi phức tạp khi thực hiện NAT hay không được ROUTER hỗ trợ.

Chẳng hạn những giao thức streaming media như trong phần Enhanced NAT có đề cập, thì ta có thể dùng DSR thay vì NAT. Người ta cũng cân nhắc DSR khi triển khai trên mô hình mạng, khi mà lưu thông reply từ server không đảm bảo là sẽ đi đúng đích.

Kết luận

NAT trong ROUTER rất đa dạng, tùy thuộc vào từng tình huống mà ta áp dụng. Càng đi sâu, ta càng thấy cái hay trong việc xử lý thông tin của các packet, những đối tượng luận lý để giải quyết các vấn đề vật lý thú vị như thế nào. Nắm vững các kỹ thuật NAT giúp ta có thể triển khai các hệ thống định tuyến, cân bằng tải một cách an toàn và hiệu quả nhất

Kỹ thuật định tuyến tĩnh (static route)

Bài viết trước đã review một cách tổng quan về các giao thức định tuyến được đề cập tới trong chương trình CCNA. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng nhau review lại kỹ thuật định tuyến tĩnh (static route) của học phần ICND – 1 của chương trình CCNA.
Như chúng ta đã biết, router thực hiện việc định tuyến dựa vào một công cụ gọi là bảng định tuyến (routing table). Nguyên tắc là mọi gói tin IP khi đi đến router sẽ đều được tra bảng định tuyến, nếu đích đến của gói tin thuộc về một entry có trong bảng định tuyến thì gói tin sẽ được chuyển đi tiếp, nếu không, gói tin sẽ bị loại bỏ. Bảng định tuyến trên router thể hiện ra rằng router biết được hiện nay có những subnet nào đang tồn tại trên mạng mà nó tham gia và muốn đến được những subnet ấy thì phải đi theo đường nào.
Để hiểu rõ vấn đề, ta cùng xem xét ví dụ 1:

[Hình: So%252520do%252520vi%252520du%2525201.JPG]
Hình 1 – Sơ đồ ví dụ 1.

Trên hình 1 là hai router đại diện cho hai chi nhánh khác nhau của một doanh nghiệp : R1 cho chi nhánh 1 và R2 cho chi nhánh 2. R1 sử dụng cổng f0/0 của nó đấu xuống mạng LAN của chi nhánh 1, mạng này sử dụng subnet 192.168.1.0/24. Tương tự, R2 sử dụng cổng f0/0 của nó đấu xuống mạng LAN của chi nhánh 2, mạng này sử dụng subnet 192.168.2.0/24. Subnet sử dụng cho kết nối leased – line nối giữa hai chi nhánh (qua các cổng serial của hai router) là 192.168.12.0/30.
Mặc định ban đầu, khi ta chưa cấu hình định tuyến trên các router R1 và R2 thì hai mạng LAN của hai chi nhánh R1 và R2 chưa thể đi đến nhau được (tức là, nếu lấy một PC trong LAN 1, chẳng hạn như PC1 ping thử đến một PC trong LAN 2, ví dụ PC4, ping sẽ không thành công). Lý do của điều này là các router R1 và R2 chưa có thông tin về các mạng LAN của nhau trong bảng định tuyến do đó không thể chuyển gói tin đi đến các mạng LAN này. Ta kiểm tra bằng cách hiển thị bảng định tuyến trên các router R1 và R2. Câu lệnh để hiển thị bảng định tuyến trên router là ‘show ip route’ :

Bảng định tuyến của R1:

R1#show ip route
(đã bỏ bớt một số dòng)
Gateway of last resort is not set
192.168.12.0/30 is subnetted, 1 subnets
C 192.168.12.0 is directly connected, Serial2/0
C 192.168.1.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0

Bảng định tuyến của R2:

R2#show ip route
(đã bỏ bớt một số dòng)
Gateway of last resort is not set
192.168.12.0/30 is subnetted, 1 subnets
C 192.168.12.0 is directly connected, Serial2/0
C 192.168.2.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0

Từ kết quả hiển thị, ta thấy rằng mỗi router ban đầu chỉ học được thông tin về những subnet kết nối trực tiếp với nó. Ví dụ: router R1 biết rằng có mạng 192.168.12.0/30 kết nối trực tiếp vào cổng serial 2/0 và mạng 192.168.1.0/24 kết nối trực tiếp vào cổng fast ethernet 0/0 của nó. Các router hoàn toàn không có thông tin gì về các subnet ở xa, không kết nối trực tiếp với mình. Do đó, giả sử PC1 muốn ping PC4, nó sẽ đóng gói một gói tin IP ICMP với địa chỉ nguồn là 192.168.1.1 và đích đến là 192.168.2.2. Khi gói tin này đi lên đến router R1, R1 tra bảng định tuyến thấy rằng đích đến 192.168.2.2 không thuộc về bất kỳ subnet nào mà R1 có trong bảng định tuyến nên nó drop bỏ gói tin này.
Vậy để hai mạng 192.168.1.0/24 và 192.168.2.0/24 có thể đi đến nhau được, các router phải điền được thông tin về hai mạng này vào trong bảng định tuyến của mình. Có hai cách thức để thực hiện điều đó: một là người quản trị tự điền tay các thông tin – định tuyến tĩnh, hai là các router tự trao đổi thông tin định tuyến với nhau và tự điền các thông tin còn thiếu vào bảng định tuyến của mình – định tuyến động. Ở đây ta khảo sát cách thực hiện là định tuyến tĩnh.
Việc cấu hình định tuyến tĩnh trên router Cisco được thực hiện bằng cách sử dụng lệnh có cú pháp như sau:

Router(config)#ip route destination_subnet subnetmask {IP_next_hop | output_interface} [AD]

Trong đó:

destination_subnet: mạng đích đến.
subnetmask: subnet – mask của mạng đích.
IP_next_hop: địa chỉ IP của trạm kế tiếp trên đường đi.
output_interface: cổng ra trên router.
AD: chỉ số AD của route khai báo, sử dụng trong trường hợp có cấu hình dự phòng.

Cụ thể trong ví dụ này:
Từ R1 muốn đi đến mạng 192.168.2.0/24 , ta phải đi ra khỏi cổng s2/0. Để thể hiện điều đó vào bảng định tuyến, ta thực hiện cấu hình:
R1(config)#ip route 192.168.2.0 255.255.255.0 s2/0

Tương tự, Từ R2 muốn đi đến mạng 192.168.1.0/24 , ta phải đi ra khỏi cổng s2/0. Cấu hình:
R2(config)#ip route 192.168.1.0 255.255.255.0 s2/0

Sau khi đã cấu hình xong các route cho các mạng 192.168.1.0/24 và 192.168.2.0/24, ta thực hiện kiểm tra bằng cách hiển thị bảng định tuyến trên mỗi router:
Bảng định tuyến của R1:

R1#show ip route
(đã bỏ bớt một số dòng)
Gateway of last resort is not set
192.168.12.0/30 is subnetted, 1 subnets
C 192.168.12.0 is directly connected, Serial2/0
C 192.168.1.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0
S 192.168.2.0/24 is directly connected, Serial2/0

Bảng định tuyến của R2:
R2#show ip route
(đã bỏ bớt một số dòng)
Gateway of last resort is not set
192.168.12.0/30 is subnetted, 1 subnets
C 192.168.12.0 is directly connected, Serial2/0
S 192.168.1.0/24 is directly connected, Serial2/0
C 192.168.2.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0

Ta thấy rằng các thông tin còn thiếu trước đây đã xuất hiện trên bảng định tuyến của các router R1 và R2. Các entry mới điền thêm này được ký hiện bởi kí tự “S” ở đầu dòng thể hiện rằng các thông tin định tuyến này được học vào bảng định tuyến thông qua định tuyến tĩnh ( ta cũng để ý rằng các dòng mô tả các mạng kết nối trực tiếp được ký hiệu bởi kí tự “C” – connected – kết nối trực tiếp).
Khi các PC đã chỉ default – gateway đầy đủ lên các cổng đấu nối của các router, ping kiểm tra giữa các PC thuộc hai mạng LAN sẽ thành công:
[Hình: PC1%252520ping%252520PC4.JPG]
Hình 2 – Ping kiểm tra giữa PC1 và PC4 từ PC1.

Bên cạnh việc chỉ đường bằng cổng ra (output interface), ta cũng có thể chỉ đường trong câu lệnh bằng địa chỉ IP next – hop, đây chính là địa chỉ IP của trạm kế tiếp trên đường đi đến mạng đích.

Trên R1:
R1(config)#ip route 192.168.2.0 255.255.255.0 192.168.12.2
Trên R2:
R2(config)#ip route 192.168.1.0 255.255.255.0 192.168.12.1

Như ta đã thấy trên hình 1, từ R1 muốn đi đến mạng 192.168.2.0/24 thì phải đi qua trạm kế tiếp là R2 có địa chỉ IP là 192.168.12.2 và từ R2 muốn đi đến mạng 192.168.1.0/24 thì phải đi qua trạm kế tiếp là R1 có địa chỉ IP là 192.168.12.1.
Hai kiểu cấu hình này có tác dụng như nhau, điểm khác biệt là route static được khai báo theo kiểu output – interface sẽ có AD = 0 còn route static được khai báo theo kiểu IP next – hop sẽ có AD = 1. Ngoài ra nếu cổng ra là một cổng multi – access thì ta nên sử dụng kiểu khai báo IP next – hop (vấn đề này sẽ được đề cập và giải thích chi tiết trong một bài viết khác).

Ví dụ trên đây đã mô tả một cách cơ bản nhất cách khai báo static route trên các router. Tiếp theo, ta cùng khảo sát một ví dụ khác phức tạp hơn, sơ đồ lần này sẽ có 03 router.

[Hình: 15.JPG]
Hình 3 – Sơ đồ ví dụ 2.

Yêu cầu đặt ra là cấu hình định tuyến tĩnh trên các router đảm bảo cho mọi địa chỉ trên sơ đồ thấy nhau.
Tương tự như ví dụ 1, trên mỗi router ta sẽ thực hiện điền thông tin về các subnet không kết nối trực tiếp vào bảng định tuyến của mỗi router sử dụng câu lệnh câu hình static route:

Trên R1:
R1(config)#ip route 192.168.2.0 255.255.255.0 s2/0
R1(config)#ip route 192.168.23.0 255.255.255.0 s2/0
R1(config)#ip route 192.168.3.0 255.255.255.0 s2/0


Trên R2:
R2(config)#ip route 192.168.1.0 255.255.255.0 s2/0
R2(config)#ip route 192.168.3.0 255.255.255.0 s2/1


Trên R3:
R1(config)#ip route 192.168.1.0 255.255.255.0 s2/1
R1(config)#ip route 192.168.12.0 255.255.255.0 s2/1
R1(config)#ip route 192.168.2.0 255.255.255.0 s2/1


Lưu ý rằng chúng ta phải điền đầy đủ thông tin định tuyến trên tất cả các router, vì nếu như chỉ cần một router nào đó trên đường đi của gói tin bị thiếu route, gói tin sẽ bị drop giữa đường. Chẳng hạn, giả sử ta quên cấu hình chỉ đường đi đến mạng 192.168.3.0/24 trên R2. Gói tin xuất phát từ mạng 192.168.1.0/24 đi đến mạng 192.168.3.0/24 khi đi đến R1 sẽ được chuyển tiếp qua cổng s2/0 để đi tiếp (vì điều này đã được chỉ ra trong cấu hình định tuyến tĩnh của R1), tuy nhiên khi đi đến R2 nó sẽ bị drop bỏ vì R2 thiếu thông tin của mạng 192.168.3.0/24.
Ta cùng xem xét tiếp ví dụ thứ 3 về cấu hình đường dự phòng trong đó có sử dụng đến tham số AD trong câu lệnh cấu hình.

[Hình: 16.JPG]
Hình 4 – Sơ đồ ví dụ 3.

Lần này yêu cầu đặt ra như sau: cấu hình định tuyến tĩnh đảm bảo R1 đi đến LAN 2 của R2 theo đường đi ra cổng s2/0 là chính, đường s2/1 là dự phòng, ngược lại, R2 lại đi đến LAN 1 của R1 theo đường đi ra cổng s2/1 là chính, đường s2/0 là dự phòng. Có nghĩa là, R1 khi chuyển gói tin đi LAN 2 của R2 luôn sử dụng cổng ra là s2/0, khi cổng s2/0 này down thì tự động chuyển đường qua s2/1, khi cổng s2/0 up lại, lại chuyển về sử dụng cổng s2/0. Tương tự với R2.
Để thực hiện yêu cầu này, chúng ta sử dụng tham số AD trong câu lệnh cấu hình định tuyến tĩnh. Như đã nói, static route có thể có hai chỉ số AD là 0 (khi cấu hình chỉ cổng ra) và 1 (khi cấu hình chỉ next – hop). Ta có thể thay đổi các giá trị mặc định này để phục vụ cho việc cấu hình dự phòng.
Nhắc lại rằng AD dùng để so sánh độ ưu tiên giữa các route. Khi tồn tại nhiều đường đi đến cùng một đích đến, đường đi nào có chỉ số AD nhỏ hơn, đường đi đó sẽ được đưa vào bảng định tuyến để sử dụng, những đường còn lại có AD cao hơn sẽ được dùng để dự phòng cho đường chính thức. Do đó ta chỉ việc chọn AD nhỏ hơn (ví dụ là 5) cho đường chính và chọn AD lớn hơn (ví dụ là 10) cho đường phụ.

Cấu hình trên R1:
R1(config)#ip route 192.168.2.0 255.255.255.0 Serial2/0 5
R1(config)#ip route 192.168.2.0 255.255.255.0 Serial2/1 10


Cấu hình trên R2:
R2(config)#ip route 192.168.1.0 255.255.255.0 Serial2/1 5
R2(config)#ip route 192.168.1.0 255.255.255.0 Serial2/0 10


Ta thực hiện kiểm tra kết quả cấu hình trên R1:
Đầu tiên, ta hiển thị bảng định tuyến để xem đường nào đã được đưa vào bảng:

R1#show ip route
(đã bỏ bớt một số dòng)
192.168.12.0/30 is subnetted, 1 subnets
C 192.168.12.0 is directly connected, Serial2/0
192.168.21.0/30 is subnetted, 1 subnets
C 192.168.21.0 is directly connected, Serial2/1
C 192.168.1.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0
S 192.168.2.0/24 is directly connected, Serial2/0

Ta thấy đường được đưa vào bảng định tuyến để sử dụng có cổng ra là s2/0 đúng như yêu cầu.
Tiếp theo ta thử tính dự phòng bằng cách shutdown cổng s2/0 của R1:

R1(config)#interface s2/0
R1(config-if)#shutdown
R1(config-if)#
*Mar 1 00:15:48.971: %LINK-5-CHANGED: Interface Serial2/0, changed state to administratively down
*Mar 1 00:15:49.971: %LINEPROTO-5-UPDOWN: Line protocol on Interface Serial2/0, changed state to down


Đường chính đã không còn, ta hiển thị lại bảng định tuyến để chắc chắn rằng đường phụ (đi ra cổng s2/1) đã được đưa vào bảng định tuyến:

R1#show ip route
(đã bỏ bớt một số dòng)
192.168.12.0/30 is subnetted, 1 subnets
C 192.168.12.0 is directly connected, Serial2/0
192.168.21.0/30 is subnetted, 1 subnets
C 192.168.21.0 is directly connected, Serial2/1
C 192.168.1.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0
S 192.168.2.0/24 is directly connected, Serial2/1

Ta thực hiện mở lại cổng s2/0 và kiểm tra rằng đường đi qua cổng này lại được đưa lại vào bảng định tuyến để sử dụng:

R1(config)#interface s2/0
R1(config-if)#no shutdown
R1(config-if)#
*Mar 1 00:19:36.767: %LINK-3-UPDOWN: Interface Serial2/0, changed state to up
R1(config-if)#
*Mar 1 00:19:37.775: %LINEPROTO-5-UPDOWN: Line protocol on Interface Serial2/0, changed state to up


R1#show ip route
(đã bỏ bớt một số dòng)
192.168.12.0/30 is subnetted, 1 subnets
C 192.168.12.0 is directly connected, Serial2/0
192.168.21.0/30 is subnetted, 1 subnets
C 192.168.21.0 is directly connected, Serial2/1
C 192.168.1.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0
S 192.168.2.0/24 is directly connected, Serial2/0
R1#

Thực hiện kiểm tra tương tự trên R2.

Nhìn chung, định tuyến tĩnh có ưu điểm là khá dễ hiểu và cũng dễ cấu hình. Thêm nữa, định tuyến tĩnh còn có một ưu điểm khác là không gây hao tốn tài nguyên mạng do không có sự trao đổi thông tin định tuyến giữa các router. Tuy nhiên nhược điểm của định tuyến tĩnh là hoàn toàn không thích hợp với những mạng có quy mô lớn (ta không thể cấu hình tay khai báo các route khi số lượng lên đến hàng trăm được!) và không hội tụ với mọi sự thay đổi trên sơ đồ mạng khi mà cổng ra vẫn ở trạng thái up/up. Để khắc phục các nhược điểm này, chúng ta phải sử dụng định tuyến động bằng cách chạy một giao thức định tuyến nào đó. Các giao thức định tuyến cụ thể trong chương trình CCNA sẽ được review trong các bài viết tiếp theo.

VoIP

VoIP (viết tắt của Voice over Internet Protocol, nghĩa là Truyền giọng nói trên giao thức IP) là công nghệ truyền tiếng nói của con người (thoại) qua mạng thông tin sử dụng bộ giao thức TCP/IP. Nó sử dụng các gói dữ liệu IP (trên mạng LAN, WAN, Internet) với thông tin được truyền tải là mã hoá của âm thanh.
Công nghệ này bản chất là dựa trên chuyển mạch gói, nhằm thay thế công nghệ truyền thoại cũ dùng chuyển mạch kênh. Nó nén (ghép) nhiều kênh thoại trên một đường truyền tín hiệu, và những tín hiệu này được truyền qua mạng Internet, vì thế có thể giảm giá thành.
Để thực hiện việc này, điện thoại IP, thường được tích hợp sẵn các nghi thức báo hiệu chuẩn như SIP hay H.323, kết nối tới một tổng đài IP (IP PBX) của doanh nghiệp hay của nhà cung cấp dịch vụ. Điện thoại IP có thể là điện thoại thông thường (chỉ khác là thay vì nối với mạng điện thoại qua đường dây giao tiếp RJ11 thì điện thoại IP nối trực tiếp vào mạng LAN qua cáp Ethernet, giao tiếp RJ45) hoặc phần mềm thoại (soft-phone) cài trên máy tính.

VoIP tại Việt Nam

Các dịch vụ như gọi 171 (VNPT), 177 (SPT), 178 (Viettel), 175 (VISHIPEL) ở Việt Nam đều là các dịch vụ sử dụng phương thức này. Tuy nhiên VoIP cũng có những nhược điểm của nó. Đó là chất lượng âm thanh chưa được đảm bảo, vẫn còn tình trạng trễ tiếng. Một số công ty cung cấp VoIP tại Việt Nam đã cố gắng cung cấp cho khách hàng chất lượng thoại VoIP ngày càng tốt hơn.
Ngày 29/09/2010 Công ty Điện toán và Truyền số liệu VDC – Thành viên của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đã tổ chức buổi lễ khai trương dịch vụ thẻ gọi điện thoại trong nước, quốc tế mới với tính năng roaming tại nước ngoài – Fone1718.
Dịch vụ đáp ứng được nhiều tiện ích tối đa cho người dùng với nhiều tính năng vượt trội mà từ trước đến nay chưa từng có tại Việt Nam.
Các giao thức dùng trong VoIP: sip, mgcp, h323.
Giao thức H323 không chỉ được dùng trong truyền tiếng nói mà còn được dùng để truyền video trên nền mạng IP (giải pháp video conference)

Avaya VoIP Phone 4625

1140E VoIP Phone

1535 Video over IP Phone

Phần mềm ứng dụng VoIP

Ứng dụng VoIP sử dụng trên máy tính cá nhân đầu tiên được phát triển năm 1995 bởi một công ty của Israel có tên là VocalTel. Ứng dụng VoIP đầu tiên này nói chung còn gặp phải nhiều vấn đề như: trễ lớn , chất lượng thoại còn thấp và không tương thích với các mạng ngoài. Mặc dù vậy, sự ra đời của nó cũng là một bước đột phá quan trọng. Kể từ đó đến nay, cùng với sự phát triển của công nghệ cáp quang với các đường truyền băng rộng công nghệ VoIP có nhiều thuận lợi để phát triển trở thành phương thức thoại tốt, chi phí thấp hơn rất nhiều so với phương thức thoại truyền thống.

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by NewWpThemes | Blogger Theme by Lasantha - Premium Blogger Themes | New Blogger Themes